MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Các phương thức tiếp cận và định nghĩa về Thương hiệu

Thực tế cho thấy, một thương hiệu mạnh và hiệu quả sẽ làm gia tăng sự nhận biết, lòng trung thành của khách hàng, doanh số bán hàng, ‘giữ chân’ nhân viên, và ngay cả giá trị cổ phiếu công ty.

Tuy nhiên, nhận biết về thương hiệu đến mức độ nào và chuyển nhận biết đó trong những hành động hàng ngày là một vấn đề rất phức tạp. Một thương hiệu hiệu quả và tồn tại lâu dài không phải xây lên từ một sự tình cờ, mà nó có thể là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất đối với các công ty ngày nay. Do đó, thương hiệu cần được tiếp cận một cách công phu và tinh vi. Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. HOÀNG THÚY YẾN

Sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là một việc mới mẻ. Kết quả hồi quy sử dụng dữ liệu mảng của 64 tỉnh từ năm 1999-2003, cho thấy bất bình đẳng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Giải pháp gì nhằm giải quyết hữu hiệu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế, đó là nội dung chính của bài viết dưới đây.

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế, song nghiên cứu này tập trung chủ yếu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu mảng nhằm làm tăng độ chính xác và bộ số liệu cập nhật theo thời gian nhằm khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước. Hơn nữa, nghiên cứu này có thể được xem là một nghiên cứu thực chứng nhằm góp phần tìm ra các tác động bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế. Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: CHẬM CHUYỂN KHOẢN THI HÀNH ÁN

TRÙNG KHÁNH

Gần một tháng kể từ khi có quyết định khấu trừ của cơ quan thi hành án, Ban bồi thường quận 2 vẫn chưa chuyển tiền. Theo bản án phúc thẩm năm 2008 của TAND TP.HCM, vợ chồng bà N. (quận 10, TP.HCM) phải trả cho bà H. gần 1,5 tỷ đồng. Ngoài ra, bà N. còn phải trả riêng cho bà H. 50 triệu đồng. Sau khi nhận đủ tiền, bà H. sẽ đưa lại cho vợ chồng bà N. giấy đỏ thửa đất tại Đồng Nai mà bà đang cất giữ.

Tháng 9-2008, Thi hành án dân sự quận 10 ra quyết định thi hành án. Đến quá hạn quy định nhưng vợ chồng bà N. chỉ trả được một phần tiền, còn thiếu 574 triệu đồng. Qua xác minh, Thi hành án dân sự quận 10 biết được tháng 4-2009, vợ chồng bà N. sẽ được nhận hơn một tỷ đồng tiền bồi thường đất tại phường An Lợi Đông (quận 2).

Phía bà N. cũng đồng ý sẽ tiếp tục thi hành án ngay sau khi nhận được tiền bồi thường. Kẹt nỗi khi đến hạn nhận khoản tiền này thì bà N. lại không được ngân hàng thanh toán. Theo Ban bồi thường giải phóng mặt bằng (BTGPMB) quận 2, do có đơn ngăn chặn của người đã hùn vốn làm ăn với bà N. nên đơn vị này phải tạm ngưng việc chi trả tiền. Ban BTGPMB quận hứa sẽ xem xét đơn ngăn chặn trên, nếu thấy không có căn cứ thì sẽ tiếp tục chi trả cho bà N. Nhưng sau một thời gian chờ đợi, bà N. vẫn không thấy đơn vị này chi trả tiền.

Thi hành án dân sự quận 10 đã làm việc với Ban BTGPMB quận 2. Ngày 23-4, Thi hành án dân sự quận 10 đã ra quyết định trừ vào tiền của vợ chồng bà N. đang do người thứ ba nắm giữ. Theo đó, Ban BTGPMB quận 2 có trách nhiệm khấu trừ 574 triệu đồng của bà N. trong số tiền bồi thường và chuyển vào tài khoản của Thi hành án dân sự quận 10. Continue reading

BẢO HIỂM XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA

PGS.TS. NGÔ QUANG MINH – Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

Một số vấn đề về an sinh xă hội

Mô h́nh An sinh xă hội (ASXH) đầu tiên ra đời cách đây khoảng 200 năm ở châu Âu với nhiều nỗ lực của Nhà nước Phổ nhằm khắc phục những bất b́nh đẳng trong thu nhập, điều hoà rủi ro, tạo điều kiện cho nhóm dân cư nghèo được thụ hưởng những điều kiện tối thiểu. ASXH xuất phát từ trách nhiệm của Nhà nước trước những nhóm dân cư, cộng đồng người bị rủi ro, thiệt tḥi v́ một lư do nào đó. Hơn nữa, cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, t́nh trạng phân hoá giàu nghèo ngày càng tăng đă thúc đẩy lĩnh vực ASXH phát triển.

Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: “ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đ́nh và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập”. Trên cơ sở đó, để cho hộ gia đ́nh và cộng đồng dễ bị tổn thương có thể hạn chế và làm giảm các tác động tiêu cực bằng nhiều biện pháp công cộng khác nhau.

Ngân hàng Phát triển châu á (ADB) quan niệm: “ASXH là một hệ thống chính sách công nhằm giảm nhẹ tác động bất lợi của những biến động đối với các hộ gia đ́nh và cá nhân”. Định nghĩa này nhấn mạnh vào tính dễ bị tổn thương của con người nếu không có ASXH  . Đây là cách định nghĩa khác về ASXH có nội hàm đồng thuận với định nghĩa của WB đă nêu ở trên.

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): “ASXH là sự cung cấp phúc lợi cho các hộ gia đ́nh và cá nhân thông qua cơ chế của Nhà nước hoặc tập thể nhằm ngăn chặn sự suy giảm mức sống hoặc cải thiện mức sống thấp”. Định nghĩa này nhấn mạnh khía cạnh BHXH và mở rộng tạo việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Continue reading