CHÍNH QUYỀN VÀ DOANH NGHIỆP

TƯ GIANG

Vụ trưởng vụ Pháp chế bộ Công thương Trương Quang Hoài Nam thỉnh thoảng lại phải “đối đầu” với năm người em, vốn là chủ các doanh nghiệp tư nhân nhỏ về cách mà ông và đồng nghiệp soạn thảo các văn bản pháp luật mà đối tượng là họ. Những người em ruột này, ông kể, cứ có dịp sum họp gia đình, lại cùng đứng về một phe đả kích anh trai: “chính sách của ngành công thương của anh cứ lung tung phèng lên, chả ra sao cả”.

Ông kể: “Các em tôi phê tôi lắm”. Nhưng khi ông hỏi ngược lại, sao các chú không góp ý, thì tất cả đều trả lời: “Thời gian đâu mà góp ý với anh”. Là các chủ doanh nghiệp nhỏ, các em ông đều làm tất cả mọi việc, từ quản lý, đàm phán hợp đồng, thủ quỹ, và kể cả bán hàng, tức là rất bận. Về phần mình, với vị trí là quan chức chủ chốt chắp bút cho nhiều chính sách liên quan đến doanh nghiệp ở một bộ kinh tế lớn nhất và ảnh hưởng nhất Việt Nam, bản thân ông Nam cũng rất bận rộn. Ông Nam và các em đều hiểu tình thế của nhau, nhưng những cuộc tranh luận kiểu như vậy vẫn luôn kéo dài khi họ có cơ hội gặp mặt gia đình.

Câu chuyện của ông Nam là một ví dụ rất điển hình về việc thiếu hợp tác giữa các cơ quan nhà nước, và cộng đồng doanh nghiệp trong việc xây dựng các văn bản pháp luật kinh doanh. Nhiều cơ quan nhà nước ban hành các chính sách liên quan đến vận mệnh của hàng ngàn, thậm chí hàng chục ngàn doanh nghiệp mà không hề hỏi ý kiến của họ. Về phần mình, nhiều doanh nghiệp lại không có ý thức tham gia phản biện lại các chính sách đó trong quá trình soạn thảo. Kết cục là, trong không ít trường hợp, văn bản pháp luật đã không giữ được tinh thần chính của nó khi đi vào cuộc sống, ảnh hưởng đến cả Nhà nước và doanh nghiệp.

Mối quan hệ nhân quả của tình trạng này cũng gần với tình trạng “con gà và quả trứng”. Nhưng dù sao, người thiệt nhất vẫn là cộng đồng doanh nghiệp: họ không biết đến những văn bản mà họ là đối tượng áp dụng. Một khảo sát của viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) công bố đầu năm nay cho thấy, tới 80 – 90% trong gần 2.500 doanh nghiệp được hỏi không hiểu biết gì về các luật đầu tư, bảo hiểm, hải quan, hợp tác xã, môi trường, đất đai,… một tỷ lệ rất cao. Viện trưởng CIEM Đinh Văn Ân nhận xét: “Hiểu biết của doanh nghiệp về các luật và quy định của Nhà nước là rất khiêm tốn. Đáng lo là hiểu biết đó đang mất dần đi theo thời gian”.

Nhưng doanh nghiệp làm sao góp ý cho hết khi Nhà nước ban hành quá nhiều các văn bản pháp luật, mà theo thống kê của ông Trần Hữu Huỳnh, trưởng ban Pháp chế phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), tổng cộng lên tới gần 20.000. Chỉ riêng các văn bản liên quan đến các hoạt động kinh doanh có điều kiện cũng đã có tới khoảng 400. Giơ tay cao hết cỡ lên trên, ông nói: “Các văn bản đó chồng lên nhau đã cao quá đầu một ông doanh nghiệp. Thế thì làm sao họ có thời gian để đọc mà góp ý”.

Trong khi đó, vụ trưởng vụ Pháp luật văn phòng Chính phủ Phạm Tuấn Khải lại đổ lỗi cho doanh nghiệp: “Thái độ của các doanh nghiệp với các văn bản pháp luật là như thế nào? Họ cần thông tin từ Nhà nước, nhưng lại chưa cởi mở với với Nhà nước vì một số làm ăn chưa minh bạch và công khai. Họ sợ các chính sách”. Tuy vậy, ông Khải khẳng định tinh thần chung của Chính phủ là chính sách phải tạo điều kiện cho cộng đồng doanh nghiệp.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: ÁN CHỐNG ÁN, THI HÀNH RA SAO?

NGUYỄN XUÂN ĐÔNG

Sau quá trình thi hành án kéo dài 2 năm, đến lúc cưỡng chế thì Tòa án huyện ra quyết định đưa toàn bộ số tài sản đã kê biên này cho người khác mà không “đếm xỉa” gì đến bản án trước đó của Tòa án tỉnh và quá trình thi hành án vất vả 2 năm qua. Nợ vốn tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng khó ai có thể chấp nhận rủi ro có nguyên nhân từ việc hành xử tắc trách của cơ quan pháp luật.

Nợ không dễ đòi!

Bà Nguyễn Thị Đào và chồng Lê Văn Khánh nguyên là chủ tịch xãđăk Rung, huyệnđăk Song, tỉnh đăk Nông (trước đây là tỉnh đăk Lak) nhận tiền ứng mua 120 tấn cà phêcho DN Xuân Dung do bà Lê Thị Dung trú tại phường Tân Lập, TP Buôn Ma Thuột làm chủ nhưng không trả. Bà Dung kiện bàĐào ra toà. Ngày 2/7/2002, TAND tỉnh đăk Lak có quyết định số 09/QĐHGT công nhận sự thoả thuận của đương sự buộc bà Đào có trách nhiệm trả số cà phê nhân xô R 5% còn thiếu là 120,812 tấn cho bà Dung với thời hạn cụ thể: ngày 30/7/2002 trả 10 tấn; 30/12/2002 – 30 tấn; 30/3/2003 – 30 tấn; 30/6/2003 – 20 tấn; 30/12/2003 – 20 tấn; 30/3/2004 – 10,812 tấn. Tuy nhiên, trong suốt quá trình thực hiện quyết định trên từ tháng 7/2002 đến tháng 2/2004,Phòng Thi hành án (THA) tỉnh đăk Lak chỉ thi hành được 10 tấn cà phê bằng biện pháp giao tài sản là chiếc xe tải nhãn hiệu KIA để khấu trừ.Ngày 04/2/2004, Phòng THA tỉnh đăk Lak ra quyết định uỷ thác THA dân sự, uỷ thác cho Đội THA huyện đăk Song (lúc này đã thuộc tỉnh đăk Nông) tiếp tục THA đối với bà Đào trên số 110,812 tấn cà phê còn lại. Theo chức trách,ngày 01/3/2004, Đội THA huyện đăk Song ra quyết định THA số 36/THA và gởi Giấy báo tự nguyện THA đến đương sự. Bà Đào tiếp tục chây ỳ nên ngày 12/4/2004,Đội THA huyện đăk Song ra quyết định cưỡng chế THA số04/THA.Sau 2 năm dài truân chuyên bản án tưởng đã đến hồi kết, đâu ngờ lại tiếp tục hành trình mới với nhiều diễn biếnbất ngờ và phức tạp.

Một quyết định kỳ lạ

Ngay sau khi ra quyết định cưỡng chế, ngày 13/4/2004,Đội THA huyện đăk Song đã có buổi làm việc cuối cùng với bà Đào và chồng là ông Lê Văn Khánh. Vợ chồng bà Đào ra điều kiện:"chỉtự nguyện giao lô rẫy cà phê và tiêu hơn 4 hecta cho bà Dung để cấn trừ với điều kiện bà Dung xoá sổcoi như xong hết nợ".Trong khi tổng giá trị tài sản cả rẫy và nhà khi kê biên chỉ có 331 triệu đồng (số tròn)không đủ trả khoản nợgiá trị trên tỷ đồng vì vậy bà Dung không chịu. Hôm sau, ngày 14/4/2004, Hội đồng kê biên tiến hành kê biên tài sản vợ chồng bà Đào và ra thông báo gửãiUBND xã DakRung niêm yết công khai để thông báo cho những ai có quyền và lợi ích liên quan đến số tài sản kê biên trong vòng 3 tháng (từ 14/4/04 – 14/7/04) có quyền khởi kiện ra Toà theo thủ tục tố tụng dân sự. Ngay sau đó, TAND huyện đăk Song nhận đơn kiện "đòi tài sản trong hợp đồng mua bán giữa nguyên đơn là ông Đặng Văn Liễu, trú tại 117 Lê Thị Hồng Gấm, TP Buôn Ma Thuột và bị đơn là vợ chồng bà Đào, ông Khánh. Trong Công văn số 18/CVTA, ngày 27/4/2004, do thẩm phán Nguyễn Hồng Chương ký,yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền khôngký hợp đông chuyển nhượng, thế chấp; không kê biên tài sản và quyền sử dụng đất đối với hai lô đất trên. Sau khi nhận công văn trên, ngày 04/5/2004, Đội THA huyện đăk Song đã có công văn phúc đáp thông báo với TAND huyện đăk Song về việc đã kê biên tài sản của vợ chồng bà Đào trước đó theo quyết định của TAND tỉnh đăk Lak. Tuy nhiên ngày 15/6/2004, ông Nguyễn Hồng Chương – Thẩm phán Toà án huyện đăk Song ký quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 05/QĐTA,trong đó công nhận việc vợ chồng bà Đào đồng ý giao toàn bộ tài sản hiện còn lạicho ông Đặng Văn Liễu như hợp đồng thế chấp đã ký kết (gồm toàn bộ tài sản mà Đội THA đã kê biên để THA cho bà Dung). Quyết định này có giá trị như bản án, được ghi là "có hiệu lực thực hiện ngay"!?.

Continue reading

CÔNG VĂN SỐ 1461/LĐTBXH – VL VỀ VIỆC THỰC HIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP NGÀY 6 THÁNG 5 NĂM 2009 CỦA BỘ LAO ĐỘNG, THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

Kính gửi: Bảo hiểm xã hội Việt Nam

Trả lời công văn số 581/BHXH-BT ngày 12 tháng 3 năm 2009 của quý Cơ quan về việc ghi ở trích yếu, sau khi có ý kiến của Bộ Tài chính tại công văn số 5998/BTC-HCSN ngày 24 tháng 4 năm 2009, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến như sau:

1. Trường hợp người lao động là viên chức nhưng không giao kết hợp đồng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước: Theo quy định tại Điều 15 và Điều 52 Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước thì tất cả viên chức (kể cả người được bổ nhiệm chức vụ đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu) được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước đều phải thực hiện theo hình thức hợp đồng làm việc. Do vậy, theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 2 Nghị định số 127/2008/NĐ-CP ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm thất nghiệp, những người được tuyển dụng vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp của nhà nước trước ngày Nghị định số 116/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các đơn vị sự nghiệp của nhà nước thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

2. Trường hợp người lao động nghỉ việc do sinh con hoặc nuôi con nuôi hoặc nghỉ việc do ốm đau từ 15 ngày trở lên không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị: Theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội thì mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp dựa trên cơ sở tiền lương, tiền công của người lao động. Do đó, nếu người lao động nghỉ việc hưởng chế độ ốm đau, thai sản từ 14 ngày trở lên, không hưởng tiền lương, tiền công tháng tại đơn vị mà hưởng chế độ do cơ quan bảo hiểm xã hội chi trả thì người sử dụng lao động và người lao động không phải đóng bảo hiểm thất nghiệp và thời gian không đóng bảo hiểm thất nghiệp thì không được tính để hưởng bảo hiểm thất nghiệp khi mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động.

3. Trường hợp người lao động luân chuyển giữa các chi nhánh có đủ pháp nhân thuộc công ty mẹ thì theo quy định tại Điều 3 Nghị định 127/2008/NĐ-CP và điểm 1.1 khoản 1 mục III Thông tư số 04/2009/TT-BLĐTBXH ngày 22 tháng 01 năm 2009 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, thì người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp nếu công ty mẹ thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định.

4. Về việc quy đổi tiền lương có gốc ngoại tệ để đóng bảo hiểm thất nghiệp: Để thuận lợi cho việc thực hiện bảo hiểm thất nghiệp thì được áp dụng thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 7 mục D Thông tư số 03/2007/TT-BLĐTBXH ngày 30 tháng 01 năm 2007 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Continue reading

QUẢN TRỊ THƯƠNG HIỆU – TỪ MỘT ĐẾN MỘT CHÙM TIA LASER

LÊ CHÍ CÔNG – Giám đốc Nemo Consulting

Một khi thương hiệu ghi được dấu ấn tích cực, sâu đậm trong tâm tưởng của khách hàng thì nó sở hữu một sức mạnh “xuyên phá” như một tia laser. Lúc này các nhà quản trị thương hiệu thường nghĩ đến việc tận dụng “hào quang” của tia laser ban đầu để tạo ra tia thứ hai, thứ ba rồi dần mở rộng thành chùm tia laser.

Bài viết này đề cập một số điểm chính liên quan đến các hoạt động giãn nở của thương hiệu.

Hãy làm quen với các khái niệm: mở rộng dòng sản phẩm, tạo thương hiệu phụ, mở rộng thương hiệu và mở rộng danh mục thương hiệu. Mở rộng dòng sản phẩm là việc sử dụng cùng một tên thương hiệu cho các sản phẩm mới trong cùng ngành hàng, ví dụ như Vinamilk tung ra Vinamik sữa tươi rồi Vinamik sữa chua.

Tạo thương hiệu phụ là việc đặt một cái tên cho sản phẩm mới có sự bảo trợ hay hỗ trợ từ thương hiệu gốc, ví dụ như sữa Dielac của Vinamilk. Kế đến, mở rộng thương hiệu là việc tận dụng một  thương hiệu đã có danh tiếng cho một dòng sản phẩm mới, chẳng hạn như mì ăn liền Vifon mở rộng sang các loại sản phẩm gia vị Vifon.

Và sau cùng, mở rộng danh mục thương hiệu là việc tạo ra một tên thương hiệu mới ngoài thương hiệu hiện hữu, như việc ra đời của thương hiệu Lexus tách biệt khỏi các dòng xe thuộc Toyota. Các hoạt động giãn nở này của thương hiệu thường nhắm đến mục tiêu như đa dạng hóa dòng sản phẩm, mở rộng nhóm khách hàng, gia tăng doanh số và thị phần…

Mở rộng thương hiệu: cần có “điểm tựa”

Cần để ý rằng sản phẩm làm đa dạng hóa trong khi thương hiệu lại giúp đơn giản hóa sự chọn lựa của khách hàng. Thương hiệu đóng vai trò là “chiếc cầu nối” giữa khách hàng với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

“Chiếc cầu nối” này được hình thành từ những liên tưởng – cho dễ hiểu, tạm gọi là “điểm tựa” trong nhận thức của khách hàng, được tạo ra một cách có chủ định trong suốt quá trình hoạt động.

“Điểm tựa” này giúp khách hàng nhớ, quen rồi tin, từ đó hình thành nên một khuôn mẫu trong nhận thức của họ đối với một cái tên thương hiệu. Lấy ví dụ, loại xe Jeep nổi tiếng với “điểm tựa” chính là “xe chạy trên mọi địa hình” đã mở rộng sang sản phẩm xe nôi của em bé, hẳn các bà mẹ nghĩ rằng “xe nôi Jeep cũng mạnh mẽ và bền chắc” và cho là hợp logic.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG: GỬI NGÂN HÀNG 3,9 TỶ, CÒN GẦN 1 TỶ?

CÔNG QUANG

Cho rằng giao dịch của Ngân hàng Thương mại CP Sài Gòn Thương tín có nhiều “mập mờ” gây thiệt hại cho mình, ông Phan Văn Tuyết (ngụ số 97 đường Cách Mạng Tháng Tám, phường Chánh Nghĩa, thị xã Thủ Dầu Một) vừa có đơn phản ánh gửi đến Dân trí.

Theo đơn, từ cuối năm 2007 đến tháng 6/2008, ông Tuyết đã nhiều lần tới phòng giao dịch Thủ Dầu Một (Ngân hàng Thương mại CP Sài gòn Thương tín – Sacombank) gửi tiền tiết kiệm và thực hiện giao dịch rút tiền.

Trong quá trình giao dịch, ông Tuyết được 2 cán bộ của ngân hàng là Phan Khánh Tường và Trần Thị Minh Hằng hướng dẫn các thủ tục.

Mỗi lần gửi tiền vào ngân hàng, ông Tuyết đều được cấp 1 mã số tài khoản tiền gửi và sổ tiết kiệm khác nhau. Tính đến ngày 19/3/2008, ông Tuyết đã thực hiện 13 lần gửi tiết kiệm với số tiền hơn 5,7 tỷ đồng.

Tiếp đó, ông Tuyết đã vay của ngân hàng 2.300 lượng vàng tại 2 hợp đồng tín dụng ngày 19/11/2007 và hợp đồng ngày 4/1/2008. Cả 2 hợp đồng vay vàng này được thế chấp bằng các sổ tiết kiệm đã gửi tại ngân hàng.

Ngày 9/6/2008, ông Tuyết đến ngân hàng để làm thủ tục thanh quyết toán các khoản nợ và chốt số tiền gửi còn lại gửi ở ngân hàng. Tại đây, ông Tuyết đã đưa cho chị Phan Khánh Tường toàn bộ số sổ tiết kiệm để kiểm tra và làm thủ tục tất toán các khoản vay.

Sau khi làm xong, chị Tường đưa cho ông Tuyết 1 phiếu nộp tiền có đóng dấu đỏ của ngân hàng với thông báo số tiền còn lại của ông Tuyết tính đến ngày 9/6/2008 là 3,9 tỷ đồng.

Từ ngày 11 đến ngày 20/6/2008, ông Tuyết ủy quyền cho vợ mình để rút 200 triệu đồng. Số tiền tiết kiệm còn lại là 3,7 tỷ.

Thế nhưng, ngày 25/6/2008, ông Tuyết mang giấy thông báo tiền là 3,9 tỷ mà chị Tường đã giao cho ông trước đó đến ngân hàng để rút tiền thì được một nhân viên thông báo giấy báo này không có giá trị và số tiền thực không phải như vậy.

Ông Tuyết còn tá hoả khi được ngân hàng thông báo, ông còn có thêm 2 hợp đồng vay của ngân hàng là 1.000 chỉ vàng. Ông Tuyết khẳng định 2 hợp đồng tín dụng số 1076 ngày 24/1/2008 và hợp đồng số 1082 ngày 26/1/2008 với số vàng vay là 1.000 chỉ, là hợp đồng giả mạo.

Ngày 7/10/2008, Giám đốc Ngân hàng Sài gòn Thương tín – chi nhánh Thủ Dầu Một Bình Dương – Phạm Thanh Kỳ đã gửi thông báo số dư trong tài khoản của ông Tuyết là 2,550 tỷ đồng.

Continue reading