NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN SỞ HỮU CỔ PHIẾU, TRÁI PHIẾU

TS. LÊ THỊ THU THỦY – Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội

Trong nền kinh tế hiện nay, sự hiện diện của thị trường chứng khoán (TTCK) là một quy luật tất yếu khách quan. TTCK ra đời với hàng hoá giao dịch đặc trưng của nó là chứng khoán chính là kênh dẫn vốn vô cùng hiệu quả cho các doanh nghiệp, tạo sự luân chuyển nguồn vốn nhịp nhàng giữa người thừa vốn và người thiếu vốn trong nền kinh tế. Tuy nhiên, TTCK là nơi biểu hiện tập trung rõ nét nhất các quy luật của nền kinh tế thị trường. Nếu không có những quy định đặc thù, những “luật chơi” riêng, những biện pháp bảo vệ nhà đầu tư, những người sở hữu chứng khoán thì thị trường này cũng không thể phát huy được hết vai trò to lớn của nó.

Ngược lại, những mặt trái của thị trường sẽ bị bộc lộ và để lại hậu quả khôn lường, dẫn đến một loạt những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật nảy sinh, xâm phạm đến quyền và lợi ích của mọi chủ thể trong xã hội. Để thị trường phát huy được những mặt tích cực của nó, việc bảo đảm được quyền sở hữu chứng khoán, đặc biệt là cổ phiếu, trái phiếu – những hàng hoá phổ biến hiện nay trên TTCK của tổ chức, cá nhân là điều hết sức cần thiết. Bài viết trình bày những vấn đề cơ bản liên quan đến quyền sở hữu cổ phiếu, trái phiếu, các biện pháp bảo vệ quyền này.

1. Đặc điểm của cổ phiếu, trái phiếu

Có thể nói, quyền sở hữu cổ phiếu, trái phiếu (chứng khoán) có những điểm đặc thù so với quyền sở hữu các loại tài sản khác, bởi lẽ, chứng khoán là những hàng hoá đặc thù của TTCK, là một loại quyền tài sản (theo Điều 181 Bộ Luật Dân sự), là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành, được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử (Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán). Trong đó, cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành; trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành. Người sở hữu cổ phiếu là cổ đông và là chủ sở hữu công ty cổ phần, còn người sở hữu trái phiếu là chủ nợ của tổ chức phát hành. Những người này được gọi là nhà đầu tư chứng khoán khi họ tham gia các giao dịch mua, bán, chuyển nhượng chứng khoán trên TTCK.

Chứng khoán có 3 đặc tính cơ bản là tính rủi ro, tính thanh khoản và tính sinh lợi. Tính rủi ro của chứng khoán được lý giải bởi nguyên nhân giá trị của chứng khoán có thể thay đổi do kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức phát hành, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tâm lý của nhà đầu tư khi tiếp cận và phân tích thông tin không chính xác. Vì vậy, khi sở hữu chứng khoán của tổ chức phát hành nào đó thì rủi ro đã được chuyển từ tổ chức phát hành sang người sở hữu chứng khoán (đặc biệt đối với cổ phiếu). Tính thanh khoản của chứng khoán giúp cho người sở hữu thực hiện được các quyền năng của mình (quyền định đoạt) thông qua việc chuyển chứng khoán thành tiền mặt hoặc tặng, cho, thừa kế. Tính sinh lợi của chứng khoán cho phép người sở hữu nó có thể nhận được những khoản lợi nhuận nhất định. Nhờ có đặc tính này mà chứng khoán, đặc biệt là cổ phiếu rất hấp dẫn nhà đầu tư. Họ tìm kiếm lãi vốn thông qua việc bán phần sở hữu của mình với giá cao hơn lúc mua khi có sự tăng trưởng về giá trị của doanh nghiệp phát hành hoặc họ tìm kiếm cổ tức khi doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận để phân phối cho các chủ sở hữu. Những đặc thù trên của chứng khoánsẽ là cơ sở để tiếp cận nội dung quyền sở hữu chứng khoán.

Continue reading

NHỮNG QUAN ĐIỂM XUNG QUANH VẤN ĐỀ LÃI SUẤT CƠ BẢN

TRẦN ĐÀO

Bộ Chính trị và Chính phủ chủ trương trong những tháng cuối năm 2008 tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng linh hoạt trong điều hành để vừa góp phần kiềm chế lạm phát, vừa thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh. Đó là một nhiệm vụ rất nặng nề, đòi hỏi phải có sự điều hành thật khéo léo mới có thể thực hiện được. Ngân hàng Nhà nước vừa có hai quyết định để thực hiện chủ trương và nhiệm vụ trên- đó là Quyết định 1906/2008/QĐ-NHNN về giữ nguyên lãi suất cơ bản và Quyết định số 1907/2008/QĐ-NHNN về tăng lãi suất dự trữ bắt buộc. Vậy tinh thần “tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát” và “ linh hoạt trong điều hành để thúc đẩy đầu tư sản xuất, kinh doanh” đã được thể hiện trong hai quyết định này như thế nào?

Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát được thể hiện trong quyết định thứ nhất, đó là giữ nguyên lãi suất cơ bản đã được thực hiện từ 11/6- 14%/năm.

Trong các cuộc hội thảo và trên các phương tiện thông tin đại chúng gần đây xuất hiện hai quan điểm gần như trái ngược nhau về lãi suất cơ bản.

Một quan điểm là Ngân hàng Nhà nước cần hạ lãi suất cơ bản xuống dưới 14%/năm- ít thì cũng xuống 13,5%/năm, nhiều thì trở về mức 12%/năm, để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay và hạ lãi suất huy động. Lý giải đề xuất này, quan điểm trên đã đưa ra một số nguyên nhân. Có nguyên nhân do lạm phát đã được kiềm chế, khi tốc độ tăng giá tiêu dùng đã chậm lại. Tháng 7 giá tiêu dùng chỉ còn tăng 1,13%- thấp hơn mức lãi suất huy động của các ngân hàng thương mại hiện nay. Tháng 8, tổ Điều hành thương mại trong nước dự báo giá tiêu dùng sẽ tăng 1,8- 2,0%, nhiều chuyên gia còn dự báo sẽ tăng cao hơn, nhưng thực tế chỉ tăng 1,56%- bằng với mức lãi suất huy động kỳ hạn năm cao nhất của ngân hàng thương mại cổ phần. Nhiều chuyên gia đã dự báo, do nông nghiệp được mùa lớn nhất hiện nay, do giá lương thực và một số mặt hàng quan trọng khác trên thị trường thế giới bắt đầu có xu hướng giảm, do nhu cầu đầu tư và tiêu dùng không còn cao như cùng kỳ các năm trước, do các giải pháp kiềm chế lạm phát phát huy tác dụng…, nên lạm phát trong 4 tháng còn lại sẽ không vượt quá 1%/tháng, tức là thấp hơn mức lãi suất hiện nay của các ngân hàng thương mại. Có nguyên nhân do với mức lãi suất cơ bản hiện hành, thì lãi suất cho vay lên đến 21%/ năm. Với mức lãi suất vay cao như thế này, những doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh thông thường sẽ không thể có lãi; chỉ có những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực nóng mới dám vay, nhưng những lĩnh vực này lại có nhiều rủi ro, kéo các ngân hàng thương mại bị rủi ro theo. Khi các khách hàng của các ngân hàng thương mại không có vốn hoặc không có lãi, thậm chí bị thua lỗ, thì sản xuất kinh doanh sẽ bị thu hẹp, thậm chí một số doanh nghiệp bị phá sản, người lao động sẽ không có hoặc thiếu công ăn việc làm, tăng trưởng kinh tế sẽ bị suy giảm…

Như vậy, theo quan điểm trên, hạ lãi suất cơ bản để trên cơ sở đó hạ lãi suất cho vay để hỗ trợ cho đầu tư sản xuất, kinh doanh. Muốn hạ lãi suất cho vay thì hạ lãi suất huy động, nhưng hạ lãi suất huy động, thì lãi suất huy động sẽ tiếp tục bị thực âm, mà lãi suất bị thực âm thì sẽ dẫn đến 4 hiệu ứng.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: BĂN KHOĂN TỪ MỘT VỤ HỦY ÁN

LÂM PHƯƠNG ĐÔNG

Trong hoạt động xét xử của Tòa án, việc cấp phúc thẩm tuyên hủy hoặc cải sửa bản án sơ thẩm là việc khá bình thường khi phát hiện quá trình xét xử cấp sơ thẩm có sai sót về trình tự, thủ tục, thẩm quyền, để lọt tội phạm, không đưa người có quyền và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng hoặc có sai phạm khác mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được.

Đây là việc làm rất cần thiết, được pháp luật quy định, nhằm mục đích làm cho bản án của Tòa án thể hiện sự công minh, chính xác… Cũng thông qua thủ tục đó, Hội đồng xét xử của cấp dưới tổ chức kiểm điểm rút kinh nghiệm, xử lý mọi hành vi vi phạm của cá nhân, góp phần nâng cao trách nhiệm, năng lực, kinh nghiệm xét xử cho thẩm phán, hội thẩm nhân dân.

Tuy nhiên, thực tế có không ít trường hợp việc hủy án, cải sửa bản án đã trở thành đề tài tranh luận đối với người trong cuộc; Ngay cả các chuyên gia trong lĩnh vực xét xử dân sự cũng tỏ thái độ không đồng tình. Trường hợp hủy án sau, dư luận địa phương đang tranh luận và hoài nghi là một ví dụ.

Ngày 21.8.2007, TAND thị xã Tân An, Long An thụ lý và đưa ra giải quyết vụ án dân sự “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” giữa nguyên đơn: bà Trần Thị Điện-sinh năm 1955, địa chỉ số 60/7 đường Mậu Thân, Phường An Hòa, Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ. Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền là bà Trần Thị Thững, địa chỉ 06/89-Khu phố Quyết Thắng 2, Phường Khánh Hậu, thị xã Tân An, Long An. Bị đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN và PTNT) Long An. Chi nhánh Khu vực II do ông Nguyễn Văn Dậu- Giám đốc là người đại diện hợp pháp. Nội dung vụ kiện được tóm tắt như sau:

Bà Võ Thị Xuyên được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất, sau khi chia một phần cho các con bà Xuyên có nhờ con ruột là chị Trần Thị Điện đứng tên gửi tiền vào Ngân hàng NN và PTNT Long An số tiền 1.200.000.000 đồng vào ngày 5.10.2005 với thỏa thuận lãi suất 0,63%/tháng, thời gian cho vay là 3 tháng.

Theo trình bày của đại diện nguyên đơn thì sau khi bà Điện gởi số tiền trên vào Ngân hàng đã giao sổ tiết kiệm cho bà Xuyên quản lý, sau đó bị bà Điệp cũng là con ruột bà Xuyên lấy cắp và bỏ nhà ra đi. Bà Điện có làm đơn trình bày nguyên cớ mất và xin rút tiền trên thì Ngân hàng không đồng ý; Bà Thửng đại diện theo ủy quyền cho bà Điện tại phiên tòa yêu cầu Ngân hàng NN và PTNT Long An hoàn trả số tiền gốc 1.200.000.000 đồng và tiền lãi suất theo thỏa thuận.

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN: XUNG QUANH VỤ KIỆN “CHIA TÀI SẢN SAU LY HÔN” Ở KIÊN GIANG, TANDTC RA QUYẾT ĐỊNH KHÁNG NGHỊ

THIÊN LONG

Bản án có vấn đề

Năm 1987, anh Hồ Văn Phước (SN 1962) kết hôn với chị Trần Thị Tuyết Sương (SN 1966). Năm 2000, 2 vợ chồng có một con chung tên là Hồ Phước Thắng. Năm 2001, hai vợ chồng vay mượn rất nhiều tiền để mua một nhà máy xay lúa cũ với giá 70 triệu đồng và sắm sửa nhiều tài sản. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Phước đã bỏ nhà ra đi trong một thời gian dài, sau đó lại về nhà. Đến tháng 10.2004 thì vợ chồng chính thức ly thân. Trong thời gian anh Phước bỏ đi sống ở bên ngoài với người khác (lời chị Sương kể), chị Sương, một mình tần tảo kinh doanh để trả khoản nợ chung của vợ chồng trên dưới 250 triệu đồng. Đến khi mẹ con chị Sương ăn nên làm ra, mua sắm nhiều tài sản có giá trị cũng là lúc anh Phước trở về nhà yêu cầu ly hôn và chia tài sản.

Quá trình xét xử, TAND tỉnh Kiên Giang xác định, tổng giá trị tài sản chung của 2 vợ chồng là 1.015.000.000 đồng, bao gồm: nhà máy xay lúa trị giá: 400 triệu đồng; Nhà ở, nhà kho, nhà xe: 200 triệu đồng; Đất thổ cư: 195,6 m2: 120 triệu đồng; 6030 m2 đất ruộng: 80 triệu đồng; 30.001 m2: 150 triệu đồng; đất vườn 750 m2 (hai bên thoả thuận cho con nên không tính giá trị). Bản án số 27 ngày 28.9.2007 tuyên: anh Phước – chị Sương mỗi người được hưởng 482.500.000 đồng. Về tổng số tiền nợ của hai người là 255 triệu đồng, mỗi người phải có trách nhiệm trả một nửa; Buộc chị Sương thanh toán số nợ 230 triệu đồng cho chủ nợ Kim Lê (150 triệu đồng và Minh Hội: 80 triệu đồng).

TANDTC ra quyết định kháng nghị

Dường như thấy bản án dân sự phúc thẩm số 27/HNPT ngày 28.9.2007 của TAND tỉnh Kiến Giang có vấn đề, nên VKSND tỉnh Kiên Giang đã làm đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm bản án này gửi lên VKSNDTC. Theo đó, việc chia đôi giá trị tài sản cho anh Phước và chị Sương như TAND tỉnh Kiên Giang là không xem xét cụ thể đến công sức đóng góp của chị Sương trong việc nâng cấp, duy trì và phát triển khối tài sản chung của anh chị. TAND tỉnh Kiên Giang khi xét xử chỉ xác định tổng giá trị tài sản đã thoả thuận được để chia hai mà không xem xét quyền lợi chính đáng của chị Sương là chưa thoả đáng. Mặt khác, trong các khoản nợ được chị Sương khai thì có số nợ đất của ông Hội là 150 triệu đồng trước đây anh Phước chỉ thừa nhận 70 triệu đồng là nợ chung, còn 80 triệu đồng chị Sương tự trả. Do số nợ này chị Sương đã vay nợ chỗ khác khi mua đất, cho nên tại phiên toà phúc thẩm chính chủ toạ phiên toà đã động viên và anh Phước thống nhất số nợ 80 triệu đồng còn lại sẽ cùng có trách nhiệm trả. Nhưng bản án phúc thẩm khi tuyên chỉ chấp nhận 70 triệu đồng nợ ông Hội là của chung, còn 80 triệu đồng chị Sương phải trả. Trong khi bút ký phiên toà (bút lục số 556) số tiền 150 triệu đồng của ông Hội, anh Phước, chị Sương đồng ý mỗi bên trả 75 triệu đồng. Như vậy, theo VKSND tỉnh Kiên Giang, bản án phúc thẩm số 27 của TAND tỉnh Kiến Giang tuyên là hoàn toàn trái với diễn biến tại phiên toà ngày 28.9.2007.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: VỤ TRANH CHẤP QUYỀN TÁC GIẢ KỊCH BẢN BIỆT ĐỘNG SÀI GÒN, NGƯỜI KHỞI KIỆN YÊU CẦU ĐỀN BÙ HƠN 74 TỶ ĐỒNG, TÒA CHẤP NHẬN HƠN 9 TRIỆU

QUỲNH ANH

Sau 2 lần hoãn xử, sáng ngày 11/5/2009, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội đã mở phiên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án tranh chấp quyền tác giả kịch bản phim Biệt động Sài Gòn. Ở vị trí nguyên đơn, ông Nguyễn Thanh đã yêu cầu Hãng phim Truyện VN và nhà biên kịch Lê Phương phải trả cho ông 74 tỷ 480 triệu đồng tiền nhuận bút của bộ phim đã phát hành cách nay hơn 20 năm.

Đòi nhuận bút dựa theo sự biến động của giá vàng

Trong lịch sử ngành điện ảnh VN, đây có lẽ là vụ án hy hữu bởi mức tiền đòi đền bù liên tục gia tăng theo sự biến động của “giá vàng” ngoài thị trường. Sau hơn 20 năm, ông Nguyễn Thanh đã khởi kiện đơn vị sản xuất phim và tác giả kịch bản Lê Phương – người đã mời ông hợp tác viết kịch bản vì nghĩ rằng mình đã bị “thiệt thòi”.

Tại tòa, thẩm phán Nguyễn Văn Dũng đã hỏi ông Nguyễn Thanh về quan hệ của ông với tác giả Lê Phương; việc hợp tác viết kịch bản Biệt động Sài Gòn giữa hai người có hợp đồng không? Dựa vào căn cứ nào để xác định kịch bản phim Biệt động Sài Gòn chỉ có một tác giả duy nhất (ông Nguyễn Thanh – PV); Nếu đã nhận tiền nhuận bút ông Phương trả từ những năm 1982 – 1983, cảm thấy không thỏa mãn sao không có ý kiến phản đối? Nếu khẳng định mình là tác giả kịch bản duy nhất, tại sao không yêu cầu Hãng phim Truyện VN bỏ tên ông Lê Phương ngay khi bộ phim phát hành (năm 1987)…

Trả lời các câu hỏi trên, ông Nguyễn Thanh khẳng định, việc hợp tác giữa hai người không có hợp đồng; ông Thanh cũng đã nhận của ông Phương 3 lần tiền, trị giá là 1.200 đồng và số tiền này ông Phương nói là hỗ trợ sáng tác kịch bản gốc. Tuy có băn khoăn về giá trị thật của nhuận bút được trả nhưng ngày đó trong bối cảnh khó khăn chung của thời bao cấp, nhiều người viết vì đồng đội… không nghĩ đến lợi ích của cá nhân nên ông đã cho qua. Sau này, khi nghe NSND Hải Ninh nói bộ phim Biệt động Sài Gòn đã làm rạng danh Hãng phim Truyện VN, nuôi sống mấy trăm con người và thu về hàng nghìn tỷ đồng (?), đồng thời phát hiện kịch bản đã được in nhiều kỳ trên báo SGGP, và in thành sách do Hội Văn nghệ Long An và NXB Thanh Hóa ấn hành… nên ông đã quyết định đòi quyền lợi.

Để biết số tiền mình phải đòi là bao nhiêu ông đã nhờ Công ty Vàng bạc đá quý “quy đổi” tiền thành vàng, lãi trong 20 năm, cộng thêm sự biến động của giá vàng trong 2 năm qua, đã ra đáp số là 74 tỷ 480 triệu đồng. Nếu so với mức tiền đòi đền bù tại đơn kiện đầu tiên được gửi năm 2007 thì số tiền hiện tại gấp khoảng 12 lần.

Ý kiến của các bị đơn

Ở vị trí bị kiện, đại diện Hãng phim Truyện VN khẳng định không có trách nhiệm thanh toán bất kỳ số tiền nhuận bút nào đối với ông Nguyễn Thanh. Bởi, Hãng phim chỉ giao trách nhiệm viết kịch bản cho ông Lê Phương – thời điểm đó là biên kịch của Hãng và Hãng cũng đã thanh toán đầy đủ tiền nhuận bút cho tác giả kịch bản. Việc ông Phương mời ông Thanh hợp tác và chia nhuận bút ra sao là việc riêng của 2 người. Hiện tại, Hãng cũng không còn lưu giữ các giấy tờ liên quan đến việc chi trả nhuận bút kịch bản bộ phim này.

Cũng phản đối những cáo buộc của ông Nguyễn Thanh, ông Lê Phương đã đưa chứng cứ (có chữ ký của những người liên quan thuộc Hãng phim Truyện VN) xác định ông là người được Ban Giám đốc Hãng giao viết kịch bản và “tháp tùng” vào TP.HCM để liên hệ với Bộ Tư lệnh đọc Hồ sơ chiến lệ và gặp gỡ các nguyên mẫu tham gia các trận đánh của biệt động thành. Ông đã trình bày đề cương cốt truyện phim và các giải pháp triển khai với Ban Giám đốc Hãng phim. Sau khi quay ra Hà Nội, ông đã nhờ người – ông Đỗ Quảng tìm người hợp tác viết kịch bản, do ông không hiểu sâu lĩnh vực này. Ông Quảng đã đưa ông Phương đến gặp ông Thanh và ông Thanh đồng ý hợp tác. Kịch bản hoàn thành nhưng không đủ điều kiện dựng phim. Ông Phương đã viết lại, thêm thắt và 2 tập phim đầu tiên ra đời đứng tên 2 tác giả Lê Phương – Nguyễn Thanh. Continue reading

ĐỘI NGŨ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ Ở VIỆT NAM: PHÁT TRIỂN CHO TƯƠNG LAI

HƯƠNG GIANG

Nghề Luật sư (LS) ở Việt Nam đã trải qua hơn 64 năm phát triển. Nhưng phải đến thời kỳ đổi mới và hội nhập, nghề LS nói chung và đội ngũ LS nói riêng ở nước ta mới có những bước chuyển mình đầy triển vọng.

Số lượng tăng nhanh …

Cùng với sự phát triển của đất nước sau hơn 20 năm đổi mới, đội ngũ LS đã phát triển nhanh Hchóng về số lượng và chất lượng ngày càng được nâng cao. Trong gần 7 năm (2001-2008), số lượng LS đã tăng 250% so với trước khi Pháp lệnh LS 2001 có hiệu lực. Để làm được điều này thực sự không dễ dàng khi nhận thức của xã hội về nghề LS chưa tương xứng với tốc độ phát triển. Đó thực sự là kết quả từ những nỗ lực không ngừng của bản thân giới LS trong quá trình hoàn thiện kỹ năng, nghiệp vụ và xây dựng vị trí trên cơ sở uy tín, đạo đức nghề nghiệp.

Tuy nhiên, so với nhu cầu về dịch vụ pháp lý hiện nay và xu thế gia tăng nhanh của nhu cầu này trong những năm tới, thì số lượng LS ở nước ta còn chưa tương xứng. Nếu so sánh số lượng LS trên số dân với một số nước trong khu vực và trên thế giới thì thấy rõ tỉ lệ này ở nước ta còn quá thấp (tỷ lệ số LS trên dân số ở Việt Nam là 1/20.700, ở Singapore là 1/1.000, ở Mỹ là 1/250 v.v…). Thậm chí tỉnh Lai Châu chưa có đủ LS để thành lập Đoàn LS. Mặt khác, số lượng LS ở nước ta phát triển quá chênh lệch giữa khu vực thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi, trung du, hạn chế khả năng cung ứng dịch vụ pháp lý đáp ứng nhu cầu của nhân dân, ngay cả trong việc thực hiện bào chữa cho bị can, bị cáo mà luật định phải có sự tham gia của LS.

Với chất lượng ấn tượng

Từ xuất phát điểm đầy khó khăn, chất lượng đội ngũ LS ở nước ta vẫn không ngừng thay đổi diện mạo qua các giai đoạn phát triển. Số LS có trình độ tương đương đại học luật giảm đến nay chỉ còn 128 người (tương đương 3,05% tổng số LS). Ngày càng nhiều LS được đào tạo nghề tại Học viện Tư pháp – cơ sở duy nhất hiện nay được đào tạo nghề LS ở nước ta. Thời gian qua, hầu hết những LS trẻ được kết nạp vào các đoàn LS đều là những cử nhân luật và đã học qua lớp đào tạo nghề LS 6 tháng về lý thuyết và 18 tháng thực hành kỹ năng hành nghề, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp LS tại các tổ chức hành nghề LS.

Có nhiều người đã theo học các khoá đào tạo nghề LS ở nước ngoài, tập sự hành nghề trong các tổ chức hành nghề LS nước ngoài tại Việt Nam hoặc ở nước ngoài. Đã có những LS đủ trình độ tham gia, thực hiện những dịch vụ pháp lý lớn và phức tạp, đặc biệt đã có khoảng 10 tổ chức hành nghề LS chuyên sâu trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại có yếu tố nước ngoài, và cũng đã có 1,2% số LS có thể sử dụng tiếng Anh thành thạo trong hoạt động chuyên môn, tham gia thương lượng, đàm phán, tranh tụng.

Continue reading

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TOBY MENDEL – chuyên gia nghiên cứu về tiếp cận thông tin của Tổ chức Article 19

Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ và việc ban hành một đạo luật để thực thi quyền này một cách hiệu quả trên thực tế là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng rất nhiều nội dung của các đạo luật trong nước có những quy định tương đồng nhau như nguyên tắc bảo đảm tính công khai, nghĩa vụ đăng tải thông tin,… tuy nhiên các đạo luật của từng quốc gia cũng có những điểm khác biệt và đôi khi còn trái chiều nhau, đặc biệt về các quy định về khái niệm thông tin, phạm vi thẩm quyền, phạm vi miễn trừ hay các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, các cuộc khảo sát đó cũng đã tìm ra được những phương pháp tiếp cận đầy sáng tạo để đáp ứng với hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau.

Khái niệm quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ là cơ sở để thông qua luật về quyền tiếp cận thông tin và luật của hầu hết các nước đều quy định khá rõ về nguyên tắc này. Ví dụ như Luật của Mexico và Jamaica quy định quyền hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin nếu không rơi vào các trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó ở Thái Lan và Anh, quyền này tuy mang sắc thái thủ tục nhiều hơn, nhưng luật của hai nước này cũng quy định rằng bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu cung cấp thông tin và tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định về mặt thủ tục và nội dung, đều có thể có thông tin đó. Mặc dù trên thực tế khó chứng minh được sự khác nhau của cách định nghĩa này song phương pháp tiếp cận dựa vào quyền hơn là dựa vào nghĩa vụ càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục.
Một số luật – ví dụ như Luật của Nam Phi và Jamaica – quy định quyền tiếp cận các tài liệu văn bản hoặc hồ sơ trong khi hầu hết các nước thì quy định quyền tiếp cận thông tin. Một số ít nước khác, ví dụ như Uganda, quy định quyền tiếp cận cả tài liệu/hồ sơ và thông tin. Quy định quyền tiếp cận chỉ hạn chế ở tài liệu hoặc hồ sơ gây ra một số vướng mắc khi phần lớn những người yêu cầu cung cấp thông tin không biết rõ tên tài liệu cụ thể mà họ mong muốn. Vấn đề là khi công chức áp dụng cách hiểu quá cứng nhắc về quyền tiếp cận với các tài liệu để từ chối yêu cầu tiếp cận thay vì họ có thể trả lời về cơ bản. Trong khi đó, nếu người yêu cầu có thể xác định rõ tài liệu cụ thể, thì họ có thể tiếp cận được thông tin như mong muốn. Về việc này, cách tiếp cận của Uganda có một số điểm ưu việt.
Ở nhiều nước, luật quy định cả nguyên tắc điều chỉnh hoặc nêu rõ các mục tiêu hay chức năng của việc tiếp cận. Những vấn đề này sẽ rất hữu ích cho việc làm rõ các cơ sở của luật và có thể được coi là một công cụ giải thích, giúp cho việc làm rõ những điểm còn mơ hồ hoặc còn nhiều xung đột giữa một bên là yêu cầu phải công khai hoá và một bên là những lợi ích công cộng cần được bảo vệ. Trong luật của nhiều nước khác nhau, các nguyên tắc sau đây thường được quy định: ví dụ nguyên tắc thúc đẩy công khai minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và hoạt động hiệu quả của chính phủ, kiểm soát tham nhũng, khuyến khích sự tham gia của người dân vào quá trình quản lý nhà nước, tăng cường khả năng của công chúng giám sát hoạt động của các cơ quan công quyền, thúc đẩy văn hoá dân chủ và nhân quyền và thúc đẩy pháp quyền, cải thiện công tác quản lý hồ sơ tài liệu công, thiết lập sự hiểu biết chung và xây dựng một xã hội mà toàn thể công dân đều được thông tin.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG KHẤU HAO VÀ PHÂN LOẠI TÀI SẢN CỐ ĐỊNH HỮU HÌNH

THS. ĐỖ THỊ HỒNG HẠNH

Một doanh nghiệp muốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì phải có những tài sản nhất định. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Hiện nay toàn bộ tài sản trong doanh nghiệp được chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn.

Tài sản cố định là một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong quá trình sản xuất kinh doanh của các tổ chức và cá nhân. Tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh với vai trò là yếu tố cấu thành không thể thiếu trong giá trị sản phẩm, dịch vụ tạo ra, tài sản cố định phải được hạch toán, theo dõi phù hợp cả về mặt định lượng, cả về thông tin phục vụ cho việc quản lý và bảo toàn.

Trong phạm vi bài viết này xin đề cập ý kiến về vấn đề khi phân loại và khấu hao tài sản cố định hữu hình.

Thứ nhất: Khấu hao tài sản cố định hữu hình

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) số 03 quy định:

Tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) là tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp năm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH. Tài sản được ghi nhận là TSCĐHH phải thoả mãn đồng thời tất cả bốn tiêu chuẩn: Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách đáng tin cậy; Thời gian sử dụng ước tính trên một năm; Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành.

Trong quá trình sử dụng TSCĐHH được xác định theo nguyên giá, khấu hao lũy kế và giá trị còn lại:

Nguyên giá là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để có được TSCĐHH tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.

Khấu hao là sự phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐHH trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó.

Giá trị phải khấu hao là nguyên giá của TSCĐHH ghi trên báo cáo tài chính, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó.

Giá trị thanh lý là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu ích của tài sản, sau khi trừ (-) chi phí thanh lý ước tính.

Thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐHH do doanh nghiệp xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản, tuy nhiên do chính sách quản lý của tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng thực tế của nó. Vì vậy việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với các loại tài sản cùng loại.

Continue reading