MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỔI MỚI TƯ DUY ĐỔI VỚI CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI KỲ 2011- 2020

PGS. TS. NGÔ DOÃN VỊNH – PGS.TS. BÙI TẤT THẮNG

Việt Nam đã thực hiện hai chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội. Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội đầu tiên (1991- 2000) có chủ đề là “ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000”. Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội lần thứ hai (2001-2010) với chủ đề là “Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp”. Chủ đề của hai chiến lược nêu trên đã thể hiện những nhiệm vụ đặc thù của thời kỳ chiến lược, thể hiện tính nhất quán về đường lối của Đảng, khát vọng của nhân dân và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kế thừa và tiếp tục dựa trên cách tiếp cận này, nhiều ý kiến cho rằng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 10 năm sắp tới (2011- 2020) nên tiếp tục lấy là: “Xây dựng Việt Nam về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020”.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội được xây dựng cho thời kỳ 10 năm thời gian là không dài, nên không thể làm tất thảy mọi việc trong kỳ chiến lược, nhất là trong điều kiện kinh tế còn kém phát triển, nguồn lực bị hạn chế. Vì vậy, trong việc hoạch định đường lối chiến lược, nhất thiết phải lựa chọn các vấn đề lớn, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với phát triển để giải quyết trong phạm vi thời gian 10 năm mà chiến lược bao quát. Những vấn đề lớn đối với Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam thời kỳ 2011-2020 là:

Thứ nhất, tạo những “cú hích” mạnh (big push) làm xoay chuyển tình thế, thúc đẩy xu thế

Những “cú hích” nào có thể giúp nền kinh tế Việt Nam xoay chuyển tình thế lạc hậu, kém phát triển, năng suất thấp, tiến nhanh đến hiện đại hoá. Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nước CNH thành công trước đây là hình thành những ngành (lĩnh vực, sản phẩm) chủ lực hay mũi nhọn, gắn với hệ thống doanh nghiệp mạnh và những vùng lãnh thổ động lực. Như vậy, có thể coi việc hình thành những ngành kinh tế chủ lực và lãnh thổ động lực là những “cú hích” mạnh của chiến lược 10 năm phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020.

Continue reading

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ DÂN SỰ TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ

TRẦN THỊ HỒNG VIỆT – TAND thành phố HCM

Cơ sở pháp lý để thực hiện vấn đề này là Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 28 Bộ luật tố tụng hình sự quy định giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự như sau: Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự.

Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự. Đây là điều luật mới, được bổ sung vào Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.

Điều 42 Bộ luật hình sự quy định: Trả lại tài sản, sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại; buộc công khai xin lỗi.

1.Người phạm tội phải trả lại tài sản đã chiếm đoạt cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, phải sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại vật chất đã được xác định do hành vi phạm tội gây ra.

2.Trong trường hợp phạm tội gây thiệt hại về tinh thần , Tòa án buộc người phạm tội phải bồi thường về vật chất, công khai xin lỗi người bị hại.

Ngoài ra khi giải quyết vụ án hình sự có vấn đề bồi thường, Tòa án còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để quyết định.

Continue reading

TỪ NGÀY 1/7/2009: ÁN PHÍ HÔN NHÂN TĂNG GẤP 4 LẦN

LS. HUỲNH MINH VŨ (Đoàn Luật sư TP.HCM)

Từ ngày 1/7/2009, Pháp lệnh số 10/2009/PL-UBTVQH12 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án có hiệu lực thi hành. Đáng lưu ý là theo quy định mới, lệ phí, án phí bình quân tăng gấp bốn lần so với quy định cũ.

Xin giới thiệu những quy định mới về án phí, lệ phí trong các vụ, việc về HNGĐ.

* Những trường hợp được miễn nộp toàn bộ án phí, lệ phí:

– Người khởi kiện yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

– Cơ quan, tổ chức yêu cầu tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật.

* Những yêu cầu về HNGĐ (còn gọi là việc dân sự) thuộc diện phải nộp lệ phí, mức thu 200.000đ/việc bao gồm:

– Cá nhân yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.

– Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.

– Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

– Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn.

– Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi …

Continue reading

MỘT SAI SÓT GÂY RẮC RỐI

NGUYÊN TẤN

Phụ lục kèm theo Nghị quyết của Quốc hội phê chuẩn Nghị định gia nhập WTO của Việt Nam viện dẫn sai một số đoạn trong Báo cáo của Ban công tác đang gây không ít lúng túng cho việc thực thi các cam kết với WTO.

Lịch sử

Thẩm quyền của hội đồng thành viên (hay hội đồng quản trị), thủ tục bỏ phiếu và tỷ lệ số phiếu cần thiết để thông qua các quyết định cơ bản là những vấn đề tối quan trọng đối với bộ máy hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Vấn đề này đặc biệt càng được quan tâm bởi tính lịch sử của nó.

Trước đây, pháp luật về đầu tư nước ngoài của Việt Nam yêu cầu áp dụng nguyên tắc nhất trí trong các doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Tức là những quyết định quan trọng nhất của doanh nghiệp liên doanh phải được tất cả các thành viên của hội đồng quản trị nhất trí thông qua mới có giá trị pháp lý.

Đến năm 2005, quy định về việc áp dụng nguyên tắc nhất trí bị bãi bỏ bởi Luật Doanh nghiệp. Tuy nhiên, để ngăn ngừa khả năng cổ đông đa số chèn ép cổ đông thiểu số, ngoài quy định về thẩm quyền của hội đồng thành viên (hoặc hội đồng quản trị) và thể thức bỏ phiếu, luật này vẫn yêu cầu phải đảm bảo một tỷ lệ cần thiết về số phiếu, cụ thể là phải đạt tỷ lệ số phiếu đại diện ít nhất từ 65-75% tổng số vốn góp (hoặc vốn điều lệ) của các thành viên dự họp chấp thuận (tùy trường hợp) khi thông qua các quyết định quan trọng, cơ bản trong công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.

Các quyết định quan trọng ở đây được quy định như: sửa đổi, bổ sung điều lệ công ty; quyết định phương hướng phát triển công ty; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch hội đồng thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc hoặc tổng giám đốc; thông qua báo cáo tài chính hàng năm; tổ chức lại hoặc giải thể công ty…

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: PHIÊN TÒA “THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU KHI LY HÔN” TẠI TÒA ÁN Q.7 – MỘT PHIÊN TÒA BẤT CÔNG!

THÙY DƯƠNG

"Trong hai năm qua, những lúc bé ốm đau, bệnh tật thì anh ấy ở đâu? Chẳng lẽ, tôi làm công nhân vệ sinh thì không có quyền làm mẹ sao?". Bức xúc của chị Nguyễn Thị Lan (Q.7) cũng là của đa số người dự khán phiên tòa xét xử thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn tại tòa án Q.7. Một câu hỏi lớn đặt ra: liệu có điều gì khuất tất trong phiên tòa này?

Sáng 21/5, TAND Q.7, TP.HCM đã mở phiên tòa xét xử vụ kiện "Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn" giữa nguyên đơn là anh Nguyễn Văn Thuận (SN 1980 ở P.10, Q. Gò Vấp) và bị đơn là chị Nguyễn Thị Lan (SN 1979 ở P. Bình Thuận, Q.7). Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuyên án: giao bé Nguyễn Trọng Trí, sinh năm 2003, cho anh Thuận nuôi dưỡng.

Ngay sau bản án được tuyên, chị Lan đã òa khóc, cho rằng bản án không công bằng. Bức xúc của chị được những người dự khán phiên tòa đồng cảm, chia sẻ.

Chị Lan và anh Thuận kết hôn năm 2003, đến giữa năm 2007 thì cả hai thuận tình ly hôn. Hai bên thỏa thuận, chị Lan được quyền nuôi con và anh Thuận trợ cấp 300.000đ/tháng. Tuy nhiên, sau đó anh Thuận không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Để có tiền nuôi con, chị Lan đã nhận trông coi nhà vệ sinh công cộng tại BV Từ Dũ từ 7g sáng đến 9g tối. Hàng ngày, 6g30 chị thức dậy đưa con đi học rồi đi làm. Đến 4g, chị đón con và đưa bé đi học chữ. Sau đó, chị rước bé về chỗ làm (có một phòng riêng sinh hoạt) để bé nghỉ ngơi, xem hoạt hình và 9g hai mẹ con cùng về nhà.

Theo chị Lan, suốt hai năm chị nuôi bé Trí, anh Thuận không một lần đến thăm. Dù vậy, mỗi cuối tuần (chiều thứ sáu) chị Lan đều cho con về nhà nội chơi. Nhưng ngày 21/11/2008, khi chị đến rước con thì gia đình anh Thuận không cho. Chị Lan đã đến nhà anh Thuận nhiều lần và làm đơn gửi chính quyền địa phương, cơ quan thi hành án để xin thi hành án giao con, nhưng vẫn chưa được nhận con.

Continue reading

KHI CHÍNH KHÁCH “CẦM NHẦM” CỦA CÔNG

HIỆU MINH

Rừng vàng, biển bạc, mỏ dầu lộ thiên hay khoáng sản quí hiếm, đáng lẽ quốc gia phải mạnh và giàu có. Thật đáng tiếc, có những quốc gia giàu tài nguyên thì việc chính khách “cầm nhầm” của công cũng dễ xảy ra.

Nói về tham nhũng đã có những ý kiến như của giáo sư Trần Hữu Dũng. Ông phân tích quan hệ giữa tham nhũng và tăng trưởng kinh tế, chú trọng đặc biệt đến trường hợp các quốc gia cần phát triển và đang chuyển đổi như Việt Nam. Giáo sư cũng đưa ra một số biện pháp trên ba bình diện: giảm động lực, giảm cơ hội và giảm lợi lộc của tham nhũng. Nghiên cứu đó, viết cách đây 10 năm (tháng 4/1999), hiện còn nguyên giá trị.

Không hiểu thời đó mức độ tham nhũng của Việt Nam thế nào. Nhưng hôm nay, đôi lúc ra đường lại thấy điều trái tai gai mắt như chuyện rất đời thường.

Quốc nạn

Người bạn kể rằng, một lần lái xe không để ý nên bị bắn tốc độ trên quốc lộ 1. Vị cảnh sát “bắn” đứng cách xa trạm phạt hàng cây số. Biết ai phạm luật liền bộ đàm cho người phía trước biết số xe. Hệ thống ghi lại chi tiết nên không thể chối cãi, bắt xe phạm luật khá chính xác. Chỉ có điều, cách xử lý vi phạm không như đạo đức cần có của người mang sắc phục.

Cánh lái xe dừng lại, mang theo bằng lái, không quên kèm vào đó 100.000 hoặc 200.000đ. Gần như 100% là thoát, không bị giữ bằng lái hay bấm lỗ. Đương nhiên, vượt quá 20-30km so với qui định có thể bị lập biên bản để…báo cáo.

Đó là cảnh hối lộ và tham nhũng trắng trợn mà cả nước chấp nhận. Đôi khi, vị mang sắc phục còn nói “lần sau nhớ nhìn biển báo” khi nhét tiền vào túi.

Continue reading

TRANH CHẤP THỜI LẠM PHÁT

QUANG CHUNG – TIẾN TÀI

Giá nông sản, giá vật liệu xây dựng, giá nhà đất… cứ biến động như hiện nay thì chuyện đổ vỡ hợp đồng trong làm ăn tất yếu sẽ diễn ra, dẫn đến nhiều hệ lụy. Hiệp hội Điều Việt Nam đang bị khiếu nại do doanh nghiệp thành viên chậm giao hàng. Không ít công ty xây dựng phải vất vả thương lượng lại những hợp đồng đã lỡ ký. Nhiều cam kết mua bán nhà, đất đứng trước nguy cơ bị “bể kèo”…

Đổ vỡ cam kết…

Các doanh nghiệp nhập khẩu nhân điều của Mỹ và châu Âu vừa gửi thư khuyến nghị đến Hiệp hội Điều Việt Nam. Trong thư họ phàn nàn về việc một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam vi phạm các hợp đồng đã ký kết; họ cảnh báo, nếu các doanh nghiệp Việt Nam không sớm khắc phục họ sẽ khởi kiện.

Hiện tượng “xù” hợp đồng xảy ra khi giá nhân điều trên thị trường thế giới tăng cao. Từ cuối năm 2007 đến nay, theo các nhà nhập khẩu, việc vi phạm hợp đồng đã ký kết của một số doanh nghiệp xuất khẩu nhân điều Việt Nam gây thiệt hại cho họ khoảng 45 triệu đô la Mỹ.

Giải thích sự việc này, Hiệp hội Điều cho rằng, đây là vấn đề “nan giải”. Khi ký hợp đồng xuất khẩu, giá điều thô chỉ 750-800 đô la Mỹ/tấn, nhưng đến cuối năm 2007, giá đã tăng lên 950-1.000 đô la Mỹ/tấn. Đồng thời, mùa vụ điều trong nước đến trễ và mất mùa; cộng với tình hình lạm phát bùng nổ, lãi vay ngân hàng tăng… gây khó khăn cho một số doanh nghiệp Việt Nam trong việc thực hiện các hợp đồng đã ký.

Hơn nữa, theo Hiệp hội Điều, các doanh nghiệp thành viên còn gặp khó khăn do bị một số đối tác nước ngoài “xù” hợp đồng bán nguyên liệu điều thô.

Continue reading

CÔNG CHỨC VIỆT NAM: “NHẤT CHÂU Á”

TS. NGUYỄN SĨ DŨNG

Cuối cùng, chúng ta cũng có một cái gì đó được thiên hạ (cụ thể là Tổ chức tư vấn về rủi ro chính trị và kinh tế – PERC*)) đánh giá là nhất châu Á! Và đó là… cái sự “khó tính và gây trở ngại” của đội ngũ công chức (Tuổi trẻ chủ nhật số 13-2004, ngày 4/4/2004, tr. 9). Đây là một sự nổi tiếng ngang ngửa với tai tiếng, một “giải thưởng Mâm xôi vàng” cho các công chức Việt Nam.

Về nguyên tắc, chúng ta có thể phản bác “giải thưởng” này và kiên quyết không chịu nghe ý kiến của PERC. Tuy nhiên, chúng ta không nghe thì thiên hạ (mà đặc biệt là các nhà đầu tư) vẫn cứ nghe. Và nhiều nhà đầu tư đang rút các dự án của họ ra khỏi nước ta. Vậy thì, thay vì tìm cách che giấu sự nổi tiếng của mình, chúng ta có thể làm một việc có ích hơn là tìm hiểu xem tại sao đội ngũ công chức của chúng ta lại nổi tiếng đến như vậy.

Trước hết, sở dĩ đội ngũ này có thể “khó tính và gây trở ngại” vì họ rất ít phụ thuộc vào dân. Từ chuyện tuyển chọn, cất nhắc, đề bạt đến những chuyện khác như tăng lương, khen thưởng, huân chương, huy chương v.v… và v.v… tất cả đều nằm ngoài sự ảnh hưởng trực tiếp của những người dân. Thực ra, người dân chỉ có mỗi một cách tác động là khiếu nại, tố cáo. Tuy nhiên, hệ thống giải quyết khiếu nại, tố cáo mà chúng ta đang có vận hành hiệu năng thế nào là điều không nói ra thì ai cũng biết. Trong lúc đó, các thiết chế đại diện cho dân để giám sát đội ngũ công chức (Quốc hội, Hội đồng Nhân dân các cấp) đều không hoạt động thường xuyên. Các vị đại biểu dân cử thiếu quá nhiều thứ để làm tốt chức năng giám sát. Họ thiếu từ thời gian, kỹ năng, động lực đến thủ tục, công cụ và đội ngũ chuyên gia giúp việc. Cuối cùng, đội ngũ công chức đang chủ yếu chỉ phụ thuộc vào cấp trên. Và thực tế là họ sẽ làm mọi việc để vừa lòng các thượng cấp của mình. Người dân sẽ khó lòng có được gì nhiều trong một sự tận tụy dội lên trời như vậy. Những phân tích nói trên cho thấy xác lập sự phụ thuộc vào dân và nâng cao năng lực giám sát của các cơ quan dân cử sẽ là lời giải cho bài toán ở đây.

Continue reading

MỐI QUAN HỆ CÁ NHÂN – GIA ĐÌNH TRONG BỐI CẢNH VIỆT NAM ĐI VÀO TOÀN CẦU HÓA

LÊ THI

Đi vào hội nhập và toàn cầu hóa, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, cả về mặt kinh tế và văn hóa xã hội. Gia đình, tế bào cơ sở của xã hội, tất yếu có những biến động khi xã hội đang thay đổi, có những đổi mới trong quan hệ giữa các thành viên gia đình, giữa cá nhân và gia đình. Vậy cần giữ gìn, phát huy vai trò gia đình như thế nào trong điều kiện mới?

I. Sự phát triển của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc sống của gia đình Việt Nam hiện nay.

Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập quốc tế, ký kết hợp tác làm ăn với nhiều nước trên thế giới, với các nước ASEAN, các nước châu Á, EU, Mỹ, … Vì vậy, đang diễn ra nhiều sự thay đổi, nhiều tiến bộ trong hoạt động kinh tế của nhân dân ta. Vậy những thay đổi này ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình như thế nào?

1/ Có sự giao lưu hợp tác về kinh tế rộng rãi giữa các gia đình ở thành phố và nông thôn, kể cả với nước ngoài. Thu thập của các gia đình tăng lên, tiêu dùng cũng tăng theo, không chỉ trong ăn uống mà nhiều nhu cầu giải trí, văn hóa của những gia đình có điều kiện cũng được thỏa mãn tốt hơn trước. Đối với con cái, việc đào tạo nghề nghiệp đa dạng hơn, kể cả du học ở nước ngoài.

Trong cơ chế thị trường với quy luật cạnh tranh khốc liệt, các gia đình phải tìm mọi cơ hội, điều kiện kinh doanh có lợi nhất, tốt nhất để kiếm được lợi nhuận tối đa; thậm chí, có một số trường hợp còn bất chấp cả luật pháp nhà nước và chà đạp lên đạo đức thông thường. Đồng thời, cạnh tranh cũng làm nảy sinh nhiều sáng kiến ở người lao động, nhà kinh doanh để đáp ứng yêu cầu sản xuất và thị trường tiêu thụ. Sự thay đổi về công việc, về nghề nghiệp của một bộ môn bộ phận lao động diễn ra liên tục, kịp thời tạo điều kiện cho họ và gia đình có thể sống và làm việc có hiệu quả nhất.

Continue reading

VIỆC THỦ TƯỚNG NĂM LẦN BẢY LƯỢT CHỈ ĐẠO SAI PHẠM Ở HÀ GIANG VÀ CHUYỆN CHÚ RUỒI CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA

PHẠM VIẾT ĐÀO

Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 8786/VPCP-KNTC gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang với nội dung: "Giao cho Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang và các cơ quan chức năng thực hiện các kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại văn bản số 2612/BC-TTCP ngày 25 tháng 11 năm 2008: Thanh toán dứt điểm đối với các dự án đầu tư từ ngân sách do Công ty TNHH Sông Lô thực hiện theo đúng qui định pháp luật; Chỉ đạo các đơn vị hưởng lợi tuyến đường Tùng Bá – Na Sơn vào mỏ phải thanh toán dứt điểm kinh phí đầu tư cho Công ty TNHH Sông Lô; Báo cáo Thủ tướng kết quả thực hiện trong quí I năm 2009."

Cho đến nay Văn phòng Chính phủ đã 7 lần có công văn gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; Mới nhất là Công văn số 4025/VPCP-KNTC ngày 16/6/2009 với nội dung sau đây:" Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng về việc giao Văn phòng Chính phủ chủ trì cùng Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ và mời Uỷ ban Kiểm tra trung ương Đảng tham gia Tổ công tác làm việc với Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang bàn biện pháp giải quyết khiếu nại của Công ty Sông Lô, trong đó có việc thanh toán các khoản đầu tư vào các công trình đã thực hiện…"

Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Lô Lê Duy Hảo cho biết: Tổng số tiền mà Công ty Sông Lô đã đầu tư vào các công trình xây dựng tại tỉnh Hà Giang mà Chủ Đầu tư ( chủ nợ) là Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang hiện chưa được thanh toán; Cộng số vốn mà Công ty Sông Lô đã bỏ vào Dự án đầu tư khai thác, tuyển, luyện quặng sắt ở Hà Giang; dự án này đã được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang ký quyết định cấp phép tổng số tiền vốn thiệt hại do bị chiếm dụng trên 50 tỷ đồng ? Dự án khai thác mỏ mà Công ty Sông Lô thực hiện theo Quyết định số 2309/2002/QĐ-UB do Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang khoá trước cấp hiện đã bị Chủ tịch nhiệm kỳ mới của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang huỷ bằng Quyết định 585/2007/QĐ-UB; Cùng với quyết định huỷ, "đuổi" Công ty Sông Lô là việc giao toàn bộ khu mỏ cùng với số vốn đầu tư mà Công ty Sông Lô đã bỏ ra cho một doanh nghiệp khác vào tiếp quản, khai thác trên cái nền đầu tư bằng vồn của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Lô…

Continue reading

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH: SAO LẠI TỰ CẮN ĐUÔI VÀO NHAU?

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Bài viết này nhằm phân tích một số sai lầm có tính nguyên lý dẫn đến thua lỗ trong đầu tư tài chính của các công ty thời gian qua. Cho đến nay đã có 13 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) bị đưa vào diện kiểm soát. Con số này có thể còn tăng thêm do hiện còn nhiều doanh nghiệp xin chậm nộp báo cáo tài chính năm 2008.

Phân tích các trường hợp công ty bị đưa vào diện kiểm soát hiện nay cho thấy hầu hết đều rơi vào nhóm có kết quả sản xuất kinh doanh lỗ. Phân tích một cách chi tiết hơn cho thấy nguyên nhân thua lỗ của các trường hợp bị kiểm soát cũng không giống nhau.

Một số công ty thua lỗ do tình hình sản xuất kinh doanh yếu kém như Công ty Bông Bạch Tuyết (BBT) hay Công ty cổ phần Vitaly (VTA) nhưng một số khác thì thua lỗ do đầu tư tài chính như REE hay SAM.

Việc các công ty thông qua thị trường chứng khoán sơ cấp để huy động vốn đầu tư không có gì phải phê phán mà cần được khuyến khích. Thế nhưng việc biến thị trường sơ cấp thành một công cụ để huy động vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư tài chính gián tiếp không được kiểm soát và quản trị tốt là điều nguy hiểm cho hệ thống kinh tế của quốc gia.

Thay vì huy động vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính thì các công ty lại mang đi đầu tư tài chính thông qua việc nắm giữ các danh mục chứng khoán thị trường.

Đặc biệt trong giai đoạn nửa cuối năm 2006 đến khoảng giữa năm 2007 – giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng cao – nhiều công ty đã tăng cường các hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng và sử dụng phần lớn số vốn huy động được để đầu tư tài chính cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Continue reading

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TOBY MENDEL – Chuyên gia nghiên cứu về tiếp cận thông tin của Tổ chức Article 19

Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ và việc ban hành một đạo luật để thực thi quyền này một cách hiệu quả trên thực tế là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng rất nhiều nội dung của các đạo luật trong nước có những quy định tương đồng nhau như nguyên tắc bảo đảm tính công khai, nghĩa vụ đăng tải thông tin,…

Tuy nhiên các đạo luật của từng quốc gia cũng có những điểm khác biệt và đôi khi còn trái chiều nhau, đặc biệt về các quy định về khái niệm thông tin, phạm vi thẩm quyền, phạm vi miễn trừ hay các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, các cuộc khảo sát đó cũng đã tìm ra được những phương pháp tiếp cận đầy sáng tạo để đáp ứng với hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau.

Khái niệm quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ là cơ sở để thông qua luật về quyền tiếp cận thông tin và luật của hầu hết các nước đều quy định khá rõ về nguyên tắc này. Ví dụ như Luật của Mexico và Jamaica quy định quyền hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin nếu không rơi vào các trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó ở Thái Lan và Anh, quyền này tuy mang sắc thái thủ tục nhiều hơn, nhưng luật của hai nước này cũng quy định rằng bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu cung cấp thông tin và tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định về mặt thủ tục và nội dung, đều có thể có thông tin đó. Mặc dù trên thực tế khó chứng minh được sự khác nhau của cách định nghĩa này song phương pháp tiếp cận dựa vào quyền hơn là dựa vào nghĩa vụ càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners

Hiện đang là mùa cao điểm đại hội cổ đông thường niên của các công ty cổ phần (CTCP). Tuy nhiên, tham dự một số đại hội cổ đông trong thời gian qua, có thể nhận thấy ban kiểm soát (BKS) trong các công ty này dường như chưa thể hiện hết vai trò bảo vệ nhà đầu tư và giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT) và ban giám đốc (BGĐ).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh hoạt động của BKS trong CTCP hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Vai trò luật định

Nếu tạm coi CTCP là một “nhà nước” thu nhỏ, thì đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; còn BKS đóng vai trò của cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của HĐQT và BGĐ.

Cách ví von này có thể giúp chúng ta dễ mường tượng ra vai trò của BKS trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong CTCP, nhất là trong vai trò “kiềm chế và đối trọng” với HĐQT và BGĐ.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của BKS, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là (i) sự phức tạp trong quá trình quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông; và (ii) sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp CTCP.

Continue reading

ĐẢO NỢ: RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Hiện tượng đảo nợ đang được tranh luận khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết này phân tích các khía cạnh cơ bản về rủi ro đạo đức của vấn đề đảo nợ và đưa ra một số hàm ý chính sách để gỡ khó cho các doanh nghiệp hiện nay.

Không nên tạo tiền lệ xấu

Ở Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng (2004) cũng không cấm đảo nợ mà chỉ quy định việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Trong khi đó, quan điểm của Chính phủ cũng như NHNN là không cho phép đảo nợ.

Chúng tôi cho rằng trong điều kiện thực hiện gói hỗ trợ lãi suất hiện nay với những mục tiêu chính sách đã đặt ra thì cần phải hết sức thận trọng trước vấn đề đảo nợ. Nhìn bề ngoài đảo nợ tạo cho người ta cái ảo giác về các khoản nợ được hoàn trả tốt, tỷ lệ nợ xấu hay nợ quá hạn giảm xuống nhưng thực chất thì không phải vậy.

Giả sử một doanh nghiệp đang có dư nợ cũ tại ngân hàng với lãi suất cao và trong điều kiện khó khăn hiện nay khiến khoản nợ trên có nguy cơ trở thành nợ xấu. Với chính sách cho vay đảo nợ, doanh nghiệp chỉ cần vay khoản nợ mới để trả khoản nợ cũ và như thế khiến cho người ta dễ đánh giá rằng doanh nghiệp đã trả được tốt khoản nợ vay, còn ngân hàng thì không những thu hồi được vốn vay mà nợ xấu cũng không có.

Thực ra vấn đề không phải đơn giản như vậy vì chúng ta chưa bàn đến “số mệnh” của khoản nợ mới sẽ như thế nào. Khoản nợ mới được dùng để trả nợ cũ thì không thể tạo ra thu nhập để trả nợ cho chính nó. Doanh nghiệp sẽ lấy tiền đâu để trả khoản nợ mới đây?

Continue reading

THƯƠNG HIỆU HÀNG HÓA VỚI QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

I. BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA

1. Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về nhãn hiệu, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá

Theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam năm 1999,"Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức". Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ không ngừng tăng trưởng đã làm thay đổi diện mạo người tiêu dùng Việt Nam. Trình độ hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm ngày càng được nâng cao hơn, thị hiếu trở nên đa dạng nhưng cũng dễ dàng được đáp ứng hơn.

Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn dễ dãi trong việc mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, có thể là do tâm lý đơn giản trong việc sử dụng, hoặc cũng có thể do sự chênh lệch giá cả sản phẩm và túi tiền của họ. Người ta cho rằng, chỉ những người nhiều tiền mới có thể sử dụng "hàng hiệu", còn với họ chỉ thế đã là đạt yêu cầu. Nhưng thực tế, người tiêu dùng đã phải bỏ ra một số tiền lớn hơn để nhận lấy một sản phẩm có thể là hàng giả, hàng nhái hay hàng kém chất lượng mà lẽ ra họ phải được sử dụng một sản phẩm đúng như họ yêu cầu.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: BẢN QUYỀN GIAO THÔNG

HOÀNG NGUYÊN

Nhờ sáng kiến này, người đi đường không phải dừng xe chờ đèn đỏ.

Thay vì để chiều đi lại ngược xuôi cắt nhau trực tiếp ở các ngã tư, gần một tháng nay, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội chặn ngang nút giao, tận dụng dải phân cách lớn làm đảo chắn, buộc phương tiện giao thông phải chạy theo vòng xuyến. Từ đó bỏ hẳn việc dừng xe chờ đèn xanh-đỏ, xóa được các điểm ùn tắc do chờ đèn tín hiệu. Thế nhưng một doanh nhân ở quận Đống Đa khiếu nại về sáng kiến này vì doanh nghiệp cho rằng đã vi phạm bản quyền.

Sở “xài chùa”?

Anh Phạm Văn Tiệp, là một doanh nhân, vừa gửi đơn khiếu nại lên Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Anh cho biết từ việc tập Yoga, từ lâu anh đã có ý tưởng thiết kế mô hình giao thông theo nguyên lý chuyển động liên tục của bộ môn dưỡng sinh. Đến tháng 7-2008, giải pháp “Giao diện mềm nhằm giảm ùn tắc giao thông đô thị Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của anh được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, do Phó Cục trưởng Vũ Văn Hoan ký. Anh Tiệp đã gửi công trình ấy bằng cả văn bản và đĩa CD tới Bộ Giao thông Vận tải, UBND và Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Thậm chí sáng kiến này còn được Tạp chí Giao Thông Vận Tải của Bộ Giao thông Vận tải và Báo Bạn Đường thuộc Ủy ban An toàn giao thông quốc gia chọn đăng tải như một giải pháp hữu ích trong việc chống ùn tắc giao thông.

Continue reading

XẾP HẠNG ĐẠI HỌC VÀ CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG XẾP HẠNG ĐẠI HỌC

TSKH. PHẠM ĐỖ NHẬT TIẾN

Vấn đề xếp hạng các đại học (university) và trường đại học (college) trong phạm vi quốc gia vốn đã có từ lâu. Cách đây 26 năm, tuần báo US News & World Report (USNWR) có sáng kiến đầu tiên trong việc xếp hạng các đại học và trường đại học Mỹ.

Các xếp hạng quốc gia

Về cơ bản, đây là một sáng kiến cạnh tranh trong một thị trường truyền thông rất khốc liệt ở Mỹ. Việc xếp hạng này nhắm tới đối tượng độc giả đông đảo là học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh. Nó giúp cho lớp khách hàng này có một đánh giá tổng thể về cơ sở giáo dục đại học dựa trên thứ bậc của cơ sở đó trên thang xếp hạng. Điểm số xếp hạng được tổ hợp từ các tiêu chí liên quan đến 7 dữ liệu đầu vào, 4 dữ liệu về quá trình, 4 dữ liệu đầu ra. Bên cạnh các dữ liệu khách quan nói trên, còn phải tính đến một dữ liệu chủ quan là việc đánh giá danh tiếng nhà trường trên cơ sở thu thập ý kiến các nhà quản lý của các trường khác.

Thành công không thể chối cãi được của USNWR là đã đi đầu trong công tác xếp hạng phức tạp này, đã thiết lập được nguồn dữ liệu cốt lõi cho việc đánh giá, đã cung cấp được thông tin minh bạch cho sinh viên trong việc chọn trường. Tuy nhiên, đến nay, rất nhiều học giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu vẫn phê phán gay gắt việc xếp hạng của USNWR trên nhiều phương diện như sự võ đoán trong cách chọn tiêu chí và trọng số, độ tin cậy của dữ liệu, khả năng bóp méo thực tế nhà trường, tác động tiêu cực tới hoạt động dạy và học. Thậm chí một loạt hiệu trưởng các trường đại học Mỹ, trong năm 2007, đã lên tiếng bất cộng tác với USNWR trong việc trả lời các phiếu khảo sát.

Continue reading

ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG: NHIỀU ĐIỀU CHƯA RÕ

LS. NGUYỄN HỮU PHƯỚC – Công ty Luật Phước & Partners

Trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, việc cắt giảm chi phí hoạt động nói chung và chi phí lao động nói riêng là một trong những việc cấp thiết phải làm của các doanh nghiệp để có thể tồn tại.

Việc cắt giảm chi phí lao động nói chung có nhiều cách, ví dụ như không ký lại hợp đồng lao động (HĐLĐ) sắp hết hạn, không tăng lương và trợ cấp, không thưởng thành tích, cắt giảm các khoản vui chơi, giải trí của người lao động (NLĐ), cắt giảm các khoản phúc lợi không cam kết trong HĐLĐ hoặc thỏa ước lao động tập thể. Tuy nhiên, những cắt giảm này thường không thể triển khai nhanh và nhiều được. Cái có thể đạt mục đích nhanh nhất vẫn là việc người sử dụng lao động (NSDLĐ) đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ.

Các quy định của luật

Bộ luật Lao động hiện hành cũng đã có dự liệu về trường hợp này. Cụ thể, điều 17 của bộ luật quy định NSDLĐ được quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với NLĐ trong trường hợp “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” và NLĐ đã được đào tạo lại nghề để sử dụng cho công việc mới nhưng NSDLĐ không thể giải quyết được việc làm mới.

Cụm từ “do thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ” được Chính phủ giải thích thêm tại điều 11 của Nghị định 39/2003 ngày 18-4-2003 là bao gồm một trong các trường hợp sau: (i) việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; (ii) thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến việc sử dụng lao động ít hơn; hoặc (iii) thay đổi cơ cấu tổ chức, sáp nhập, giải thể “một số bộ phận” của đơn vị.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: ĐÒI NỢ ÔNG CHỦ 50 LƯỢNG VÀNG

HOÀNG YẾN

Nhân viên đòi ông chủ cũ trả 50 lượng vàng, trong khi ông chủ khăng khăng rằng nhân viên lấy chữ ký khống của ông làm giấy nợ giả. TAND TP.HCM vừa xử phúc thẩm một vụ tranh chấp khá lạ giữa nhân viên kế toán với ông chủ công ty: Nhân viên nói cho ông chủ mượn 50 lượng vàng, trong khi ông chủ bảo nhân viên làm giả giấy nợ chứ nhân viên nghèo khó, tiền đâu mà cho mượn…

Mỗi người nói một kiểu

Theo hồ sơ, tháng 12-2007, bà H. kiện ông T. ra TAND quận 11. Theo đơn kiện, tháng 2-2006, thấy ông T. kinh doanh khó khăn, bà cho ông mượn 50 lượng vàng để giúp đỡ. Mãi vẫn không thấy ông trả nên bà phải yêu cầu tòa buộc vợ chồng ông T. liên đới trả cho bà số vàng trên cùng lãi.

Ngược lại, ông T. nói hoàn toàn không có sự vay mượn nào cả. Trước đây, bà H. làm kế toán cho ông. Năm 2005, ông bị công an điều tra phong tỏa tài sản công ty và khống chế sự đi lại. Tin tưởng, ông đã ký khống nhiều giấy tờ cho bà H. thay mặt ông đi giao dịch bên ngoài. Lợi dụng những giấy ký khống này, bà H. đã làm giấy vay vàng giả.

Ông T. xác nhận chữ ký trong giấy nợ là của ông nhưng nội dung trong đó là giả mạo và yêu cầu giám định. Ông bảo tại thời điểm giấy nợ ghi (tháng 2-2006), ông không có mặt tại TP.HCM mà đang ở Hưng Yên. Đến năm 2007, bà H. còn kiện ông để đòi tiền lương nợ từ trước năm 2006 thì không lý nào bà lại cho ông mượn số vàng trên…

Continue reading