PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

CHU THÁI THANH

Qua hai mươi năm đổi mới, thị trường bất động sản nước ta đã hình thành và phát triển với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của thị trường bất động sản còn bộc lộ nhiều khuyết tật, hiệu quả còn hạn chế. Thị trường bất động sản quá "nóng" dẫn tới "sốt" hoặc quá "lạnh" dẫn tới "đóng băng" đều ảnh hưởng không tốt đến đầu tư phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển, góp phần vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.

Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tạo khả năng thu hút đa dạng các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình xây dựng đô thị và nông thôn theo hướng phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển, thị trường bất động sản trong nước có sức cạnh tranh so với thị trường khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.

Cho đến nay, ở hầu hết các nước trên thế giới đều phân loại tài sản theo luật cổ La Mã, thành bất động sản động sản. Bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người gắn liền với đất đai. Thị trường bất động sản có nhiều khu vực, bao gồm thị trường nhà ở, thị trường bất động sản trong công nghiệp và dịch vụ; thị trường bất động sản nông nghiệp; thị trường hạ tầng cơ sở, hạ tầng xã hội và công trình công cộng, thị trường dịch vụ hỗ trợ. Xét về hình thức kinh doanh, có thị trường mua bán, chuyển nhượng, thị trường cho thuê, thị trường xây dựng, kinh doanh, chuyển giao. Hàng hóa bất động sản là đòn bẩy để tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường bất động sản nước ta đã từng bước hình thành và phát triển nhanh chóng.

Continue reading

ĐÌNH CÔNG CỦA CÔNG NHÂN VÀ THỂ CHẾ HÓA QUAN HỆ LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN THANH TUẤN

1. Về đình công của công nhân hiện nay

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ lao động giữa công nhân và người sử dụng lao động diễn ra trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng theo quy định của pháp luật. Điều 9, Chương I, Bộ luật Lao động xác định: người lao động “có quyền đình công theo quy định của pháp luật”. Đình công là hành động ngừng việc tập thể với tính cách là biện pháp cuối cùng của công nhân sau khi không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, để giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích giữa tập thể công nhân với người sử dụng lao động. Đình công là hiện tượng kinh tế – xã hội tồn tại khách quan, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân và để xác lập quan hệ lao động tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật giữa công nhân và người sử dụng lao động trong điều kiện biến đổi thường xuyên của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đình công diễn ra theo trình tự và thủ tục quy định của pháp luật hiện hành là đình công hợp pháp; còn trái lại là bất hợp pháp.

Theo số liệu của cơ quan chức năng, từ năm 1995 đến 15-4-2006 ở Việt Nam đã xẩy ra 1.250 cuộc đình công. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước có 87 cuộc, chiếm 7%; khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có 838 cuộc, chiếm 67%; khu vực doanh nghiệp dân doanh có 325 cuộc, chiếm 26%. Các cuộc đình công chủ yếu diễn ra tại: thành phố Hồ Chí Minh với 504 cuộc, chiếm 40,3 %; Bình Dương với 279 cuộc, chiếm 22,3%; Đồng Nai với 258 cuộc, chiếm 20,7%; các tỉnh còn lại chỉ có 209 cuộc, chiếm 16,7%. Riêng đầu năm 2006 (từ 1-1 đến 15-4) đã diễn ra 265 cuộc đình công, chiếm 21,2% tổng số các cuộc đình công của công nhân từ năm 1995 đến nay. Đình công diễn ra có tính lan truyền và khá tập trung ở vùng Đông Nam Bộ (1).

Continue reading

CÔNG LÝ VÀ DỤC VỌNG: DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI NÀY KHÔNG THỂ TÀN PHÁ DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI KIA, ĐÓ LÀ CÔNG LÝ

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

PHẦN 1

Hiển nhiên, không thể cãi được rằng, người ta sống ở đời đều mong được sống hạnh phúc, thoải mái, an toàn, tự do, bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc được xác định trong hiến chương Liên Hiệp Quốc về các quyền cơ bản nhất của con người. Chẳng lẽ, con người lại không muốn an toàn, nghĩa là lúc nào người ta cũng thích bị người khác rình rập săn đuổi, cưỡng bức bắt làm nô lệ, bị đánh đập, hắt hủi, đè nén, thậm chí thủ tiêu không khác gì một con sâu bị di mất tiêu?

Chẳng lẽ, con người sống mà không muốn thoải mái, được làm việc, được nghỉ ngơi theo ý muốn của mình mà lúc nào cũng chỉ như con sen thằng ở phải trông chừng ý thích của ông chủ? Chẳng lẽ, mỗi người sống lại không mang hạnh phúc mà chỉ tìm cách hiện diện ở đời như một nô lệ, một cỗ máy phục vụ cho mục đích của người khác, trong khi bản thân mình không có mục đích nào hơn là sinh ra để làm phương tiện?

Chẳng cần lý sự dài dòng, điều hiển nhiên nhất nằm ngay trong máu thịt tự nhiên của con người đó là: cuộc đời không thể sống được nếu không mưu cầu hạnh phúc. Chẳng lẽ, người ta có thể sống khi nơm nớp bị săn như con thú, sống hay chết chỉ nằm trong gang tấc hiểm họa của những nòng súng săn, những cung tên, hay lưỡi dáo? Trước hết, muốn sống thì phải được tồn tại một cách an toàn, nghĩa là cuộc sống không bị cướp đi một cách vô cớ. Tiếp theo, cuộc sống không thể gọi là sống nếu chỉ được tồn tại như một hòn đá nằm vô tri bên bờ suối, hay như một con trâu đang kéo cày cho chủ, hoặc một con lợn đang vục miệng vào chậu cám đầy ú cơm thừa canh cặn để mau chóng trở thành thứ xúc xích cho bữa ăn của chủ hoặc tồn tại như một cỗ máy hoạt động đều đặn không có nổi một chút đời sống của là hồn.

Continue reading

THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KHI CHUYỂN SANG HOẠT ĐỘNG THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (NĂM 2005)

HỒ XUÂN HÙNG – Phó Trưởng ban, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp nhà nước Trung ương

I – KẾT QUẢ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Năm 2005 là năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (9-2001) và là năm "áp chót" thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (05-1-2004) của Đảng về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; khởi đầu một giai đoạn mới – thực hiện Nghị định 187/NĐ-CP thay thế 64/NĐ-CP của Chính phủ về cổ phần hóa. Theo đó sẽ có bước chuyển cơ bản về chất trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, theo các nội dung sau:

– Chuyển cổ phần hóa từ việc chỉ thực hiện ở những doanh nghiệp nhỏ làm ăn thua lỗ, khó khăn sang cổ phần hóa những doanh nghiệp có quy mô lớn, kể cả một số tổng công ty.

– Từ cổ phần hóa một số lĩnh vực sang hầu hết các lĩnh vực kinh tế – văn hóa bao gồm cả hàng không, hàng hải, điện lực, bưu chính – viễn thông, dịch vụ dầu khí, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng…

– Từ cổ phần hóa theo kiểu "chia phần" khép kín là chủ yếu sang cổ phần hóa theo hình thức đấu giá công khai theo nguyên tắc thị trường.

Cổ phần hóa được xác định là giải pháp cơ bản trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, Nghị định 187/NĐ-CP, hiệu lực từ 20-12-2004, có tác dụng quyết định đến sự thành bại của quá trình này. Cùng với nó, các Quyết định số 155/TTg về tiêu chí doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn hay cổ phần chi phối, các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan, nhất là Thông tư số 126, ngày 24-12-2004, của Bộ Tài chính… đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Theo tôi, đây là một trong những khâu quan trọng nhất, tạo bước đệm trong chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Continue reading

QUỐC HỘI CHẤT VẤN AI?

NGUYÊN TẤN

Khi chất vấn về vấn đề tỷ lệ đầu tư công vào nông nghiệp hiện nay và hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ chưa cao, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII một đại biểu đã hỏi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Vậy quan điểm Bộ trưởng như thế nào và trách nhiệm của Bộ trưởng ra sao, giải pháp tới thì Bộ trưởng sẽ đề xuất với Chính phủ về việc phân bổ ngân sách này như thế nào? Bộ trưởng có giải pháp gì giúp cho ngư dân?…”.

Vị Bộ trưởng dễ dàng vượt qua với câu trả lời: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang phối hợp với các bộ ngành dự thảo cơ chế chính sách và trong ngày hôm nay đồng chí Thứ trưởng đã ký gửi để xin ý kiến chính thức của các bộ trước khi chúng tôi trình Chính phủ phê duyệt”.

Còn khi chất vấn về tình trạng cấp phép sân golf tràn lan, đại biểu đã đặt câu hỏi: “Tôi xin hỏi Bộ trưởng việc cấp phép như vậy có vi phạm Luật Đất đai hay không? Ai vi phạm? Xử lý như thế nào? Trách nhiệm thuộc về ai?”. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời ngay: “Đừng nói rằng trách nhiệm ở ai, trách nhiệm chính là ở người cấp đất, ai cấp đất là trách nhiệm ở người đó… Anh nào cấp giấy phép đầu tư thì chịu trách nhiệm về cấp giấy phép đầu tư”.

Rất nhiều đại biểu đã chất vấn tương tự như vậy. Cách chất vấn và trả lời chất vấn trên tạo cho chúng ta cảm giác như đây là một cuộc họp của Chính phủ đúng hơn là một kỳ họp Quốc hội yêu cầu Chính phủ giải trình hoạt động điều hành của mình trước Quốc hội, trước nhân dân.

Continue reading

THỰC TIỄN XÉT XỬ: TPHCM ÁN TỒN NHIỀU DO QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT KHÔNG PHÙ HỢP

THANH LƯU

Ngày 25-6 – 2009, báo cáo với Ban Pháp chế HĐND TP.HCM, Phó Chánh án TAND TP Trần Văn Sự cho biết trong sáu tháng đầu năm nay, toàn ngành đã giải quyết gần 1.300 vụ án quá hạn nhưng vẫn còn 915 vụ các loại, trong đó nhiều nhất là án dân sự (gần 700 vụ).

Theo ông Sự, nguyên nhân là do tính chất, mức độ của các vụ án ngày càng phức tạp nhưng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử quá ngắn, không còn phù hợp với thực tế. Điển hình như các tranh chấp đòi bảo hiểm xã hội. Người sử dụng lao động thường nợ bảo hiểm xã hội kéo dài, tiền lương của người lao động có nhiều biến động, doanh nghiệp ngừng hoạt động và đa số chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn ra nước ngoài. Cạnh đó còn một số nguyên nhân khác như tài sản tranh chấp ở nhiều nơi, bị đơn không hợp tác với tòa… Các cơ quan có thẩm quyền chậm trả lời xác minh của tòa mặc dù tòa đã có công văn nhắc nhở nhiều lần. Đối với những trường hợp tranh chấp tài sản là nhà đất, khi định giá thường gặp khó khăn và mất nhiều thời gian…

Riêng các vụ án hình sự quá hạn không nhiều (54 vụ). Nguyên nhân thường do các vụ án có nhiều bị cáo, trong đó có các bị cáo đang tạm giam ở một vụ án khác, đang thi hành án ở tỉnh xa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bị cáo tại ngoại không đến. Có trường hợp luật sư xin hoãn xử vì bận tham gia tố tụng ở vụ khác.

Theo Chánh tòa hình sự TAND Nguyễn Đức Sáu, sắp tới TAND TP sẽ đưa ra xét xử những vụ án trọng điểm như vụ “kỳ án” Đặng Nam Trung, vụ Gò Môn, vụ đài Quán Tre…

Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: CẢI CHÍNH NĂM SINH CỦA VIỆT KIỀU, TỈNH ĐẨY CHO HUYỆN LÀ SAI QUI ĐỊNH

ÁI NHÂN

Tỉnh không thể lấy lý do đã bàn giao sổ bộ cho huyện và xã vì không đúng Nghị định 158. Chị Lê Hồng An sinh tại xã Long An, huyện Tân Châu, An Giang và đang định cư ở Pháp. Giấy khai sinh và các giấy tờ khác của chị như hộ khẩu, lý lịch, hộ chiếu… đều ghi chị sinh năm 1980.

Sổ bộ có khác biệt

Do cần một số giấy tờ để bổ sung hồ sơ nhập quốc tịch Pháp nên chị An đã nhờ cha mình đi trích lục bản sao giấy khai sinh. Bấy giờ, người cha phát hiện bản sao vừa được cấp ghi chị An sinh năm 1984. Để có sự thống nhất, người cha đã nộp đơn đề nghị UBND huyện Tân Châu cải chính năm sinh cho chị An.

Tuy nhiên, Phòng Tư pháp huyện đã từ chối giải quyết yêu cầu nêu trên. Trong công văn trả lời cho người cha ngày 5-7-2007, Phòng Tư pháp huyện cho biết “chưa đủ cơ sở giải quyết cải chính hộ tịch cho chị An vì theo báo cáo của UBND xã, năm sinh của chị An (năm 1984) được ghi theo đúng sổ bộ của xã; việc đăng ký khai sinh của chị An được thực hiện theo đúng quy định”.

Không đồng ý, người cha đã khiếu nại đến Sở Tư pháp tỉnh An Giang. Trong công văn gửi UBND huyện ngày 1-11-2007, sở này có nêu: Sở Tư pháp đã thẩm tra, xác minh thực tế tại địa phương và nhận thấy việc cải chính năm sinh của chị An từ năm 1984 thành năm 1980 là có cơ sở giải quyết. Bởi sau khi sinh chị An vào năm 1980 thì đến năm 1981, người cha có thêm một con gái. Điều này được hàng xóm, thân tộc của chị An và sổ hộ khẩu gia đình ghi nhận. Sở Tư pháp tỉnh đã yêu cầu UBND huyện Tân Châu giải quyết vụ việc vì Sở không còn lưu giữ sổ bộ do đã bàn giao cho cấp huyện và cấp xã từ năm 2006.

Continue reading