CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN phân định các thành phần kinh tế

PGS.TS. VŨ ANH TUẤN – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân. Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…

Về lý thuyết, ở thời kỳ này vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trên thực tế không có sự bình đẳng giữa các thành phần, cạnh tranh giữa các thành phần không được thừa nhận, thị trường hình thành bị chi phối bởi cơ chế hai giá, công cụ kế hoạch chủ quan bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Điều đó vi phạm yêu cầu các quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trải qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế mới – cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường đó, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và thực hiện một cơ cấu kinh tế khách quan – cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiến lược lâu dài, nhất quán trong phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Continue reading

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

PGS.TS. VŨ ANH TUẤN – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân. Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…

Về lý thuyết, ở thời kỳ này vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trên thực tế không có sự bình đẳng giữa các thành phần, cạnh tranh giữa các thành phần không được thừa nhận, thị trường hình thành bị chi phối bởi cơ chế hai giá, công cụ kế hoạch chủ quan bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Điều đó vi phạm yêu cầu các quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trải qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế mới – cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường đó, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và thực hiện một cơ cấu kinh tế khách quan – cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiến lược lâu dài, nhất quán trong phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Continue reading

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

Continue reading

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS.TS. HỒ VĂN VĨNH – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

I. Một số khái niệm về thương mại, dịch vụ

Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.

Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể.

Continue reading

TRÍ THỨC VÀ CÔNG THỨC BỔ NHIỆM MINH BẠCH

TS. NGUYỄN NGỌC HIẾU – Đại học Tổng hợp London UCL

Để trí thức đóng góp tốt hơn vào sự nghiệp phát triển thì chúng ta cần có trí thức trưởng thành và chuyên nghiệp. Muốn có điều đó lại cần đề cao tính chuyên nghiệp, bổ nhiệm theo thực tài với cả những đối tác của trí thức, kể cả những người chủ, chính trị gia và nhà quản lý trong cả xã hội.

Những ngày gần đây rất nhiều bài viết trao đổi về chính sách sử dụng trí thức và nhận thức về đội ngũ trí thức. Những quan điểm này dường như coi trí thức như một lực lượng xã hội hay công cụ riêng biệt từ bên ngoài.

Bài viết này nhìn nhận vấn đề trí thức từ bên trong, là một bộ phận xã hội và việc họ có thể phục vụ hiệu quả cho xã hội không chỉ dựa vào sự thay đổi về đối xử với một tầng lớp.

Không ai sinh ra đã là trí thức. Từ học sinh bình thường một bộ phận ưu tú sẽ phấn đấu trở thành trí thức. Tuy nhiên, khi đã trở thành trí thức rồi dường như nhiều trí thức ở Việt Nam không tiếp tục "lớn lên".

Lúc đi học, học sinh Việt Nam có lẽ cũng không thua kém so với học sinh phương Tây. Tuy nhiên, sau khi đã có nhãn, mác ít sinh viên tiếp tục ra báo và công trình mới nữa hoặc công trình có giá trị, ứng dụng thực tiễn không nhiều. Khá nhiều trí chuyển sang làm quản lý và phai nhạt dần chuyên môn. Họ làm việc của người làm kinh doanh hay chính trị, khi đó họ không còn là trí thức sáng tạo ra giá trị nữa.

Continue reading

ĐÔI ĐIỀU VỀ “VĂN HÓA DOANH NGHIỆP”

NGUYỄN TÂN KÝ

Trong một buổi hội thảo bàn về văn hóa doanh nghiệp, diễn giả – giáo sư của một trường đại học nổi tiếng thế giới – nói nền tảng của văn hóa doanh nghiệp chính là các giá trị cốt lõi (core value) và dựa trên các giá trị cốt lõi đó, những giá trị mà tổ chức, doanh nghiệp coi là thiêng liêng và cao quý nhất, sẽ hình thành nên sứ mệnh hay tầm nhìn định hướng của doanh nghiệp. Và ông lấy các ví dụ tầm nhìn, sứ mệnh của các công ty nổi tiếng thế giới như IBM, Sony, Wal-Mart, Apple, Walt Disney… làm ví dụ minh họa.

Nghe các ví dụ và phân tích rất hay, có người hỏi ông có thể giúp doanh nghiệp viết về tầm nhìn và các giá trị nền tảng được hay không. Khi nghe đến đây, vị giáo sư cười và trả lời rằng ông chỉ có thể cung cấp các ví dụ và giải thích tại sao họ (các công ty) lại đưa ra các tầm nhìn, sứ mệnh như vậy, còn việc xác định hay viết ra chúng phải là chính những người lãnh đạo doanh nghiệp. Ông nói thêm: “Không ai ngoài chính bản thân các bạn biết được mình muốn điều gì cho doanh nghiệp của mình, đối với bạn điều gì là cao quý nhất, là thiêng liêng nhất là thứ để bạn sẵn sàng theo đuổi cả sự nghiệp của mình”.

Quả đúng như vậy. Xác định các giá trị nền tảng là việc của chính các chủ doanh nghiệp, những người sáng lập, những người lãnh đạo công ty. Không ai khác, chính họ sẽ biết được đích xác họ muốn gì, những giá trị nào là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp hay tổ chức. Từ những giá trị nền tảng này sẽ hình thành nên sứ mệnh hay tầm nhìn định hướng của doanh nghiệp và những điều này sẽ tạo nên cách ứng xử của nhân viên trong công ty với khách hàng, với cộng đồng và cả với đồng nghiệp.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THÌ HÀNH ÁN SAI RỒI ĐỂ ĐÓ

TRÙNG KHÁNH

Dù đã kê biên và thông báo bán nhà nhưng chấp hành viên lại buộc người phải thi hành án tháo dỡ nhà để phát mại đất. Năm 1987, TAND tỉnh Long An xử buộc chồng bà Trần Thị Phùng (ngụ phường 5, thị xã Tân An, Long An) trả cho nguyên đơn một số tiền tương đương 23,3 tấn gạo.

Buộc tháo dỡ nhà để phát mại đất

Tháng 6-1989, để cưỡng chế thi hành án, chánh án TAND thị xã Tân An ra quyết định kê biên căn nhà lá 70 m2 do vợ chồng bà Phùng xây dựng trên 192 m2 đất thuê của người khác. Đến năm 1990 (sau thời điểm vợ chồng bà Phùng bị kê biên nhà), mẹ bà Phùng đã mua lại số đất này (phân thành hai lô) rồi chuyển nhượng cho bà Phùng. Ngay sau đó, bà Phùng đã được UBND tỉnh Long An ra quyết định giao quyền sử dụng đất.

Giữa năm 1992, TAND thị xã Tân An đăng báo cho biết sẽ phát mại căn nhà trên để thi hành án. Nhưng cùng thời điểm này, chấp hành viên lại yêu cầu vợ chồng bà Phùng tháo dỡ nhà để phát mại hai lô đất. Bà Phùng liền nộp đơn khiếu nại với lý do số đất đó là tài sản riêng của bà. TAND thị xã Tân An nhận đơn nhưng không giải quyết và đã cho phát mại đất. Ba tháng sau, do không ai mua và người được thi hành án cũng không chịu nhận đất nên chấp hành viên đã bán hai lô đất cho hai người khác.

Continue reading

KHÁI NIỆM CÔNG TY HỢP DANH TẠI LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Là một hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, công ty hợp danh bao giờ cũng được nhắc tới trước tiên trong các đạo luật hay các công trình nghiên cứu về công ty. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, công ty hợp danh bị gắn với một hình thức công ty khác là công ty hợp vốn đơn giản để cùng được gọi là “công ty hợp danh”. Theo tác giả, cách thức này đã dẫn đến sự nhận thức thiếu chính xác về cả hai hình thức công ty này, và còn dẫn đến nhiều quy định không thích hợp đối với chúng.

Nguyên nhân của khiếm khuyết nêu trên thể hiện rất rõ qua Luật Doanh nghiệp năm 2005, có lẽ là do nhà làm luật thiếu nhận biết chính xác về các hình thức công ty đang tồn tại từ xưa tới nay trên thế giới, cũng như ở Việt Nam trước kia, thiếu chú trọng một cách cần thiết tới công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Trong tiếng Anh, công ty hợp danh được gọi là “general partnership” hay “simply partnership”, còn công ty hợp vốn đơn giản được gọi là “limited partnership”. ở các nước thuộc họ pháp luật Anh – Mỹ, mỗi dạng công ty nói trên có quy chế pháp lý riêng về thành lập và vận hành. Có lẽ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi pháp luật Hoa Kỳ?

Xét về bản chất, từ thủa ban đầu, công ty hợp danh là sự liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để cùng nhau hoạt động dưới một tên hãng chung. Cho đến nay, dù có đôi chút thay đổi về chủ thể tham gia vào sự liên kết đó (sẽ được phân tích sau), thì sự nhận thức như vậy về bản chất của công ty hợp danh vẫn rất có giá trị trong việc giải thích nhiều vấn đề có liên quan. Có thể hiểu một cách giản dị, công ty hợp danh là một công ty của hai hay nhiều người cùng tiến hành hoạt động kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận. Cũng có thể hiểu, một công ty hợp danh được xem là một người và cùng với nó là các chủ sở hữu của nó (1). Khác hơn thế, Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam định nghĩa:

Continue reading