MẤY VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU VÀ THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở NƯỚC TA

PGS.TSKH. NGUYỄN VĂN ĐẶNG – Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

Trải qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm, tư duy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thay đổi có tính cách mạng trên nhiều vấn đề to lớn và trọng đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đã có những đổi mới tư duy lý luận – thực tiễn rất quan trọng về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế gắn với những đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện dân chủ hóa kinh tế, đổi mới chế độ phân phối và nhận thức rõ hơn về định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cũng đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn để giải phóng sức sản xuất, phát huy ngày càng tốt hơn mọi nguồn lực của đất nước, tạo tiền đề thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1 – Những đổi mới quan trọng của Đảng về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế

Từ Đại hội VI, Đảng ta đã khẳng định phải giải phóng sức sản xuất, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo; coi đó là khâu đột phá để phát triển. Chủ trương phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để sức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân. Từ đó tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Điều đáng chú ý là đã lấy phát triển lực lượng sản xuất làm động lực để hoàn thiện và đổi mới quan hệ sản xuất. Continue reading

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KHI NGƯỜI SỐNG BỊ KHAI TỬ

THANH HẢI

Bệnh viện lẫn thân nhân của “người chết” đều có lỗi nên mới dẫn đến cớ sự. Qua nhiều trở ngại, cuối cùng cô P. cũng được xóa tên khỏi sổ khai tử và xin nhập hộ khẩu trở lại. Hơn sáu năm nay, bà Nguyễn Thị G. (phường 25, quận Bình Thạnh, TP.HCM) loay hoay chạy tới lui làm thủ tục xin nhập lại hộ khẩu cho con gái của bà đã bị cắt hộ khẩu trước đây. Vướng mắc bắt nguồn từ khi con gái của bà bị khai tử từ năm 1998 bất thình lình trở về nhà vào tháng 12-2002.

Nhận diện nhầm

Theo trình bày của bà G., con gái bà là HTNP (năm nay 47 tuổi) bị bệnh tâm thần, đi lạc từ năm 1997. Đến tháng 1-1998, bà G. nhận được tin báo tại Bệnh viện An Bình có phụ nữ vô danh chết. Do xác của người này đã bị thiêu nên bà không trực tiếp nhận diện con được mà chỉ nhận diện qua ảnh chụp xác chết. Thấy giống cô P. nên gia đình đã nhận giấy báo tử của Bệnh viện An Bình và làm thủ tục khai tử cho cô P. tại UBND phường 25 (quận Bình Thạnh).

Tháng 12-2002, bà G. bất ngờ nhận được tin báo của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Dăk Lăk đề nghị bà liên hệ với bệnh viện để nhận cô P. về. Gia đình bà khấp khởi mừng thầm đến nhận con nhưng lần này bà đã cẩn thận đề nghị bệnh viện cung cấp các giấy tờ chứng minh con mình đã được điều trị nhiều năm tại đây. Sau khi xác định đúng là cô P., bà G. đưa con về nhà chăm sóc đến nay. Tuy nhiên, từ khi trở về, cô P. không có giấy tờ tùy thân và sống tại địa phương với hồ sơ pháp lý là đã chết. Gia đình bà G. nhiều lần làm đơn gửi công an quận xin nhập lại hộ khẩu cho cô P. nhưng đều bị từ chối với lý do cô P. đã được khai tử từ năm 1998.

Continue reading

KHI NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ KINH DOANH

LÊ VĂN TỨ

Nếu nền kinh tế tập trung bao cấp công hữu hóa không chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân, thì ngược lại, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần lại đòi hỏi phải có thành phần kinh tế nhà nước, đơn giản chỉ vì nếu thiếu, thì đó không còn là kinh tế thị trường nhiều thành phần nữa.

Theo định đề này, có thể thấy cải cách doanh nghiệp nhà nước có hai nội dung chủ yếu:

1. Cổ phần hóa một bộ phận kinh tế nhà nước, trong đó cổ phần hóa được hiểu giống như tư nhân hóa khi toàn bộ một doanh nghiệp được cổ phần hóa và đa phần trường hợp là chỉ cổ phần hóa một phần doanh nghiệp. Cả hai dạng cổ phần hóa nêu trên đều đã diễn ra trong thực tế.

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước sẽ có hai loại: (i) Doanh nghiệp nhà nước (không/chưa cổ phần hóa), bao gồm những doanh nghiệp lớn trong những ngành kinh tế – kỹ thuật nòng cốt. Những doanh nghiệp này có thể mang những tên gọi khác nhau, như Tập đoàn A, Tổng công ty B, Công ty cổ phần C, Công ty TNHH một thành viên D…, song có đặc điểm chung: Nhà nước vẫn là chủ sở hữu duy nhất. Nhà nước cần nắm giữ những doanh nghiệp này vì đó chính là sức mạnh và cũng là quyền lực kinh tế mà Nhà nước có thể trực tiếp sử dụng cùng với quyền lực chính trị để quản lý xã hội. Và đó cũng là những lĩnh vực mà Nhà nước phải đảm nhiệm duy trì và phát triển, dù vốn đầu tư có lớn, suất sinh lợi có thấp. (ii) Doanh nghiệp cổ phần hóa một phần, sở hữu hỗn hợp, Nhà nước chỉ là một đồng sở hữu, với tên gọi là Công ty cổ phần N, Công ty cổ phần M… Phân biệt hai loại doanh nghiệp như vậy nhằm tạo thuận tiện cho việc xây dựng cơ chế quản lý kinh doanh của chủ sở hữu – Nhà nước phù hợp với từng loại.

Continue reading

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HIỆN NAY

PGS. TS. VŨ TRỌNG KHẢI

Trong thời gian vừa qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng đều phản ánh thực trạng nông nghiệp nông thôn, nông dân với biết bao vấn đề nảy sinh đang bức xúc đòi hỏi phải giải quyết. Dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả nước, 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 20% GDP và do đó, về cơ bản họ cũng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ con số đó mà thôi;

Chênh lệch thu nhập giữa nông dân và thị dân ngày càng cao, với chỉ số Gini khoảng 0,43; Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế, nông dân là tầng lớp dễ bị tổn thương nhất; Họ đang đứng bên lề của quá trình đó nên ít được hưởng lợi; Nông dân bị mất đất do phát triển công nghiệp, du lịch và đô thị mà không kiếm được kế sinh nhai mới; Môi trường tự nhiên và nhân văn ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng với sự xuất hiện nhiều làng ung thư, các con sông chết, các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống ngày càng bị mai một, tệ nạn xã hội nông thôn ngày càng gia tăng…. Thế nhưng, theo tôi, còn một thực trạng nữa chưa hay ít được bàn tới là “thực trạng chính sách phát triển nông thôn với những vấn đề nảy sinh cũng rất bức xúc cần được giải quyết”. Bởi vì chúng là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất, nếu không nói là chủ yếu, gây ra tình trạng và các vấn đề nói trên trong nông nghiệp, nông thôn.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM

VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 4-6-2009 đăng bài Cần một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp của TS. Nguyễn Sỹ Phương và số ra ngày 11-6-2009 có bài Muốn bộ máy chuyên nghiệp phải có công chức có trách nhiệm” của tác giả Diệp Văn Sơn. Hai bài viết đã đề cập đến một vấn đề “nóng” trong bộ máy nhà nước ta hiện nay. Xin góp thêm tiếng nói vào vấn đề nêu trên là làm gì để có những công chức có trách nhiệm?

Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để có những công chức có trách nhiệm nên làm ngay những việc sau đây:

Một là, cải tiến công tác tuyển chọn công chức. Cơ chế tuyển chọn hiện nay của nước ta thiếu công khai, minh bạch và còn nhiều kẽ hở để lợi dụng. Biểu hiện của điều đó là việc tuyển chọn không dựa trên những tiêu chuẩn về năng lực thực sự mà chỉ dựa trên chứng chỉ, bằng cấp, vốn nhiều khi được mua bằng tiền.

Hơn nữa, việc tuyển dụng và đề bạt công chức bị chi phối bởi nhiều quan hệ cá nhân; những người giỏi chuyên môn nhưng không “ngoan” thường không được trọng dụng… Một khi “đầu vào” của đội ngũ công chức như vậy thì không thể kỳ vọng có một đội ngũ công chức có trách nhiệm, có lương tâm với công việc.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 238/BC-UBTVQH12 NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT QUẢN LÝ NỢ CÔNG

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Chiều ngày 29 tháng 5 năm 2009, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về Dự án Luật quản lý nợ công.

Trên cơ sở ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Cơ quan thẩm tra, Cơ quan soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, hoàn chỉnh Dự án Luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp này.

UBTVQH xin báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý Dự án Luật quản lý nợ công như sau:

1. Về phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật

(1) Có ý kiến cho rằng, phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng lại quy định về việc vay lại của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp được vay lại từ nguồn vay của Nhà nước như chính quyền địa phương thì phải bổ sung nợ của DNNN vào phạm vi điều chỉnh của luật và quy định thành một chương riêng như nợ của chính quyền địa phương.

UBTVQH xin giải trình như sau:

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật đã bao gồm phần nợ của DNNN liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ trả nợ của NSNN (Điều 1). Đó là nợ Chính phủ cho DNNN vay lại, nợ DNNN được Chính phủ bảo lãnh; theo đó, Điều 23 quy định đối tượng được vay lại là doanh nghiệp, Điều 24 quy định điều kiện để doanh nghiệp được vay lại, trong đó có DNNN… Việc DNNN vay lại nguồn vay của Chính phủ là khâu sử dụng vốn vay của nợ công.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 236/BC-UBTVQH12 NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Ngày 21/5/2009, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Luật bồi thường nhà nước. Đã có 22 đại biểu Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật và 02 đại biểu Quốc hội góp ý bằng văn bản. Về cơ bản, các đại biểu Quốc hội tán thành với những nội dung tiếp thu, chỉnh lý được thể hiện trong dự thảo Luật và Báo cáo giải trình số 220/BC-UBTVQH12 ngày 07/5/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đồng thời góp ý về nhiều điều, khoản cụ thể của dự thảo Luật. Trên cơ sở ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra, cơ quan trình dự án Luật và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật để trình Quốc hội thông qua.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sau:

1. Tên gọi và phạm vi điều chỉnh

– Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành tên gọi của Luật là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, một số ý kiến vẫn đề nghị giữ tên gọi của dự thảo Luật là Luật bồi thường nhà nước.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 248/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai được các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở Tổ (chiều ngày 22/5/2009) và tại Hội trường (sáng ngày 02/6/2009). Qua ý kiến thảo luận và một số ý kiến tham gia bằng văn bản, cho thấy, về cơ bản các đại biểu Quốc hội nhất trí với Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và nội dung của Dự án Luật. Đồng thời, cũng còn một số ý kiến tập trung vào một số vấn đề về: sự cần thiết, đối tượng được sở hữu nhà, số lượng nhà được sở hữu, quyền và nghĩa vụ của người mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất… Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo nghiên cứu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai như sau:

1. Về sự cần thiết

Đa số ý kiến đại biểu đều nhất trí với sự cần thiết phải sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai để điều chỉnh các đối tượng và điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Có một số ý kiến đề nghị cần phải làm rõ tính cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung Dự án Luật này và sử ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ở trong nước.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 249/BC-UBTVQH12 NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA XII GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở tổ (ngày 29/5/2009) và Hội trường (ngày 8/6/2009) về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản. Đã có 217 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và 27 lượt ý kiến phát biểu tại Hội trường. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, nghiên cứu nghiêm túc để tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật như sau:

1. Về sự cần thiết ban hành và quy trình xem xét, thông qua dự án Luật

Đa số các vị đại biểu Quốc hội đều nhất trí về việc cần phải sửa đổi, bổ sung một số điều ở một số luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm cải cách thủ tục, thúc đẩy tiến độ đầu tư xây dựng các dự án, công trình. Một số ý kiến tuy nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật, nhưng cho rằng, vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản liên quan đến nhiều luật, thời gian chuẩn bị còn ít, để bảo đảm chất lượng thì cần thêm thời gian nghiên cứu, xem xét, rà soát kỹ lưỡng, sửa đổi toàn diện các luật liên quan, do vậy, đề nghị xem xét, thông qua dự án Luật theo quy trình tại 2 kỳ họp thứ 5 và thứ 6. Cũng có ý kiến chưa tán thành việc sửa đổi, bổ sung này.

Continue reading