TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. HOÀNG MẠNH HÙNG – Chánh án Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy

Trong bộ máy nhà nước ta, Toà án nhân dân có vị trí vô cùng quan trọng. Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: "Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật". Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí quan trọng của Toà án nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Vị trí này xuất phát từ "tính hệ thống và tính chỉnh thể của hệ thống tư pháp bản thân chúng đã cho thấy rõ vai trò trung tâm của Toà án (khâu xét xử) trong hệ thống tư pháp"(1).

Có thể nói, trong nhiều giai đoạn lịch sử của Nhà nước ta, Toà án nhân dân đã trải qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổ chức cũng như phương thức hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kết quả phát triển và lớn mạnh của Toà án nhân dân ngày nay thể hiện đậm nét sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân.

1- Những quan điểm cơ bản của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới

Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới thể hiện ngay từ các văn kiện ban hành sau Đại hội VII. Quan điểm này được thể hiện ở nhiều văn kiện, trong đó có các văn kiện tiêu biểu như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 8-11-1993 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật"; Chỉ thị số 34 – TC/TW ngày 18-3-1994 của Ban Bí thư về "Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà án quân sự các cấp"; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16-3-2000 của Bộ Chính trị về "Phạm vi trách nhiệm, quyền hạn giữa cấp uỷ Đảng với Đảng uỷ Công an, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân, Ban Cán sự đảng Toà án nhân dân trong công tác bảo vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên"; Chỉ thị số 53 – CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21-3-2000 về "Một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000". Continue reading

BÀN VỀ KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA

GS. NGÔ THÀNH DƯƠNG

Gần đây trên báo chí và phát thanh truyền hình trong nước một số bài viết và nói đã sử dụng khái niệm "xã hội hóa". Các tác giả nói về chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội hóa giáo dục và văn hóa. Có bài chỉ nói thoáng qua, nhưng có bài lại phân tích lý luận về xã hội hóa. Ở đây tôi muốn trao đổi về mặt lý luận để chúng ta sử dụng khái niệm đó như thế nào cho chính xác.

Lượm lặt qua các báo tôi tóm tắt một số ý kiến nói về "xã hội hóa" như sau:

"Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa – coi đây là một biện pháp rất cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế, của các tổ chức xã hội, của mọi người".

"Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục".

"Chuyển một số trường đại học, cao đẳng bán công sang loại hình tư thục. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước…

"Huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, xã hội hóa các hoạt động văn hóa".

Người ta dẫn chứng việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đó như là cho phép thành lập một số công ty làm phim tư nhân, vận động xã hội hóa việc tu sửa giữ lại dáng hình xưa của các phố cổ v.v…

Theo cách nói trên, người ta hiểu khái niệm xã hội hóa như sau:

Continue reading

BÌNH ĐẲNG VỀ GIỚI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

GS. LÊ THI – Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1946 đã công bố nguyên tắc "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 lại khẳng định rõ nguyên tắc này.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào Công ước Cedaw, nhằm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

Văn bản của Liên hợp quốc cũng đã nói rõ "Bình đẳng về giới là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế – xã hội và văn hoá của đất nước"(1). Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế.

Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nguyên tắc này của Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trong học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá và nghề nghiệp; bình đẳng trong lao động, tìm kiếm việc làm, sắp xếp lương bậc, đề bạt, cất nhắc; bình đẳng trong việc tham chính vào các cơ quan chính quyền và dân sự các cấp; bình đẳng trong việc hưởng thụ các phúc lợi vật chất và tinh thần; bình đẳng trong gia đình, trong sử dụng tài sản, quyết định công việc quan trọng và chăm sóc con cái.

Continue reading

VỀ TÍNH HỢP PHÁP, HỢP LÝ TRONG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

THS. TRẦN VĂN DUY – Học viện Tư pháp

Quyết định quản lý nhà nước (QLNN) chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động QLNN, là phương tiện không thể thiếu để các chủ thể QLNN sử dụng nhằm thực hiện chức năng QLNN. Quyết định QLNN có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý; đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính hoặc làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng; làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.

Vì vậy, các chủ thể QLNN khi ban hành quyết định QLNN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay có trách nhiệm phải bảo đảm để quyết định đó phải hội đủ được những yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý. Nói cách khác, đó phải là một quyết định QLNN có tính khả thi cao, được xây dựng phù hợp với đường lối chính trị, nhu cầu, nguyện vọng của người dân.

1. Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý nhà nước hiện nay

Theo yêu cầu đặt ra trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, một quyết định QLNN chỉ có hiệu lực thi hành khi nó hợp pháp, tức là thoả mãn tất cả các yêu cầu sau:

Thứ nhất, quyết định QLNN được ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên.

Continue reading