SỞ HỮU TRÍ TUỆ: MỘT TÀI SẢN KINH DOANH QUÍ BÁU

JEANNE HOLDEN

Tài sản trí tuệ là tài sản quý của mỗi doanh nhân, bao gồm những sản phẩm trí tuệ có giá trị thương mại và được cấp quyền sở hữu hợp pháp của chủ doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên. Ví dụ về sản phẩm trí tuệ bao gồm sản phẩm mới và tên sản phẩm, phương pháp sản xuất mới, quy trình sản xuất mới, chương trình khuyến mại mới, hoặc một kiểu dáng mới.

Hàng rào hay những chiếc khóa không thể bảo vệ được những tài sản vô hình. Do đó, bằng sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu là công cụ để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh trục lợi từ những ý tưởng của cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Bảo vệ tài sản trí tuệ là quyết định rất thực tế của doanh nghiệp. Thời gian và tiền bạc bỏ ra để đầu tư hoàn thiện một ý tưởng có thể sẽ bằng không nếu những đối tượng khác bắt chước. Đối thủ cạnh tranh có thể đặt mức giá thấp hơn vì họ không phải trả các chi phí đầu tư ban đầu. Mục đích của luật sở hữu trí tuệ là khuyến khích đổi mới sáng tạo bằng cách dành cho những người sáng chế khoảng thời gian nhất định để kiếm lời từ những ý tưởng mới của họ và hoàn vốn đầu tư phát triển.

Quyền sở hữu trí tuệ có thể được mua, bán, cấp phép hoặc cho biếu tự do. Một số doanh nghiệp có thể kiếm hàng triệu đô-la từ việc cấp phép hoặc bán các bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu của họ.

Continue reading

MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG TRƯỚC XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

TS. LÊ VINH DANH -  Đại học bán công Tôn Đức Thắng, thành phố Hồ Chí Minh

Tiến trình toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược. Bên cạnh những thời cơ mới do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, đến nay vẫn còn quá nhiều lo lắng về các tác động tiêu cực của nó, nhất là trong phạm vi việc làm đối với người lao động và vấn đề điều chỉnh chính sách lao động hiện nay ở nước ta. Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho rằng, dù mặt tích cực do quá trình toàn cầu hóa kinh tế đem lại là rất lớn, nhưng những mặt tiêu cực, thách thức cũng không nhỏ.

Vấn đề là ở chỗ, biết tận dụng tốt những thời cơ mới và hạn chế tối đa những thách thức thì sẽ đem lại nhiều thành công cả về phương diện vĩ mô nền kinh tế, cũng như vi mô và ngay cả đối với bản thân người lao động. Vậy, cần có những điều chỉnh gì cả về thái độ của người lao động và chính sách lao động của Nhà nước để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực.

1 – Những lo lắng về tác động tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóa kinh tế

Khi xuất hiện lần đầu tiên năm 1962, thuật ngữ "toàn cầu hóa" mang nhiều ý nghĩa rộng hơn những nội hàm chỉ về kinh tế. Chính sự bùng nổ hàng loạt phát hiện trong khoa học và công nghệ là nguyên nhân thúc đẩy trái đất của chúng ta trở nên gần gũi, liên kết thành một khối hơn bao giờ hết so với trước đây. Nếu khoảng cách địa lý, không gian, thời gian từng củng cố tinh thần cục bộ, lãnh thổ và quốc gia, thì việc thu hẹp các khoảng cách nói trên là cơ sở để thế giới trở thành một chỉnh thể và khái niệm toàn cầu như một chỉnh thể trở nên có thể nhận thức được thuận lợi hơn bao giờ hết.

Continue reading

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN NỘI DUNG QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

THS.LS. LÊ MINH HẢI – Trưởng VPLS Royal

Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt biểu hiện ở khả năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại. Đó cũng là quan niệm chung nhất được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, áp dụng và trở thành một nguyên tắc tố tụng cơ bản. Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự đã khái quát:

Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; Trong quá trình giải quyết vụ viêc dân sự, các dân sự có quyên chấm dứt, thay đổi yêu câu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Từ hành vi khởi kiện, quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện qua các nội dung như quyền khác như: quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút các yêu cầu; quyền hoà giải, thương lượng; quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh; quyền kháng cáo. Như vậy, trên phương diện pháp lý chung nhất, quyền tự định đoạt của đương sự bao hàm tất cả các nội dung quyền trên. Nhưng trên thực tế cho thấy, trong quá trình tố tụng, đặc biệt là thực tiễn hoạt động xét xử ở nước ta hiện nay, việc áp dụng pháp luật của toà án tại các địa phương ở các cấp khác nhau là chưa thống nhất, thậm chí là trái ngược nhau về quan điểm xét xử. Trong bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm về những nội dung còn tồn tại như sau:

Continue reading

KHỞI KIỆN ĐƠN VỊ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG VI PHẠM LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI TẠI TÒA ÁN

LÊ QUYẾT THẮNG – Trưởng ban Kiểm tra, BHXH Việt Nam

Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 01/01/2007. Theo quy định của Luật BHXH, các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách BHXH đă rõ ràng, cụ thể tại Điều 134, Điều 135 gồm các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, các hành vi vi phạm về thủ tục thực hiện BHXH như: không đóng, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; cố tì́nh gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động …

Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Theo đó đă phân loại, quy định cụ thể mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi trên là 20.000.000 đồng. Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xă hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đă có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lăi phát sinh.

Như vậy, chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH nói chung và về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH bắt buộc nói riêng đă tương đối đầy đủ nhưng với những quy định như hiện nay cho thấy: mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm và tiền lăi phát sinh không cao. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không có dấu hiệu giảm.

Continue reading

CÔNG TÁC KIỂM TRA XỬ LÝ VĂN BẢN QUI PHẠM CÓ DẤU HIỆU TRÁI PHÁP LUẬT

BÙI NGUYỄN

1. Thấy gì từ thực tế?

Sau 5 năm thực hiện, cùng với sự khởi sắc trong hoạt động của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp, có thể nói Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã hoàn thành sứ mệnh của mình với nhiều “tiếng còi” chính xác điểm mặt, chỉ tên các VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật, gây thiệt hại cho đời sống, người dân. Tuy nhiên, cùng từ những hoạt động hiệu quả của Nghị định 135, có thể thấy còn khá nhiều vấn đề xuất phát từ thực tiễn của công tác kiểm tra văn bản.

Bạt ngàn “sản phẩm lỗi”

Theo thống kê của Bộ Tư pháp tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2008, trong năm 2008 toàn ngành Tư pháp đã kiểm tra được 38.083 văn bản, trong đó phát hiện 8.752 văn bản có sai sót; đã kiến nghị xử lý 4.565 văn bản. Riêng Cục Kiểm tra văn bản QPPL – Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra 1.968 văn bản theo thẩm quyền (gồm 865 văn bản của cấp Bộ và 1.283 văn bản của địa phương), bước đầu phát hiện 490 văn bản có sai sót về nội dung và hình thức. Trở lại năm 2007, qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp Bộ và địa phương trong năm này, đã phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Như vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm. Các văn bản chủ yếu sai về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày, một số văn bản có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung hoặc thẩm quyền…

Continue reading

HIỆU LỰC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC: TRÊN BẢO MỘT ĐẰNG, DƯỚI LÀM MỘT NẺO

LÊ TRỌNG NGHĨA

Báo Người Đại biểu nhân dân số ra ngày 9.5.2009 có bài: “Hà Nội: Thu hồi đất của một hộ để bán cho hộ khác” phản ánh về vụ gia đình ông Lê Phúc Thủy ở 123 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội bị đe dọa cưỡng chế bàn giao mặt bằng mảnh đất đang sinh sống hợp pháp để quận bán đấu giá cho hộ khác làm nhà ở. Chuyện tưởng như bịa này lại là sự thật đã diễn ra nhưng sai phạm vẫn được bảo lưu.

Trên một bảo đằng, dưới làm một nẻo

Như chúng tôi đã phản ánh, gia đình ông Thủy ở trên đất 123 Nguyễn Văn Cừ từ trước ngày 15.10.1993, có hộ khẩu thường trú, có tên trong sổ địa chính, đóng thuế đất liên tục từ 1992 đến nay… nên theo Điều 50 Luật Đất đai 2003, đây là sử dụng đất hợp pháp. UBND quận Long Biên ra quyết định cưỡng chế bàn giao mặt bằng cho người khác là không đúng pháp luật.

Sau khi gia đình ông Lê Phúc Thủy khiếu nại quyết liệt đến các cấp lãnh đạo và các cơ quan báo chí, UBND quận Long Biên đã mời đương sự đến để trao đổi trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại. Ngày 3.6 vừa qua, UBND TP Hà Nội cũng đã ra Văn bản số 5008/ UBND-TNMT giao Thanh tra TP Hà Nội xem xét để từ đó tổng hợp, đề xuất báo cáo UBND thành phố.

Continue reading

THỰC TIỄN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM: ĐÒI BẢO HIỂM BỒI THƯỜNG, KHỔ ĐỦ ĐƯỜNG!

PHONG ĐIỀN

Lúc mua bảo hiểm ai cũng tưởng sẽ dễ dàng được bồi thường nếu xảy ra tai nạn nhưng khi đi đòi tiền bảo hiểm mới thấy… oải!

Quanh chuyện yêu cầu các đơn vị bảo hiểm bồi thường trong các vụ tai nạn giao thông lâu nay có không ít phiền toái. Hành trình đòi chi trả bảo hiểm xe máy của chị Nguyễn Thị Nương (xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, Cà Mau) là một câu chuyện dài đầy mệt mỏi mà phóng viên Pháp Luật TP.HCM vô tình ghi nhận được.

Mua bảo hiểm nơi này, chi trả nơi khác

Tháng 1-2009, chị Nương và chị ruột là Nguyễn Lệ Hoa đi xe máy đến địa phận xã Ninh Gia (huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) thì bất ngờ bị hai chiếc xe tải lấn đường khiến chị Nương lạc tay lái ngã xuống đường. Khi tỉnh dậy, thấy chị Hoa nằm bất động bên cạnh, chị Nương gắng gượng gọi người dân đưa đi cấp cứu ở Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng. Hai ngày sau, chị Hoa được chuyển lên Bệnh viện đa khoa Đà Lạt cấp cứu thì tử vong do chấn thương quá nặng. Chị Nương đành mang thi hài chị Hoa về quê ở Cà Mau lo ma chay, chôn cất.

Continue reading

LẠM PHÁT ĐÓNG DẤU . . . “MẬT”

LS. PHAN TRUNG HOÀI

Trong phiên toà do Toà án nhân dân TPHCM đang xét xử vụ án điện kế điện tử, đã bất ngờ phát hiện bản kết luận giám định của Hội đồng Giám định tư pháp đã được đóng dấu "mật"!

Theo quy định của pháp luật, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong quản lý nhà nước đều có chế độ quản lý tài liệu, thông tin làm sao đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhưng không xâm hại đến quyền tiếp cận thông tin một cách công khai, minh bạch của các đối tượng quản lý.
Vì thế mới sinh ra việc chế định danh mục các tài liệu có độ "mật", "tối mật", "tuyệt mật" do Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng bộ, ngành và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành, mà nếu ai vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Không chỉ ở nhiều nước có trình độ phát triển cao, chính quyền quy định cả thời hạn và cơ chế "giải mật", cho phép công bố cả những điều tuyệt mật, mang tính nhạy cảm để bàn dân thiên hạ biết, mà ngay ở nước ta, vừa rồi Cục Lưu trữ Quốc gia thuộc Bộ Nội vụ cũng đã tổ chức công bố một số thông tin, tư liệu để người dân hiểu rõ thêm về một sự kiện của một giai đoạn lịch sử…
Vậy mà trong phiên toà do Toà án nhân dân TPHCM đang xét xử vụ án điện kế điện tử, trong phần thẩm vấn của luật sư, đã bất ngờ phát hiện bản kết luận giám định của Hội đồng Giám định tư pháp theo vụ việc do Bộ Công thương thành lập, đã được đóng dấu "mật"!

Continue reading

TỪ KINH NGHIỆM CỦA NGƯỜI VIỆT LAO ĐỘNG Ở NƯỚC NGOÀI: NGHĨ VỀ NỀN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO CỦA VIỆT NAM

GS. NGUYỄN XUÂN THU (Australia)

Ước mong của người viết là nhắn gửi một thông điệp đến các nhà lãnh đạo và quản lý giáo dục Việt Nam kể cả những ai quan tâm đến tiền đồ giáo dục của đất nước rằng, muốn đạt được mục tiêu cao nhất trong giáo dục đào tạo, chúng ta phải đào tạo cho được các thế hệ người lao động có ba yếu tố.

Đó là kỹ năng tri thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng văn hoá doanh nghiệp nhào quyện trong người đi học phải được đào tạo trước khi họ rời khỏi ghế nhà trường.
Trước hết, bất cứ người lao động ở nước nào cũng có những điểm mạnh và điểm yếu. Thế mạnh của lao động người Việt ở nước ngoài được thừa nhận là thân thiện, nhanh nhẹn, chịu khó, cần cù, ít tranh cãi với chủ lao động, có khuynh hướng không muốn thay đổi chỗ làm thường xuyên.
So với người lao động đến từ các nước khác, người lao động Việt Nam thường bộc lộ những yếu kém như thiếu kỷ luật trong lao động, thiếu tự giác, ít sáng kiến, ít nghĩ đến lợi ích chung của cơ quan, ít trật tự ngăn nắp trên công trường, ít để ý đến các bản hướng dẫn kỹ thuật mang tính nguyên tắc, chưa quan tâm đúng mức đối với an toàn lao động, chưa quen với tác phong công nghiệp, ít thích hội nhập với các cộng đồng chung quanh và người bản xứ. Nói chung, người Việt đi lao động ở nước ngoài chưa xây dựng được một thương hiệu lao động nổi bật đáng được giới sử dụng lao động quý trọng.

Continue reading

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI, HOÀN THIỆN CÁC QUAN HỆ GIỮA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CÁC TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

DOÃN ĐÌNH HUỀ

I- Thực trạng về mối quan hệ Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.

Lâu nay, ở nước ta Đảng giữ vai trò lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước nhân dân về vận mệnh đất nước. Đảng đã lãnh đạo bằng cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cơ chế này đã tạo niềm tin trong nhân dân và sự nghiệp cách mạng của Đảng đã được thăng hoa và bền vững. Sở dĩ có cơ chế này là do Đảng ta đã vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách sáng tạo vào thực tiễn ở Việt Nam. Nhận thức được vai trò tích cực của chính trị, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tổ chức chính tri – xã hội trong việc giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Do vậy, nói đến chính trị là nói đến chính quyền Nhà nước, đến chế độ xã hội, đến sự sống còn của chế độ xã hội đó. V.I. Lê-nin chỉ rõ: Nếu không có một chính đảng, thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ nền thống trị của mình và do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ kinh tế của mình. Thực tế cho thấy nếu một đảng cầm quyền không biết sử dụng hệ thống chính trị thì chỉ có thất bại trên đấu trường chính trị. Bởi vì, chính trị là tham gia Nhà nước, là chỉ đạo Nhà nước, là xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước. Tất cả các vấn đề cơ cấu của Nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo giai cấp, … đều thuộc phạm vi chính trị. Điều cần lưu ý là chính trị là biểu hiện lợi ích căn bản của các giai cấp và quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp đó. Nó cũng biểu hiện lợi ích giữa các dân tộc và giữa các nước, quan hệ giữa các giai cấp và do đó chính trị của giai cấp ấy sinh ra từ địa vị kinh tế của họ. Vì vậy, Lê-nin đã khẳng định bằng luận điểm nổi tiếng là: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”(1). Tất cả các tổ chức chính trị, các hình thức Nhà nước thay đổi và phát triển trên cơ sở sự thay đổi và phát triển nền kinh tế – xã hội. Điều cần lưu ý là những tư tưởng lý luận xã hội, những tổ chức chính trị sinh ra trên cơ sở phát triển kinh tế. Nếu những tư tưởng, lý luận của tổ chức đó tiến bộ thì nó tạo điều kiện cần thiết cho việc phát triển xã hội đi lên, còn nếu không sẽ ngược lại làm kìm hãm sự phát triển xã hội, dẫn đến suy vong. Continue reading