KIẾN TRÚC THƯƠNG HIỆU: CHUYỆN CÂY BƯỞI

LÊ CHÍ CÔNG – Giám đốc Nemo Consulting

Nếu như khó khăn ban đầu của các doanh nghiệp khi mới thành lập là tìm ra được một sản phẩm hay dịch vụ có khả năng gây tiếng vang trên thị trường thì trong giai đoạn phát triển, việc quản lý nhiều sản phẩm và nhiều thương hiệu lại càng phức tạp hơn.

Cách đây vài năm, đã có nhiều trông đợi vào tiềm năng gia tăng giá trị của bưởi Năm Roi – một thương hiệu nông sản nổi tiếng của Việt Nam – khi được biết có sự đầu tư khá bài bản vào việc xây dựng thương hiệu. Thế nhưng, không hiểu sao gần đây giá của loại bưởi này rớt nhiều trên thị trường. Điều gì đã xảy ra đối với loại bưởi này, trong khi một loại khác có tên là bưởi da xanh giá cao hơn gấp vài lần lại không đủ hàng để xuất khẩu?

Lý giải vấn đề này, một nông dân trồng bưởi da xanh ở miền Tây chia sẻ rằng để đảm bảo chất lượng của mỗi trái bưởi mang thương hiệu “bưởi da xanh” bán ra bên ngoài thị trường, đơn giản là anh đã phải hy sinh, loại bỏ bớt số lượng trái trên mỗi cây bưởi. Nhìn từ lăng kính của người tiêu dùng, chất lượng bưởi không đồng đều và nhất quán được xem là nguyên nhân chính gây ra sự sụt giảm giá trị của thương hiệu bưởi Năm Roi. Diễn đạt bằng hình ảnh, công việc quản trị một kiến trúc thương hiệu cũng tương tự như công việc chăm sóc cả cây và trái bưởi vậy.

Continue reading

VẤN ĐỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP CỔ PHẦN HÓA

ĐOÀN TẤT THẮNG

Để đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá (CPH) doanh nghiệp Nhà nước (DNNN), ngày 16/11/2004, Chính phủ đã ban hành Nghị định 187/2004/NĐ-CP về chuyển công ty Nhà nước thành công ty cổ phần thay thế cho Nghị định số 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 với nhiều sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của nước ta. Ngày 22 tháng 12 năm 2004, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 126/BTC hướng dẫn thực hiện Nghị định số 187/CP của Chính phủ về chuyển Công ty Nhà nước thành công ty cổ phần.

Tồn tại và vướng mắc

    Những đổi mới của Nghị định 187/CP của Chính phủ và Thông tư số 126/BTC của Bộ Tài chính đã cơ bản đưa việc CPH theo hướng nâng cao tính công khai, minh bạch, tính chuyên nghiệp và gắn với thị trường; gắn việc phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thu hút các nhà đầu tư chiến lược, khắc phục tình trạng CPH khép kín trong nội bộ doanh nghiệp. Tuy vậy, trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại và vướng mắc khi xác định giá trị doanh nghiệp theo các văn bản pháp quy trên.

Xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản:

    – Đối với những tài sản cố định hữu hình:

    Việc xác định giá trị tài sản là hiện vật (tài sản hữu hình) theo Thông tư 126/BTC chỉ xác định giá những tài sản mà Công ty cổ phần tiếp tục sử dụng. Giá trị thực tế của tài sản được tính theo công thức:

GT thực tế của TS = Nguyên giá tính theo giá thị trường  x  Chất lượng còn lại của TS tại thời điểm thẩm định giá.

Continue reading

CẢI CÁCH TẬP ĐOÀN NHÀ NƯỚC VÀ CHỮ “DÁM”

VIETNAMNET – Đòi hỏi nóng bỏng lúc này là mổ xẻ thực trạng các tập đoàn kinh tế (TĐKT) quốc doanh và các tổng cty để chống lạm phát hữu hiệu, đề ra những quyết định đưa hoạt động của nhóm này vào sự quản lý theo luật công khai minh bạch, cắt bỏ mọi “quan hệ” đang phát sinh và mọi “bao cấp"… Mọi việc phải bắt đầu bằng một chữ Dám.

Tạo quả đấm thép hay đẻ thêm gánh nặng?

    Nước ta hiện nay có 8 TĐKT quốc doanh (thuộc sở hữu Nhà nước). Cả nước có 18 tổng công ty 91 và 73 tổng công ty 90 mang dáng dấp các TĐKT quốc doanh hoặc công ty mẹ – công ty con, (không rõ bao nhiểu tổng công ty 91 và bao nhiêu tổng công ty 90 đã trở thành hoặc đã được đưa vào nhóm 8 TĐKT quốc doanh vừa kể trên). Toàn bộ các đơn vị kinh tế này chiếm khoảng 54% về vốn, 62% doanh thu và 73% tiền nộp ngân sách trong tổng số 5.970 DNNN hiện nay (khu vực kinh tế quốc doanh).

    Các số liệu thống kê cho biết khu vực kinh tế quốc doanh (5970 DNNN nói trên) chiếm từ 53% đến 67% vốn kinh doanh của DN cả nước; có tài sản cố định cao hơn tài sản cố định của các DN tư nhân trong và ngoài nước nhưng không được thể hiện trong các số liệu thống kê về vốn. Hàng chục năm nay, các DNNN có tỷ lệ đóng góp vào GDP ước khoảng 37-39%; tạo công ăn việc làm cho khoảng 4,4% tổng số lao động, những năm gần đây tạo ra không đáng kể việc làm mới; chỉ đóng góp từ 25% đến 34% sản lượng công nghiệp; các DNNN hầu như tham gia không đáng kể vào các khu vực nông, lâm, ngư nghiệp. Khu vực các DNNN có nhập siêu thường xuyên và lớn nhất trong hàng chục năm nay…

Continue reading

CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC ĐẠI HỌC BẰNG TƯ DUY KINH TẾ

PHẠM TRẦN LÊ

Việc cải thiện chất lượng giáo dục đào tạo đại học được nhắc đến thường xuyên trong công luận như một vấn đề bức thiết nhưng cho đến nay vẫn chưa có những giải pháp mang tính toàn diện và triệt để, vừa đạt được mục tiêu về cải thiện chất lượng dạy và học đồng thời giúp cho bài toán quyền lợi của các cá nhân liên quan được giải quyết hợp lý. Một giải pháp như vậy đòi hỏi được xem xét qua tư duy kinh tế với ba câu hỏi căn bản là: xã hội có nhu cầu gì ở giáo dục đại học; hiện trạng đào tạo đại học hiện cung ứng tới đâu; lộ trình nào để từng bước giúp cung và cầu gặp nhau.

Cung và cầu tri thức chưa gặp nhau

Nói theo tư duy kinh tế thì con người cần tri thức để thỏa mãn tối ưu cho các nhu cầu của nó trong điều kiện hạn chế các nguồn tài nguyên. Như vậy là xã hội cần tri thức để có thể sử dụng các nguồn tài nguyên với hiệu quả tối ưu. Bên cạnh đó, xã hội cũng cần đội ngũ nhân lực có khả năng vận dụng những tri thức này. Trong hoàn cảnh các nguồn tài nguyên của đất nước còn hạn hẹp, nhu cầu tri thức để giúp tối ưu hóa là rất lớn, không đâu là không có.

Đứng trước nhu cầu với tri thức và nhân lực như vậy, các trường đại học đáp ứng được tới đâu? Thu nhập bình quân người Việt Nam còn rất nghèo chính vì thiếu khả năng tận dụng các nguồn lực. Đa số các sản phẩm con người làm được trong nền kinh tế chỉ mới dừng ở mức độ sử dụng trực tiếp hoặc sơ chế các nguồn nguyên liệu tự nhiên. Điều đó hiển nhiên là do xã hội thiếu tri thức, thiếu nhân lực chất lượng cao. Hai cái thiếu này là do nguồn cung ứng tri thức và nhân lực còn chưa đáp ứng được.

Continue reading

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG TRẺ

MẠC TIẾN ANH

Cơ cấu chất lượng lao động thanh niên trong lực lượng lao động Theo thống kê lao động việc làm, năm 2006, lực lượng lao động đang làm việc trong các ngành/lĩnh vực của nền kinh tế là khoảng 43 triệu người, trong đó hơn 30% ở độ tuổi 15-30 và hàng năm vẫn có khoảng hơn 1,3 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Như vậy, có thể nói lực lượng lao động của Việt Nam là lực lượng lao động trẻ. 

Tuy nhiên, về chất lượng, lực lượng lao động trẻ còn có những hạn chế. Học vấn thấp, kỹ năng nghề nghiệp chưa cao là một trong các nguyên nhân dẫn đến năng suất lao động của lao động Việt Nam nói chung và lao động thanh niên nói riêng chưa cao. Về học vấn, vẫn còn trên 15% số lao động chưa tốt nghiệp tiểu học, trong đó chưa biết chữ chiếm gần 4%.

Trình độ học vấn còn được thể hiện qua chỉ tiêu số năm đi học bình quân. Số liệu điều tra cho thấy, số năm đi học của lực lượng lao động trẻ cao hơn so với bình quân chung toàn quốc. Tuy nhiên vẫn có sự chênh lệch nhất định giữa lao động trẻ là nữ và lao động trẻ nam. Đặc biệt còn có sự cách biệt khá lớn về số năm đi học bình quân giữa lao động trẻ ở nông thôn và thành thị. Chẳng hạn ở nhóm lao động từ 15-19 tuổi, đối với lao động nam, số năm đi học của lao động ở nông thôn là 7,6 năm, trong khi đó số năm đi học của lao động ở thành thị là 8,8 năm. Tương tự, đối với lao động nữ ở nhóm này là: nông thôn 7,4 năm và thành thị 9,4 năm.

Continue reading

NÂNG CAO VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TS. TÔ HUY RỨA

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát mà nước ta lựa chọn trong thời kỳ đổi mới. Nó vừa mang tính chất chung của kinh tế thị trường, vừa có những đặc thù, được quyết định bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Đây là sự vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm trong nước và thế giới về phát triển kinh tế thị trường, là sự kết tinh trí tuệ của toàn Đảng trong quá trình lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước. Đảng ta đã xác định một cách nhất quán kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo. Vì vậy, việc xác định một cách rõ ràng và nhất quán vị trí, vai trò của kinh tế nhà nước trong quá trình hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế đất nước là rất cần thiết.

Ở nước ta, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước là xuất phát từ lợi ích của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, là "hòn đá thử vàng" để xem xét sự đúng hướng hay chệch hướng xã hội chủ nghĩa trong tiến trình phát triển kinh tế. Kinh tế nhà nước càng phát huy tốt vai trò chủ đạo bao nhiêu thì kinh tế – xã hội sẽ phát triển nhanh, góp phần thực hiện mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" nhanh và vững chắc bấy nhiêu.

Tuy nhiên, phải thừa nhận rằng, hiện nay, trong thành phần kinh tế nhà nước các doanh nghiệp nhà nước giữ vị trí cơ bản và rất to lớn nhưng không ít đơn vị chưa xứng đáng với vai trò mà nó đang nắm giữ. Vẫn tồn tại những doanh nghiệp nhà nước không những không nuôi nổi người lao động của mình, mà còn luôn đòi được Nhà nước cứu trợ cho sự tồn tại của nó; số khác liên tục thua lỗ, dù đã hơn một lần được Nhà nước "khoanh nợ" hoặc trợ cấp vốn từ ngân sách. Sự phê phán của dư luận xã hội đối với kinh tế nhà nước chính là nhằm vào bộ phận những doanh nghiệp loại này. Xét từ góc độ lợi ích của xã hội mà Nhà nước là người đại diện, những doanh nghiệp nhà nước được nêu ở đây thật sự đang là những gánh nặng, cần giải quyết càng sớm càng tốt.

Continue reading

NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM – NHÌN TỪ SỰ PHÁT TRIỂN, TIẾN BỘ XÃ HỘI

VŨ PHÙ NGHĨA

Ở các góc độ khác nhau, người ta có thể đưa ra nhiều tiêu chí để đánh giá về tình hình nhân quyền của một quốc gia. Tuy nhiên, có một tiêu chí cơ bản mà bất cứ ai cũng phải thừa nhận, đó là "quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Điều này đã được "Tuyên ngôn Độc lập" của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ xác nhận từ năm 1776.

Từ luận cứ cơ bản này, soi rọi vào xã hội nước ta, kể từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước, nhất là những thay đổi tích cực trong đời sống xã hội cũng như cuộc sống của người dân đã cho thấy chăm lo đến các quyền cơ bản của người dân luôn luôn là mối quan tâm, là mục đích nhất quán của Đảng và Nhà nước ta. Một thực tế không thể phủ nhận là, mặc dù một đất nước phải gánh chịu những di chứng nặng nề của những năm dài chiến tranh, xuất phát điểm về kinh tế, xã hội lại thấp kém, lạc hậu nhưng vấn đề nhân quyền ở Việt Nam đã được thực hiện ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn cùng với sự phát triển, tiến bộ của đất nước.

Xuất phát từ hoàn cảnh một đất nước nông nghiệp lạc hậu, khi người dân Việt Nam phải sống lầm than, tủi nhục dưới ách nô lệ của đế quốc, phong kiến; bị đe dọa triền miên bởi đói, rét, mù chữ, nghèo túng thì nói tới nhân quyền không gì khác hơn trước hết người dân phải có cơm ăn, áo mặc, được học hành, được sống trong tự do, độc lập. Nhiều tổ chức và nhiều người Việt Nam yêu nước đã nhận ra thực tế trên và tìm cách đưa dân tộc thoát khỏi thực trạng đó, song vì lý do này hay lý do khác đều không thành công. Trên thực tế, duy nhất Đảng Cộng sản đã giải quyết thành công được yêu cầu này. Lý do sâu xa của sự thành công đó chính là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng phù hợp với nguyện vọng thiết thực, đồng thời đó cũng là quyền con người của đại đa số quần chúng nhân dân.

Continue reading

NHỮNG XU HƯỚNG TRONG THIẾT KẾ THƯƠNG HIỆU

VÕ VĂN QUANG – Giám đốc Cowan (Úc) tại Việt Nam

Thiết kế thương hiệu bao gồm rất nhiều vấn đề vừa mang tính chiến lược vừa là công việc sáng tạo. Sự kết hợp hài hòa giữa các vấn đề phân tích chiến lược kết hợp với quá trình sáng tạo và thiết kế thương hiệu là việc làm bắt buộc đối với một quy trình chuyên nghiệp xác lập thương hiệu.

CI chỉ là bề nổi

Trong giới thiết kế quảng cáo hiện nay đang phổ biến thuật ngữ CI (corporate identity – thiết kế thương hiệu công ty) và ngay trong các trường lớp chính quy, kể cả các trường nước ngoài (Singapore), vẫn dùng thuật ngữ này như một  khái niệm phổ biến khi nói đến thiết kế thương hiệu. Thật ra chỉ riêng vấn đề sáng tạo thương hiệu thì mảng thiết kế thương hiệu bao gồm những lĩnh vực thiết kế khác nhau sau đây:

(1) Thiết kế hệ thống nhận diện thương hiệu công ty: mảng này sử dụng thuật ngữ “corporate identity” là chính xác.

(2) Thiết kế hệ thống bao bì sản phẩm (packaging design) áp dụng cho nhóm thương hiệu sản phẩm tiêu dùng “có bao bì”.

(3) Thiết kế kiểu dáng sản phẩm: các sản phẩm hữu hình mà bao bì không quan trọng về mặt tiêu dùng ví dụ như xe gắn máy, đồ điện tử, điện thoại di động. Thiết kế kiểu dáng và thiết kế thương hiệu là hai công việc được tách biệt và thường do hai nhóm thiết kế có chuyên môn khác nhau thực hiện.

Continue reading