GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: NHỮNG KẼ HỞ VÀ RỦI RO

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29-12-2006 hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự 2005 về các giao dịch bảo đảm (Nghị định 163) đã ban hành và có hiệu lực được hơn hai năm. Bài viết này phân tích một số quy định chưa hợp lý hoặc còn thiếu sót của Nghị định 163 nhìn từ góc độ vận dụng trên thực tiễn hoặc khi đối chiếu với các quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Nhà ở 2005. 

Về thỏa thuận thứ tự ưu tiên thanh toán

Khoản 2 điều 6 Nghị định 163 quy định rằng: “Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thỏa thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền”. Ở đây chúng ta có thể chia quy định này thành hai vế. Vế thứ nhất cho phép các bên liên quan thỏa thuận thay thế thứ tự ưu tiên khi tài sản bảo đảm được xử lý (mặc dù bên được thế quyền ưu tiên đăng ký giao dịch bảo đảm sau bên bị thế quyền). Vế thứ hai quy định rằng phạm vi được ưu tiên thanh toán chỉ “trong phạm vi bảo đảm” của bên bị thế quyền.

Theo vế thứ nhất, quy định này có nghĩa là nếu một tài sản được dùng bảo đảm cho hai hoặc nhiều nghĩa vụ(1) thì các bên được bảo đảm có quyền thỏa thuận về thứ tự được ưu tiên thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý. Trên thực tế, thỏa thuận về thứ tự thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý là khá phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.

Continue reading

VIỆC ÁP DỤNG HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

GS. LÂM QUANG THIỆP – Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Vài nét lịch sử về học chế tín chỉ

1.1. Thế giới

Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên (SV) có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi SV có thể lựa chọn một cách rộng rãi. Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ.(1)(3)(4)

Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ (TC) được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống TC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun… Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống TC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học (3). Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế TC (European Credit Transfer System -ECTS) (5) trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới.

Continue reading

SẼ CÓ QUI ĐỊNH VỀ NĂM NHÓM ĐỐI TƯỢNG CÔNG CHỨC

TTXVN – Bộ Nội vụ vừa hoàn chỉnh Dự thảo Nghị định Quy định những người là công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo Dự thảo Nghị định này, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng là công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập).

Dự thảo Nghị định quy định 5 nhóm đối tượng công chức gồm:

Thứ nhất, công chức trong các cơ quan của Đảng làm việc trong các cơ quan, tổ chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan chuyên trách Đảng ủy cơ sở và cấp trên cơ sở trong các cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở lên.

Continue reading

XU HƯỚNG TOÀN CẦU ĐẾN NĂM 2025 DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CÁC NHÀ DỰ BÁO MỸ

NGUYỄN NHÂM – LÊ THÀNH

Dưới tiêu đề: “Xu hướng toàn cầu 2025: Một thế giới đã thay đổi” là bản báo cáo của Trung tâm nghiên cứu chiến lược trực thuộc Chính phủ Mỹ (NIC) ngày 21/11/2008, đệ trình lên Tổng thống và Giám đốc Tình báo Quốc gia, các cơ quan hoạch định chính sách vĩ mô của Mỹ. Đây được coi là “bảng chỉ dẫn” cho Chính quyền của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma. Báo cáo đã đưa ra những quan điểm về tương lai của thế giới đến năm 2025.

Thế giới đa cực hình thành, vai trò của Mỹ thuyên giảm

Báo cáo khẳng định, năm 2025, Mỹ vẫn sẽ là tác nhân đơn độc quan trọng nhất nhưng không còn giữ được vị trí thống trị thế giới như trước. Tuy Mỹ vẫn duy trì lợi thế quân sự đáng kể nhưng những bước tiến về khoa học và công nghệ, việc các nước khác sử dụng “chiến thuật chiến tranh phi truyền thống”, tình trạng phổ biến vũ khí chính xác tầm xa và ngày càng gia tăng các cuộc tiến công mạng “sẽ hạn chế đáng kể quyền tự do hành động của Mỹ”.

“Hệ thống đa cực toàn cầu” sẽ nổi lên, đặc biệt đánh dấu bằng sự trỗi dậy của các nước: Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc cùng một số nước khác (BRIC). Tuy nhiên, Trung Quốc và Ấn Độ dường như tập trung nhiều vào việc phát triển trong nước hơn là thay đổi hệ thống quốc tế. Báo cáo cho rằng, không một nước nào trong số các nước BRIC có thể thách thức được vị trí hiện nay của Mỹ như theo cách mà người Đức và Nhật đã làm trong thế kỷ XIX và XX. Vì vậy, hệ thống quốc tế được thiết lập sau Thế chiến thứ 2 sẽ “không thể hiện diện” vào năm 2025. Tuy nhiên, hệ thống đa cực đang nổi lên sẽ có xu hướng không ổn định do Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản tranh giành ảnh hưởng, thị trường và nguồn năng lượng. Điều này đồng nghĩa với việc vai trò hiện nay của Mỹ như một tác nhân cân bằng trong khu vực sẽ có tầm quan trọng lớn hơn hiện nay, kể cả khi sức mạnh của Mỹ bị giảm sút.

Continue reading

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VIỆT NAM

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Cán bộ, công chức:

       – Là công dân Việt Nam,

       – Trong biên chế,

      – Hưởng lương từ ngân sách nhà nước; ( Riêng cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật).

Có 8 nhóm cán bộ, công chức gồm:

          a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

          b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việctrong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Continue reading

MẤY VẤN ĐỀ VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. PHẠM KHÔI NGUYÊN

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, các chính sách thương mại, tài nguyên và môi trường có vai trò hỗ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực sự nó đang nỗ lực giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Do đó, một quốc gia để đạt được mục tiêu trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, bền vững cần khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên. Trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, các nước đang phát triển rất quan tâm tới việc chống lại và loại bỏ khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm nhập khẩu vào nước họ mà không tuân thủ các quy trình sản xuất, các sản phẩm không phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, bao trùm hầu hết các lĩnh vực và lôi cuốn nhiều nước tham gia. Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, có nhiều vấn đề phức tạp được đặt ra đối với lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường của Việt Nam

Trong thời gian qua, hoạt động hợp tác về tài nguyên và môi trường cơ bản đã duy trì được quan hệ với các đối tác sẵn có, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song phương: tích cực tham gia các chương trình hợp tác, các công ước quốc tế liên quan đến các lĩnh vực địa chính, tài nguyên nước, khoáng sản, khí tượng – thuỷ văn, bảo vệ môi trường.

Continue reading

MỆNH LỆNH HÀNH CHÍNH “CHỎI” QUAN HỆ DÂN SỰ

VŨ NGUYỄN

Trước thực trạng mua bán suất tái định cư (TĐC) tràn lan trên địa bàn thành phố trong thời gian qua, sở Xây dựng vừa trình UBND thành phố dự thảo về chấn chỉnh, xử lý việc này. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc dùng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào quan hệ dân sự là trái với quy định.

Tinh thần chính của dự thảo là thành phố sẽ cấm mọi trường hợp mua bán, sang nhượng, mua bán suất TĐC, căn hộ, nền đất TĐC chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

70 – 80% hộ tái định cư bán suất…

Theo sở Xây dựng, tỷ lệ bán suất TĐC trên địa bàn thành phố có nơi lên đến 70 – 80%. Kiểm tra thực tế, nhiều nhà ở, nền đất TĐC cư chưa được cấp giấy chủ quyền vẫn được người dân chuyển nhượng với nhiều hình thức như uỷ quyền có công chứng để bên được uỷ quyền (thực chất là bên mua) đứng ra làm thủ tục mua nhà trả góp, đóng tiền, nhận nhà, đất… Có nhiều trường hợp hoặc mua bán suất TĐC bằng giấy tay. Điển hình, tại quận 2, lãnh đạo địa phương cho biết, rất nhiều người dân bị giải toả tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm đã bán lại suất TĐC, không chỉ gây khó khăn cho công tác giải toả đền bù, bố trí TĐC mà còn đẩy giá căn hộ TĐC lên rất cao.

Continue reading

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

PHẠM PHƯƠNG ĐÔNG

Trong hai mươi năm đổi mới, mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, mức sống của người dân cải thiện rõ rệt, theo đó, việc đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng cũng được nâng lên một bước. Trong lĩnh vực này, Nhà nước ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thiết lập các cơ chế giám sát xã hội khác nhau từ cấp trung ương xuống địa phương để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam.

1. Những thành tựu đạt được

– Bổ sung hoàn chỉnh luật pháp bảo vệ người tiêu dùng và quyền lợi người tiêu dùng

Cũng như nhiều nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam là một trong những công cụ, phương tiện chủ yếu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đã được ban hành (số 13/1999/PL-UBTVQH10, ngày 27-4-1999). Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản lý bằng “Pháp lệnh chất lượng hàng hoá” (số 18/1999/PL-UBTVQH10). Các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đã phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27-04-2000 nhằm chống lại các hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nước ta. Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên bình đẳng hơn.

Continue reading