TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH: LOAY HOAY KÊU KIỆN MẤT HÀNH LÝ MÁY BAY

GIA LINH

Do phải đổi chuyến bay nên khách hàng và hành lý phải về Việt Nam trên 2 chuyến bay khác nhau. Lúc nhận hành lý, khách hàng tá hoả khi túi bị lục tung, 2 chiếc máy tính xách tay không cánh mà bay…

Hành lý bị lục tung, 2 máy tính xách tay biến mất

Phản ánh với phóng viên VietNamNet, anh Trương Quang Huy hiện đang sống và làm việc tại Houston, Texas, Hoa Kỳ cho biết: "Do có kế hoạch về Việt Nam để lập gia đình nên tôi đã mua vé máy bay của hãng Korean Air theo chặng Houston – Dallas – Seoul – TP. Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, do chuyến bay từ Houston đi Dallas phải huỷ bỏ nên tôi được bố trí đi trên chuyến bay UA869 của hãng United Airlines theo lộ trình: Houston – San Francisco – Hong Kong về TP. Hồ Chí Minh vào đêm 21/5/2009. Trong khi đó, hành lý của tôi được chuyên chở trên một chuyến bay VN939 từ Seoul về TP. Hồ Chí Minh ngày 24/5/2009.

Sau khi về tới TP. Hồ Chí Minh, tôi đã liên hệ với Sân bay Tân Sơn Nhất thì được hẹn đến chiều ngày 23/5 và cuối cùng là ngày 24/5/2009 tới bộ phận Thất lạc hành lý để nhận lại hành lý. Đúng hẹn, chiều 24/5 tôi đã tới khu vực Hành lý thất lạc ở ga đến Quốc tế – Sân bay Tân Sơn Nhất nhận đồ thì phát hiện toàn bộ các túi hành lý ký gửi của tôi đều bị lục tung, nhiều túi đồ dùng bị xé toạc và 2 chiếc máy tính xách tay (hiệu Sony Vaios và Dell) mới tinh, còn nguyên trong hộp giấy đã biến mất.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: MỘT VIỆT KIỀU MÒN MỎI CHỜ TÒA ÁN XÉT XỬ TRONG VỤ LY HÔN

M.T.P

TAND TP Hồ Chí Minh thụ lý vụ kiện "tranh chấp tài sản sau ly hôn" của bà Phạm Nguyễn Quỳnh Thị Tuyết (Ruby Quynh Pham), quốc tịch Mỹ, từ ngày 22/2/2008 đến nay đã gần 16 tháng nhưng vẫn chưa đưa ra xét xử.

Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 302/QĐ-CNTT ngày 7/4/2006 của TAND TP HCM thể hiện: Nguyên đơn – bà Phạm Nguyễn Quỳnh Thị Tuyết (Ruby Quynh Pham), quốc tịch Mỹ, thường trú tại 9243 Pipilo St Sandieo CA 92129 USA  thuận tình ly hôn với ông Lưu Hoàng Ba, thường trú tại 003 Lô D, chung cư Phạm Viết Chánh, phường 19, Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh.

Về con chung của hai người (tên là Lưu Hoàng Karen, SN 2000) do bà Tuyết nuôi dưỡng, ông Ba có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2 triệu đồng cho đến khi Karen trưởng thành. Về tài sản chung, ông Ba được quản lý, sử dụng và sở hữu sau khi hợp thức hóa căn nhà 7B-B1, đường Hoa Lan, phường 2, Phú Nhuận và 1 căn hộ số 003 Lô D, chung cư Phạm Viết Chánh, quận Bình Thạnh cùng một số tài sản khác. Nhưng ông Ba phải có trách nhiệm hoàn lại phần chênh lệch giá trị hai căn nhà cho bà Tuyết với số tiền 1,6 tỷ đồng, thời gian hoàn tiền được chia thành 7 lần trong 5 năm.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN: BÁN NHÀ NHƯNG KHÔNG GIAO GIẤY TỜ

TÂN HỢP

Căn cứ án tòa, bên bán chỉ đi công chứng hợp đồng mua bán nhà, bỏ mặc bên mua loay hoay sang tên. Tháng 2-2009, TAND TP.HCM xử phúc thẩm vụ tranh chấp hợp đồng mua bán nhà giữa ông M. (ngụ quận 9, TP.HCM) là nguyên đơn với bà Đ. (ngụ gần bên) là bị đơn.

Bên muốn hủy, bên không

Ông M. cho biết vào năm 1997, ông có ký hợp đồng bán một phần căn nhà ở phường Tăng Nhơn Phú, quận 9 cho bà Đ. với giá 30 lượng vàng. Bà Đ. đã thanh toán 12 lượng vàng và đã được ông M. giao nhà. Thời điểm này, phần nhà đó vẫn thuộc sở hữu nhà nước và ông M. là người đứng tên thuê.

Sau khi hai bên chuyển nhượng xong, con của ông M. (cũng có tên trong hợp đồng thuê nhà) đã đứng ra phản đối. Vì thế, ông M. đã đến gặp bà Đ. để thương lượng hủy hợp đồng nhưng bà Đ. không chịu.

Đến năm 2002, ông M. được cấp giấy hồng cho căn nhà trên. Nay ông M. đòi lấy lại phần nhà đã bán cho bà Đ. kèm theo điều kiện sẽ hoàn lại cho bà Đ. 12 lượng vàng và hơn 50 triệu đồng chi phí sửa chữa nhà.

Continue reading

Quản lý thu hút và quản lý đầu tư trực tiếp nước ngoài GIAI ĐOẠN 2009 – 1010

MINH QUANG

Năm 2009, 2010 được dự báo là năm khó khăn đối với thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Do đó, ngay từ đầu năm 2009 Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, địa phương tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện triển khai dự án trong năm 2009-2010.

Giai đoạn 2006-2008: ĐTNN tăng trưởng mạnh mẽ

Trong 3 năm vừa qua, vốn FDI đăng ký đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột biến. Vốn đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước đã thu hút được 12 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm 2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết năm 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6 tỷ USD, vượt 77,4% so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006 – 2010.

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 56,7%; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 41,8%; lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng ký.

Continue reading

QUẢN LÝ THU HÚT VÀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI GIAI ĐOẠN 2009 – 1010

MINH QUANG

Năm 2009, 2010 được dự báo là năm khó khăn đối với thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Do đó, ngay từ đầu năm 2009 Chính phủ đã tăng cường chỉ đạo các cơ quan, ban ngành, địa phương tập trung tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, hỗ trợ các dự án đầu tư nước ngoài trong việc thực hiện triển khai dự án trong năm 2009-2010.

Giai đoạn 2006-2008: ĐTNN tăng trưởng mạnh mẽ

Trong 3 năm vừa qua, vốn FDI đăng ký đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ mang tính đột biến. Vốn đăng ký liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987. Năm 2006 cả nước đã thu hút được 12 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83% so với năm 2005. Năm 2007, vốn đăng ký tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD, tăng 71% so với năm 2006. Riêng năm 2008, vốn đăng ký đã đạt trên 64 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007. Như vậy, chỉ tính từ 2006 đến hết năm 2008, vốn đăng ký đã đạt 97,6 tỷ USD, vượt 77,4% so với mục tiêu đề ra cho cả giai đoạn 5 năm 2006 – 2010.

Cùng với sự gia tăng mạnh mẽ về quy mô vốn đăng ký, cơ cấu FDI theo ngành, lĩnh vực, theo đối tác đầu tư và theo vùng lãnh thổ tiếp tục có những chuyển biến tích cực. Trong 3 năm 2006-2008, vốn FDI đăng ký tập trung vào lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, chiếm 56,7%; tiếp đến là lĩnh vực dịch vụ, chiếm 41,8%; lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ thấp trong cơ cấu đầu tư, chỉ đạt 1,2% tổng vốn đăng ký.

Continue reading

LƯỢC SỬ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐƯƠNG ĐẠI

NGÔ TỰ LẬP

I. Sự ra đời của trường đại học hiện đại và ý tưởng tự trị đại học

Trường đại học hiện đại (ĐHHĐ) ở phương Tây, nhất là ở Mỹ, được xây dựng theo mô hình của Wilhelm von Humboldt (1767-1835). Tuy nhiên, cha đẻ thực thụ của trường ĐHHĐ chính là Immanuel Kant (1724-1804), người đã kết hợp triết học duy lý (rationalism) của Descartes với triết học duy nghiệm (empiricism) của Bacon và mở đầu cho thời kỳ Khai Sáng.

Khác biệt lớn nhất giữa trường ĐHHĐ với trường đại học thời trung cổ là ĐHHĐ có một tư tưởng chủ đạo, tạo thành nền tảng cho mọi hoạt động của nó, bao gồm mục đích, triết lý, phương pháp, cũng như quan hệ giữa các khoa và quan hệ của trường với nhà nước. Tư tưởng chủ đạo ấy, với Kant, là lý tính.

Trong các trường đại học Trung cổ phương Tây, kiến thức được chia thành bảy bộ môn, thuộc hai tiểu loại, gọi là Tam khoa (Ngữ pháp, Tu từ học, Lô gích học) và Tứ khoa (Số học, Hình học, Thiên văn học và Âm nhạc). Sự phân chia bộ môn này thường được gắn với tên tuổi của Aristotle nhưng thật ra có nguồn gốc từ Ai Cập. Nền giáo dục Ai Cập bao gồm việc tu dưỡng mười đức hạnh (cần thiết để đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu) và bảy môn họcgiúp cho việc giải phóng linh hồn: Ngữ pháp, Tu từ học, và Lô gích học giúp thanh lọc những gì phi lý; Số họcHình học là khoa học về không gian và trật tự siêu nghiệm, chìa khoá giải các vấn đề về tồn tại và vạn vật; Thiên văn học nghiên cứu liên hệ giữa con người với vũ trụ cùng các quy luật về số phận; Âm nhạcnghiên cứu sự hài hoà của linh hồn con người với thần linh. Hệ thống môn học Ai Cập, cũng như hệ thống các bộ môn trong mô hình của Aristotle vừa nói ở trên, đơn thuần dựa trên sự khác biệt về vấn đề nghiên cứu chứ không phải dựa trên một nguyên lý thống nhất nào.

Continue reading

Vai trò của thành phần kinh tế tư bản nhà nước – DỰ BÁO VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM

TS. ĐỖ NHẬT TÂN

I. Về khái niệm thành phần kinh tế tư bản nhà nước

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là một nội dung của kinh tế chính trị Mác- Lê-nin; là hiện tượng có thực trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có nhiều quan niệm, định nghĩa về khái niệm “thành phần kinh tế tư bản nhà nước”. Theo tôi, có một khái niệm đầy đủ hơn cả về thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đó là “hình thức tổ chức liên kết kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư nhân với nhà nước xã hội chủ nghĩa; hình thức kinh tế hiện đại để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thành kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực”.

Khái niệm này rất gần gũi và đúng với quan điểm của VI. Lê-nin trước đây khi người thực hiện chính sách kinh tế mới.

Ta có thể hiểu khái niệm này dưới nhiều góc độ.

– Về góc độ quan hệ sản xuất: Thành phần kinh tế tư bản nhà nước không phải là tiền mà là quan hệ xã hội. Đó là quan hệ kinh tế giữa nhà nước với tư nhân và tư bản tư nhân. Thành phần kinh tế này nếu phát triển ở trong các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì đó là kinh tế tư bản nhà nước của chủ nghĩa tư bản. Nếu sự phát triển ấy ở trong các nước đi theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì đó là kinh tế tư bản nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA THÀNH PHẦN KINH TẾ TƯ BẢN NHÀ NƯỚC – DỰ BÁO VỀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA NÓ Ở VIỆT NAM

TS. ĐỖ NHẬT TÂN

I. Về khái niệm thành phần kinh tế tư bản nhà nước:

Thành phần kinh tế tư bản nhà nước là một nội dung của kinh tế chính trị Mác- Lê-nin; là hiện tượng có thực trong xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Có nhiều quan niệm, định nghĩa về khái niệm "thành phần kinh tế tư bản nhà nước". Theo tôi, có một khái niệm đầy đủ hơn cả về thành phần kinh tế tư bản nhà nước, đó là "hình thức tổ chức liên kết kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư nhân với nhà nước xã hội chủ nghĩa; hình thức kinh tế hiện đại để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần thành kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa; hình thức kinh tế kết hợp nội lực với ngoại lực".

Khái niệm này rất gần gũi và đúng với quan điểm của VI. Lê-nin trước đây khi người thực hiện chính sách kinh tế mới.

Ta có thể hiểu khái niệm này dưới nhiều góc độ.

– Về góc độ quan hệ sản xuất: Thành phần kinh tế tư bản nhà nước không phải là tiền mà là quan hệ xã hội. Đó là quan hệ kinh tế giữa nhà nước với tư nhân và tư bản tư nhân. Thành phần kinh tế này nếu phát triển ở trong các nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì đó là kinh tế tư bản nhà nước của chủ nghĩa tư bản. Nếu sự phát triển ấy ở trong các nước đi theo con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội thì đó là kinh tế tư bản nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Continue reading

XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN VÀ VÌ DÂN

GS. LÊ XUÂN LỰU

Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân trong hệ thống chính trị của đất nước. Hệ thống chính trị của nước ta bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội. Mỗi thành phần trong hệ thống chính trị có vai trò riêng của mình trong sự nghiệp cách mạng.

Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đại biểu trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ thể lãnh đạo toàn bộ quá trình cách mạng Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là bộ máy quyền lực của nhân dân, có chức năng định ra luật pháp và tổ chức quản lý mọi lĩnh vực của đời sống đất nước bằng luật pháp. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tập hợp các tổ chức chính trị của nhân dân, đại diện cho lợi ích và vị trí của từng cộng đồng xã hội khác nhau, tham gia vào công việc bảo vệ lợi ích thiết thực của người lao động và động viên cộng đồng nỗ lực trong cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lấy liên minh công nông với đội ngũ trí thức làm nền tảng và là cơ sở chính trị của chính quyền nhà nước. Giữa các bộ phận của hệ thống chính trị có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau, và mỗi bộ phận có vai trò riêng của mình. Vai trò đó thể hiện ở chức năng của từng bộ phận: Đảng lãnh đạo – Nhà nước quản lý – Nhân dân làm chủ.

Continue reading