Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo tín chỉ tại Việt Nam: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

TS. NHUT HO – California State University, Northridge

TS. MICHELLE ZJHRA – Georgia Southern University

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt nam đang chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ, và trọng tâm của việc chuyển tiếp này là những thay đổi mang tính tổ chức và văn hóa cần phải được quản lý một cách đúng đắn để giúp các trường đại học trở thành những động cơ hữu hiệu cho việc sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bài viết gồm hai phần này, chúng tôi trình bày những cơ hội và thách thức trong phạm trù tổ chức và văn hóa của sự chuyển tiếp: những cơ hội liên quan đến các vấn đề về việc giảng dạy và học tập, cải tiến chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng của sinh viên, đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của giảng viên; và những thách thức về tổ chức và văn hóa như kế hoạch chiến lược vĩ mô, truyền thống, quan điểm của xã hội, và nguồn lực sẵn có. Phần một của bài viết tập trung vào việc quản lý tiến trình thay đổi dựa trên một phương thức phân tích theo hệ thống, nhấn mạnh việc đánh giá kết quả và sự cải tiến liên tục, và việc áp dụng những thực hành tốt nhất nhằm đưa đến những thay đổi vể mặt tổ chức. Phần hai của bài viết tập trung vào việc áp dụng và thực hiện những thực hành giáo dục tốt nhất gắn liền với mô hình chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ. Những thực hành tốt nhất bao gồm một hệ thống giáo dục tập trung vào việc học tập chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, phương pháp học tập và giảng dạy chủ động, khả năng suy xét thấu đáo, và khả năng đưa các sáng tạo thành sản phẩm có giá trị. Đối với Việt nam, những kỹ năng này rất cần thiết trong việc hình thành những công dân tốt cũng như nguồn lao động có kỹ năng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi phải có sự thay đổi mang tính hệ thống ở nhiều mức độ và phạm vi: sự tham gia của học sinh, phương pháp giảng dạy với mục tiêu tương ứng của nghiên cứu; và khối lượng công việc giảng dạy và học tập cũng như kỳ vọng của sinh viên và giảng viên. Một sự chú trọng rộng suốt trong hệ thống giáo dục trong việc học tập của sinh viên cùng với việc đánh giá liên tục, sẽ đem lại cho Việt nam một hệ thống giáo dục đại học xuất sắc được coi trọng trên thế giới và sẵn sàng đón nhận những thách thức của thế kỷ 21.

Continue reading

CHUYỂN ĐỔI SANG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI VIỆT NAM: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

TS. NHUT HO – California State University, Northridge

TS. MICHELLE ZJHRA – Georgia Southern University

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt nam đang chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ, và trọng tâm của việc chuyển tiếp này là những thay đổi mang tính tổ chức và văn hóa cần phải được quản lý một cách đúng đắn để giúp các trường đại học trở thành những động cơ hữu hiệu cho việc sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bài viết gồm hai phần này, chúng tôi trình bày những cơ hội và thách thức trong phạm trù tổ chức và văn hóa của sự chuyển tiếp: những cơ hội liên quan đến các vấn đề về việc giảng dạy và học tập, cải tiến chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng của sinh viên, đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của giảng viên; và những thách thức về tổ chức và văn hóa như kế hoạch chiến lược vĩ mô, truyền thống, quan điểm của xã hội, và nguồn lực sẵn có. Phần một của bài viết tập trung vào việc quản lý tiến trình thay đổi dựa trên một phương thức phân tích theo hệ thống, nhấn mạnh việc đánh giá kết quả và sự cải tiến liên tục, và việc áp dụng những thực hành tốt nhất nhằm đưa đến những thay đổi vể mặt tổ chức. Phần hai của bài viết tập trung vào việc áp dụng và thực hiện những thực hành giáo dục tốt nhất gắn liền với mô hình chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ. Những thực hành tốt nhất bao gồm một hệ thống giáo dục tập trung vào việc học tập chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, phương pháp học tập và giảng dạy chủ động, khả năng suy xét thấu đáo, và khả năng đưa các sáng tạo thành sản phẩm có giá trị. Đối với Việt nam, những kỹ năng này rất cần thiết trong việc hình thành những công dân tốt cũng như nguồn lao động có kỹ năng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi phải có sự thay đổi mang tính hệ thống ở nhiều mức độ và phạm vi: sự tham gia của học sinh, phương pháp giảng dạy với mục tiêu tương ứng của nghiên cứu; và khối lượng công việc giảng dạy và học tập cũng như kỳ vọng của sinh viên và giảng viên. Một sự chú trọng rộng suốt trong hệ thống giáo dục trong việc học tập của sinh viên cùng với việc đánh giá liên tục, sẽ đem lại cho Việt nam một hệ thống giáo dục đại học xuất sắc được coi trọng trên thế giới và sẵn sàng đón nhận những thách thức của thế kỷ 21.

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 52/2009/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 6 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.

2. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

Continue reading

HỌC THEO TÍN CHỈ DỄ VÀ KHÓ Ở ĐÂU?

PGS.TS. PHAN QUANG THẾ

Nếu như trong đào tạo theo Học phần – Niên chế, sinh viên phải học theo đúng kế hoạch học tập cả khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ của Nhà trường thì trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ sinh viên hoàn toàn quyết định kế hoạch học tập cả khóa và từng học kỳ cho phù hợp với năng lực học tập và hoàn cảnh cụ thể của mình. Kế hoạch mà Nhà trường đưa ra trong thời khóa biểu của từng học kỳ là kế hoạch gợi ý tiêu chuẩn để sinh viên có thể tốt nghiệp trong thời gian 5 năm đối với các ngành kỹ thuật và 4 năm với các ngành kinh tế. Tuy nhiên, sinh viên có thể tự quyết định kế hoạch học tập để tốt nghiệp sớm hơn hoặc muộn hơn hoặc học lâu hơn để có bằng tốt nghiệp loại khá hoặc giỏi.

Những sinh viên học chăm luôn lo lắng bị cảnh cáo kết quả học tập dẫn tới bị buộc thôi học khi bị cảnh cáo kết quả học tập hai học kỳ liên tiếp. Vậy làm thế nào để tránh được điều này? Sau đây là một số gợi ý cho các em:

DỄ

1. Hiểu các tiêu chí đánh giá kết quả học tập

            Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ yêu cầu sinh viên đạt được:

– Số tín chỉ tích lũy tối thiếu của chương trình (150 hoặc 180 đối với khối ngành Kỹ thuật);

Continue reading

NGHỊ ĐỊNH SỐ 51/2009/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 19/2008/QH12 NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THÍ ĐIỂM CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn về giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện được mua, được thừa kế, được tặng cho và sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài; trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; về xử lý vi phạm và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 19/2008/QH12).

Continue reading

TÁC ĐỘNG KHÁCH QUAN CỦA TIÊU CHÍ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

PGS.TS. VĂN ĐỨC THANH – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự

Tác động của tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội nước ta được biểu hiện đa dạng trên rất nhiều nội dung và ở mọi phương diện, lĩnh vực xã hội. Trong đó, những nội dung quan trọng cần khẳng định trước hết chính là phương thức mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa giải quyết các mối liên hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc.

Tập trung và dân chủ có mối liên hệ biện chứng với việc tổ chức nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tập trung biểu thị xu thế thống nhất mọi phương thức tổ chức và hoạt động của các định chế xã hội. Đặc biệt, với định chế xã hội – nhà nước, tập trung bao giờ cũng dẫn đến thống nhất quyền lực và là cơ sở cho quá trình thống nhất quyền lực, thường là theo hệ thống "dọc" mà cấp dưới phải phục tùng cấp trên, đồng thời cấp trên phải có trách nhiệm đầy đủ với cấp dưới. Dân chủ vừa biểu thị xu thế tạo lập và mở rộng cơ sở xã hội cho sự phân công lao động quyền lực, vừa là con đường tất yếu dẫn đến quá trình phân công quyền lực. Khác với sự phân cấp quản lý nhà nước, sự phân công quyền lực nhà nước bao giờ cũng theo hệ thống "ngang", trong đó các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vừa có sự phân định rõ ràng, vừa có sự kết hợp biện chứng với nhau.

Continue reading

CHƯA YÊN TÂM VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TBKTSG – Trong phần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội vào cuối tuần trước, các thành viên Chính phủ đã dành nhiều thời gian để làm rõ mục tiêu, phân tích tính hiệu quả của chương trình kích cầu và các giải pháp ngăn chặn nguy cơ tái lạm phát. Tuy nhiên, một số đại biểu chưa thể yên tâm khi các doanh nghiệp nhà nước, khu vực hiện đang nắm giữ phần lớn tài sản và đóng góp tới 40% GDP của quốc gia, vẫn chưa thực sự hoạt động có hiệu quả.

Gói kích cầu của Việt Nam có tổng giá trị 145.000 tỉ đồng, trong đó 17.000 tỉ dành hỗ trợ lãi suất tín dụng cho doanh nghiệp và phần để tăng đầu tư công chiếm 90.000 tỉ đồng. Chắc chắn, các doanh nghiệp nhà nước và công ty mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối sẽ được trao vai trò quan trọng trong việc thực hiện chương trình đầu tư kích cầu của Chính phủ. Do vậy, kết quả kinh doanh của nhóm doanh nghiệp này sẽ có ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả của chương trình cũng như khả năng phục hồi của nền kinh tế.

Theo bà Phạm Thị Loan, đại biểu Quốc hội thuộc đoàn Hà Nội, khối doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 400.000 tỉ đồng vốn nhà nước nhưng năm 2008 chỉ nộp cho ngân sách 52.000 tỉ đồng, trong khi khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp tới 65.000 tỉ đồng.

Continue reading