TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH trong điều kiện đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading

TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT NƯỚC CHUYỂN MẠNH SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẠP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA CHỈ LÀ MỘT VIỆC

LÊ VĂN TỨ

Cổ phần hóa chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước ở nước ta diễn ra dưới sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Các chính sách, biện pháp CPH được thể hiện trong các nghị định, quyết định của Chính phủ, các thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành của các bộ ngành và địa phương liên quan. Song, thực tế cho thấy quá trình CPH không mấy suôn sẻ, vướng mắc liên tục phát sinh.

Để tháo gỡ vướng mắc, chính sách, biện pháp CPH, và do đó các văn bản liên quan, đã phải liên tục sửa đi đổi lại. Cứ mỗi lần phát sinh vướng mắc, các cơ quan nhà nước liên quan lại phải tham gia giải quyết, dù muốn dù không, cứ bị cuốn vào vòng xoáy CPH và để rồi mang tiếng “can thiệp quá sâu”(!). Cho nên CPH chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Vị trí và nội dung chưa được minh định

Đến nay có lẽ không phải mọi người đều đã coi CPH là một trong những biện pháp để chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp thành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Và tương tự, không phải ai cũng coi nội dung CPH là chuyển đổi sở hữu, chuyển toàn bộ (hay một phần) doanh nghiệp của nhà nước thành của tư nhân, nói ngắn gọn là tư nhân hóa.

Continue reading

AI NUÔI NHÀ NƯỚC?

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

Đánh thuế trực tiếp để người tiêu dùng cảm nhận được đồng tiền thuế của mình là để nuôi Nhà nước và đáp ứng yêu cầu: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân”(*).

Trong một dịp đi họp ở Mỹ, tôi đến cửa hàng mua đôi giày da. Sau khi chọn và đi thử một đôi có giá 96 USD, tôi trả tiền bằng tờ bạc 100 USD. Người bán hàng nói còn thiếu, tôi chỉ vào biển ghi giá thì được giải thích là giá này còn phải cộng thêm 10% thuế mà người tiêu dùng đóng cho Nhà nước. Sang Canada, tôi cũng thấy cách tính thuế tương tự đối với hàng hoá và dịch vụ.

Tôi nêu vấn đề với các chuyên gia kinh tế sở tại: Ở Việt Nam, thuế hàng hoá được thu ngay khi hàng xuất xưởng và được gọi là thuế gián thu (thu gián tiếp) vì thu từ doanh nghiệp sản xuất hàng nhưng thực chất tiền thuế ấy đánh vào người tiêu dùng. Thay vì thu rải rác khi có người mua hàng, nay thu gọn một nơi, một lúc khi hàng xuất xưởng chẳng tiện hơn sao?

Người đối thoại với tôi giải thích về cách thu thuế của họ: Trước hết đây là thuế mà người tiêu dùng đóng nên khi nào hàng được tiêu thụ thì mới tính thuế; nếu thu trước từ người sản xuất mà ở khâu bán lẻ, hàng không bán được thì sao? Lẽ thứ hai, chúng tôi muốn người dân biết rõ và luôn luôn nhớ là mình đóng thuế nuôi Nhà nước.

Continue reading

KHU VỰC KINH TẾ KHÔNG CHÍNH THỨC Ở ĐÔ THỊ – Ý NGHĨA VÀ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI KHU VỰC NÀY

THS. DƯ PHƯỚC TÂN

Trong những thập niên qua, một số nước ở khu vực Châu Á đã nhận thức rằng đã có một khoảng cách nhất định giữa chiến lược phát triển kinh tế xã hội được họ đề ra và kết quả thực sự mang lại. Mặc dù Chính phủ ở các nước Châu Á đã cố gắng vạch ra nhiều chiến lược, tập trung vào mục tiêu giảm bớt đói nghèo ở khu vực đô thị, tuy nhiên, kết quả mang lại vẫn không được khả quan.

Nếu như ở thập niên 60 các chiến lược phần lớn tập trung vào việc đầu tư mạnh cho khu vực quốc doanh, nhà nước, tạo ra nhiều việc làm từ khu vực quốc doanh, thì đến thập niên 70 chủ yếu chiến lược đề ra đã nhắm đến chính sách rộng hơn, nhằm tạo ra nhiều việc làm cho xã hội (thâm dụng lao động), cho đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực v.v…. Tuy nhiên, những nỗ lực đó vẫn không làm giảm đi mức nghèo khổ ở các thành phố. Cuối cùng, các nhà quản lý đô thị mới khám phá rằng, họ đã bỏ quên đi một khu vực kinh tế, gắn liền trong khu vực kinh  tế ở đô thị, có quy mô hoạt động từ nhỏ đến rất nhỏ, dễ dàng tổ chức hoạt động và hầu như không bắt buộc phải tuân theo các quy định chính quy do Nhà nước đề ra. Chính khu vực kinh tế này thực tế đã thu hút một số lượng khá lớn những người lao động không có việc làm, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cho xã hội với giá cả vừa phải, phù hợp với túi tiền của người lao động nghèo. Khu vực này đã được đặt tên là khu vực không chính thức  (informal sector) và có lẽ đây là tên gọi phổ biến nhất hiện nay. Khu vực này thực chất bao gồm các dạng hoạt động cá thể hoặc tập thể (nhưng không quá 10 người)(1).

Continue reading

NÂNG CAO VỊ THẾ, NĂNG LỰC CHO PHỤ NỮ NƯỚC TA

NGỌC HỒ

1-Mục tiêu của sự phát triển

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Nói phụ nữ là nói nửa phần xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Giải phóng phụ nữ, nâng cao năng lực và thừa nhận vị thế, vai trò của người phụ nữ, trong xã hội là một mục tiêu quan trọng, một cuộc đấu tranh vô cùng cam go, quyết liệt và dai dẳng diễn ra trong mỗi con người, trong từng gia đình và toàn xã hội. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc vai trò và vị thế của phụ nữ trong sự phát triển chung của quốc gia, dân tộc. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ; tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Bình đẳng giới trở thành mục tiêu của sự phát triển đồng thời cũng trở thành vấn đề trung tâm của phát triển, và là một trong những mục tiêu tăng trưởng của Quốc gia, xoá đói giảm nghèo và quản lý Nhà nước có hiệu quả. Continue reading

CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ KHI THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ DUNG – Đại học Luật Hà Nội

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới. Và, thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị. Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế – xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng. Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình.

1. Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực

Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.

Continue reading