VIỆC THỦ TƯỚNG NĂM LẦN BẢY LƯỢT CHỈ ĐẠO SAI PHẠM Ở HÀ GIANG VÀ CHUYỆN CHÚ RUỒI CỦA TỔNG THỐNG BARACK OBAMA

PHẠM VIẾT ĐÀO

Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 8786/VPCP-KNTC gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang với nội dung: "Giao cho Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang và các cơ quan chức năng thực hiện các kiến nghị của Thanh tra Chính phủ tại văn bản số 2612/BC-TTCP ngày 25 tháng 11 năm 2008: Thanh toán dứt điểm đối với các dự án đầu tư từ ngân sách do Công ty TNHH Sông Lô thực hiện theo đúng qui định pháp luật; Chỉ đạo các đơn vị hưởng lợi tuyến đường Tùng Bá – Na Sơn vào mỏ phải thanh toán dứt điểm kinh phí đầu tư cho Công ty TNHH Sông Lô; Báo cáo Thủ tướng kết quả thực hiện trong quí I năm 2009."

Cho đến nay Văn phòng Chính phủ đã 7 lần có công văn gửi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang, truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; Mới nhất là Công văn số 4025/VPCP-KNTC ngày 16/6/2009 với nội dung sau đây:" Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng về việc giao Văn phòng Chính phủ chủ trì cùng Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ và mời Uỷ ban Kiểm tra trung ương Đảng tham gia Tổ công tác làm việc với Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang bàn biện pháp giải quyết khiếu nại của Công ty Sông Lô, trong đó có việc thanh toán các khoản đầu tư vào các công trình đã thực hiện…"

Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Lô Lê Duy Hảo cho biết: Tổng số tiền mà Công ty Sông Lô đã đầu tư vào các công trình xây dựng tại tỉnh Hà Giang mà Chủ Đầu tư ( chủ nợ) là Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang hiện chưa được thanh toán; Cộng số vốn mà Công ty Sông Lô đã bỏ vào Dự án đầu tư khai thác, tuyển, luyện quặng sắt ở Hà Giang; dự án này đã được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang ký quyết định cấp phép tổng số tiền vốn thiệt hại do bị chiếm dụng trên 50 tỷ đồng ? Dự án khai thác mỏ mà Công ty Sông Lô thực hiện theo Quyết định số 2309/2002/QĐ-UB do Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang khoá trước cấp hiện đã bị Chủ tịch nhiệm kỳ mới của Uỷ ban nhân dân tỉnh Hà Giang huỷ bằng Quyết định 585/2007/QĐ-UB; Cùng với quyết định huỷ, "đuổi" Công ty Sông Lô là việc giao toàn bộ khu mỏ cùng với số vốn đầu tư mà Công ty Sông Lô đã bỏ ra cho một doanh nghiệp khác vào tiếp quản, khai thác trên cái nền đầu tư bằng vồn của Công ty trách nhiệm hữu hạn Sông Lô…

Continue reading

ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH: SAO LẠI TỰ CẮN ĐUÔI VÀO NHAU?

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Bài viết này nhằm phân tích một số sai lầm có tính nguyên lý dẫn đến thua lỗ trong đầu tư tài chính của các công ty thời gian qua. Cho đến nay đã có 13 công ty niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM (HOSE) bị đưa vào diện kiểm soát. Con số này có thể còn tăng thêm do hiện còn nhiều doanh nghiệp xin chậm nộp báo cáo tài chính năm 2008.

Phân tích các trường hợp công ty bị đưa vào diện kiểm soát hiện nay cho thấy hầu hết đều rơi vào nhóm có kết quả sản xuất kinh doanh lỗ. Phân tích một cách chi tiết hơn cho thấy nguyên nhân thua lỗ của các trường hợp bị kiểm soát cũng không giống nhau.

Một số công ty thua lỗ do tình hình sản xuất kinh doanh yếu kém như Công ty Bông Bạch Tuyết (BBT) hay Công ty cổ phần Vitaly (VTA) nhưng một số khác thì thua lỗ do đầu tư tài chính như REE hay SAM.

Việc các công ty thông qua thị trường chứng khoán sơ cấp để huy động vốn đầu tư không có gì phải phê phán mà cần được khuyến khích. Thế nhưng việc biến thị trường sơ cấp thành một công cụ để huy động vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư tài chính gián tiếp không được kiểm soát và quản trị tốt là điều nguy hiểm cho hệ thống kinh tế của quốc gia.

Thay vì huy động vốn để tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh chính thì các công ty lại mang đi đầu tư tài chính thông qua việc nắm giữ các danh mục chứng khoán thị trường.

Đặc biệt trong giai đoạn nửa cuối năm 2006 đến khoảng giữa năm 2007 – giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng cao – nhiều công ty đã tăng cường các hoạt động chào bán cổ phiếu ra công chúng và sử dụng phần lớn số vốn huy động được để đầu tư tài chính cả ngắn hạn lẫn dài hạn.

Continue reading

PHÂN TÍCH SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

TOBY MENDEL – Chuyên gia nghiên cứu về tiếp cận thông tin của Tổ chức Article 19

Theo các cuộc khảo sát được tiến hành trong thời gian gần đây, nhiều quốc gia trên thế giới đều thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ và việc ban hành một đạo luật để thực thi quyền này một cách hiệu quả trên thực tế là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Kết quả khảo sát đã chỉ ra rằng rất nhiều nội dung của các đạo luật trong nước có những quy định tương đồng nhau như nguyên tắc bảo đảm tính công khai, nghĩa vụ đăng tải thông tin,…

Tuy nhiên các đạo luật của từng quốc gia cũng có những điểm khác biệt và đôi khi còn trái chiều nhau, đặc biệt về các quy định về khái niệm thông tin, phạm vi thẩm quyền, phạm vi miễn trừ hay các trường hợp ngoại lệ. Đồng thời, các cuộc khảo sát đó cũng đã tìm ra được những phương pháp tiếp cận đầy sáng tạo để đáp ứng với hoàn cảnh của từng quốc gia khác nhau.

Khái niệm quyền được tiếp cận thông tin

Quyền được tiếp cận thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ là cơ sở để thông qua luật về quyền tiếp cận thông tin và luật của hầu hết các nước đều quy định khá rõ về nguyên tắc này. Ví dụ như Luật của Mexico và Jamaica quy định quyền hoàn toàn tự do tiếp cận thông tin nếu không rơi vào các trường hợp ngoại lệ. Trong khi đó ở Thái Lan và Anh, quyền này tuy mang sắc thái thủ tục nhiều hơn, nhưng luật của hai nước này cũng quy định rằng bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu cung cấp thông tin và tuỳ thuộc vào một số điều kiện nhất định về mặt thủ tục và nội dung, đều có thể có thông tin đó. Mặc dù trên thực tế khó chứng minh được sự khác nhau của cách định nghĩa này song phương pháp tiếp cận dựa vào quyền hơn là dựa vào nghĩa vụ càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục.

Continue reading

VAI TRÒ CỦA BAN KIỂM SOÁT TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN

TRẦN THANH TÙNG – Văn phòng Luật sư Phuoc & Partners

Hiện đang là mùa cao điểm đại hội cổ đông thường niên của các công ty cổ phần (CTCP). Tuy nhiên, tham dự một số đại hội cổ đông trong thời gian qua, có thể nhận thấy ban kiểm soát (BKS) trong các công ty này dường như chưa thể hiện hết vai trò bảo vệ nhà đầu tư và giám sát hoạt động của hội đồng quản trị (HĐQT) và ban giám đốc (BGĐ).

Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến một số khía cạnh hoạt động của BKS trong CTCP hoạt động theo Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Vai trò luật định

Nếu tạm coi CTCP là một “nhà nước” thu nhỏ, thì đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) đóng vai trò là cơ quan lập pháp – nơi quyết định phương hướng phát triển và những vấn đề trọng đại khác của công ty; HĐQT và BGĐ được coi là cơ quan hành pháp – nơi điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày; còn BKS đóng vai trò của cơ quan tư pháp – có nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát hoạt động của HĐQT và BGĐ.

Cách ví von này có thể giúp chúng ta dễ mường tượng ra vai trò của BKS trong mối quan hệ với các bộ phận khác trong CTCP, nhất là trong vai trò “kiềm chế và đối trọng” với HĐQT và BGĐ.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của BKS, trong đó có hai nguyên nhân chủ yếu là (i) sự phức tạp trong quá trình quản lý công ty và quan hệ giữa các cổ đông; và (ii) sự tách bạch giữa chủ sở hữu và người điều hành trực tiếp CTCP.

Continue reading

ĐẢO NỢ: RỦI RO ĐẠO ĐỨC VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Hiện tượng đảo nợ đang được tranh luận khá nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết này phân tích các khía cạnh cơ bản về rủi ro đạo đức của vấn đề đảo nợ và đưa ra một số hàm ý chính sách để gỡ khó cho các doanh nghiệp hiện nay.

Không nên tạo tiền lệ xấu

Ở Việt Nam, Luật Các tổ chức tín dụng (2004) cũng không cấm đảo nợ mà chỉ quy định việc đảo nợ được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Trong khi đó, quan điểm của Chính phủ cũng như NHNN là không cho phép đảo nợ.

Chúng tôi cho rằng trong điều kiện thực hiện gói hỗ trợ lãi suất hiện nay với những mục tiêu chính sách đã đặt ra thì cần phải hết sức thận trọng trước vấn đề đảo nợ. Nhìn bề ngoài đảo nợ tạo cho người ta cái ảo giác về các khoản nợ được hoàn trả tốt, tỷ lệ nợ xấu hay nợ quá hạn giảm xuống nhưng thực chất thì không phải vậy.

Giả sử một doanh nghiệp đang có dư nợ cũ tại ngân hàng với lãi suất cao và trong điều kiện khó khăn hiện nay khiến khoản nợ trên có nguy cơ trở thành nợ xấu. Với chính sách cho vay đảo nợ, doanh nghiệp chỉ cần vay khoản nợ mới để trả khoản nợ cũ và như thế khiến cho người ta dễ đánh giá rằng doanh nghiệp đã trả được tốt khoản nợ vay, còn ngân hàng thì không những thu hồi được vốn vay mà nợ xấu cũng không có.

Thực ra vấn đề không phải đơn giản như vậy vì chúng ta chưa bàn đến “số mệnh” của khoản nợ mới sẽ như thế nào. Khoản nợ mới được dùng để trả nợ cũ thì không thể tạo ra thu nhập để trả nợ cho chính nó. Doanh nghiệp sẽ lấy tiền đâu để trả khoản nợ mới đây?

Continue reading

THƯƠNG HIỆU HÀNG HÓA VỚI QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

TRẦN THỊ HỒNG HẠNH – Viện Nghiên cứu Quyền con người, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

I. BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM TRONG XU THẾ TOÀN CẦU HÓA

1. Nhận thức của người tiêu dùng Việt Nam về nhãn hiệu, nguồn gốc, xuất xứ hàng hoá

Theo Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam năm 1999,"Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức". Sau 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chuyển từ nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, sản xuất hàng hoá và dịch vụ không ngừng tăng trưởng đã làm thay đổi diện mạo người tiêu dùng Việt Nam. Trình độ hiểu biết của người tiêu dùng về sản phẩm ngày càng được nâng cao hơn, thị hiếu trở nên đa dạng nhưng cũng dễ dàng được đáp ứng hơn.

Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn còn dễ dãi trong việc mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, có thể là do tâm lý đơn giản trong việc sử dụng, hoặc cũng có thể do sự chênh lệch giá cả sản phẩm và túi tiền của họ. Người ta cho rằng, chỉ những người nhiều tiền mới có thể sử dụng "hàng hiệu", còn với họ chỉ thế đã là đạt yêu cầu. Nhưng thực tế, người tiêu dùng đã phải bỏ ra một số tiền lớn hơn để nhận lấy một sản phẩm có thể là hàng giả, hàng nhái hay hàng kém chất lượng mà lẽ ra họ phải được sử dụng một sản phẩm đúng như họ yêu cầu.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: BẢN QUYỀN GIAO THÔNG

HOÀNG NGUYÊN

Nhờ sáng kiến này, người đi đường không phải dừng xe chờ đèn đỏ.

Thay vì để chiều đi lại ngược xuôi cắt nhau trực tiếp ở các ngã tư, gần một tháng nay, Sở Giao thông Vận tải Hà Nội chặn ngang nút giao, tận dụng dải phân cách lớn làm đảo chắn, buộc phương tiện giao thông phải chạy theo vòng xuyến. Từ đó bỏ hẳn việc dừng xe chờ đèn xanh-đỏ, xóa được các điểm ùn tắc do chờ đèn tín hiệu. Thế nhưng một doanh nhân ở quận Đống Đa khiếu nại về sáng kiến này vì doanh nghiệp cho rằng đã vi phạm bản quyền.

Sở “xài chùa”?

Anh Phạm Văn Tiệp, là một doanh nhân, vừa gửi đơn khiếu nại lên Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Anh cho biết từ việc tập Yoga, từ lâu anh đã có ý tưởng thiết kế mô hình giao thông theo nguyên lý chuyển động liên tục của bộ môn dưỡng sinh. Đến tháng 7-2008, giải pháp “Giao diện mềm nhằm giảm ùn tắc giao thông đô thị Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” của anh được Cục Bản quyền tác giả cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, do Phó Cục trưởng Vũ Văn Hoan ký. Anh Tiệp đã gửi công trình ấy bằng cả văn bản và đĩa CD tới Bộ Giao thông Vận tải, UBND và Sở Giao thông Vận tải Hà Nội. Thậm chí sáng kiến này còn được Tạp chí Giao Thông Vận Tải của Bộ Giao thông Vận tải và Báo Bạn Đường thuộc Ủy ban An toàn giao thông quốc gia chọn đăng tải như một giải pháp hữu ích trong việc chống ùn tắc giao thông.

Continue reading

XẾP HẠNG ĐẠI HỌC VÀ CÁCH TIẾP CẬN MỚI TRONG XẾP HẠNG ĐẠI HỌC

TSKH. PHẠM ĐỖ NHẬT TIẾN

Vấn đề xếp hạng các đại học (university) và trường đại học (college) trong phạm vi quốc gia vốn đã có từ lâu. Cách đây 26 năm, tuần báo US News & World Report (USNWR) có sáng kiến đầu tiên trong việc xếp hạng các đại học và trường đại học Mỹ.

Các xếp hạng quốc gia

Về cơ bản, đây là một sáng kiến cạnh tranh trong một thị trường truyền thông rất khốc liệt ở Mỹ. Việc xếp hạng này nhắm tới đối tượng độc giả đông đảo là học sinh, sinh viên và các bậc phụ huynh. Nó giúp cho lớp khách hàng này có một đánh giá tổng thể về cơ sở giáo dục đại học dựa trên thứ bậc của cơ sở đó trên thang xếp hạng. Điểm số xếp hạng được tổ hợp từ các tiêu chí liên quan đến 7 dữ liệu đầu vào, 4 dữ liệu về quá trình, 4 dữ liệu đầu ra. Bên cạnh các dữ liệu khách quan nói trên, còn phải tính đến một dữ liệu chủ quan là việc đánh giá danh tiếng nhà trường trên cơ sở thu thập ý kiến các nhà quản lý của các trường khác.

Thành công không thể chối cãi được của USNWR là đã đi đầu trong công tác xếp hạng phức tạp này, đã thiết lập được nguồn dữ liệu cốt lõi cho việc đánh giá, đã cung cấp được thông tin minh bạch cho sinh viên trong việc chọn trường. Tuy nhiên, đến nay, rất nhiều học giả, nhà quản lý và nhà nghiên cứu vẫn phê phán gay gắt việc xếp hạng của USNWR trên nhiều phương diện như sự võ đoán trong cách chọn tiêu chí và trọng số, độ tin cậy của dữ liệu, khả năng bóp méo thực tế nhà trường, tác động tiêu cực tới hoạt động dạy và học. Thậm chí một loạt hiệu trưởng các trường đại học Mỹ, trong năm 2007, đã lên tiếng bất cộng tác với USNWR trong việc trả lời các phiếu khảo sát.

Continue reading