ĐỂ LÀM TỐT VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

PGS.TSKT. NGUYỄN HUY OÁNH

Trong quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Và cũng chính nó là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng, điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện để thúc đẩy các thành phần kinh tế khác cùng phát triển.

Từ Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994) Đảng ta đã xác định thành phần kinh tế nhà nước với nội hàm rộng lớn hơn doanh nghiệp nhà nước trước đây và khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam. Từ đó đến nay, khái niệm thành phần kinh tế nhà nước được tiếp tục hoàn thiện dần, cơ bản gồm hai bộ phận: doanh nghiệp nhà nước và bộ phận kinh tế của Nhà nước nằm ngoài doanh nghiệp nhà nước. Khi bàn về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, chúng ta phải nói đến cả hai bộ phận của thành phần kinh tế này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng tiếp tục khẳng định: "Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển"(1).

Continue reading →

NHẬN DIỆN TIÊU DÙNG

HUY NAM

Tiêu dùng là lẽ sống của hoạt động sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định cho toàn cục kinh tế tại các nước có thị trường phát triển cao. Nhưng ở Việt Nam, tiêu dùng còn ở mức cơ bản, chưa vượt lên được cái ngưỡng lo ăn, lo mặc, lo học hành…

Âu – Mỹ : người dân phải thay đổi tâm lý tiêu dùng

Ở Mỹ và nhiều nước phát triển khác, tiêu dùng co cụm trong giai đoạn khủng hoảng như vừa qua và hiện nay đã gây ảnh hưởng dây chuyền đến hàng loạt hoạt động kinh tế khác, từ ngành bán lẻ đến các lĩnh vực sản xuất, nhập khẩu, vận chuyển, ngân hàng…

Giữa thời buổi ảm đạm, chỉ cần động thái tiêu dùng có dấu hiệu tăng là bối cảnh kinh tế như được hửng sáng. Cụ thể như ngày 27-5-2009, ngay sau khi thông tin lạc quan về tâm lý tiêu dùng của dân Mỹ được loan đi thì chỉ số DJIA đã tăng gần 200 điểm.

Ở phương Tây, tiêu dùng đã ở mức cao và có độ nhạy cũng cao. Cơ cấu nhu cầu cao và tập quán tiêu dùng là những yếu tố dẫn dắt nhiều hoạt động kinh tế. Chẳng hạn, yêu cầu về tiện nghi cao làm cho nhiều mặt hàng có thể được xem là xa xỉ đối với các nước đang phát triển thì đối với họ là cần thiết. Họ không lo nhiều cái ăn cái mặc, mà lo cho chiếc xe riêng, lo nghỉ ngơi, mua sắm…

Continue reading →

THỰC TIỄN GIAO DỊCH: MÉO MẶT VỚI HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU

TRÙNG KHÁNH

Hợp đồng thế chấp nhà ở phải được công chứng hoặc chứng thực. Lỡ đặt bút ký hợp đồng thế chấp mà gia đình ông T. không thể bán nhà để có vốn làm ăn. Hơn năm nay, gia đình ông T. (TP.HCM) lâm vào cảnh “tiến thoái lưỡng nan” vì vướng vào nhiều điều khoản ràng buộc mà ông đã tự ký kết trong hợp đồng thế chấp nhà.

Thế chấp nhà để vay tiền

Trong quá trình làm ăn, vợ chồng ông T. có mắc nợ một số người. Ngoài căn nhà cấp bốn nằm ngay mặt tiền đường thì vợ chồng ông T. không còn tài sản đáng giá nào khác.

Năm 2007, vợ chồng ông T. được Công ty TNHH Xây dựng-Thương mại-Địa ốc Đ. ngỏ ý sẽ mua căn nhà của vợ chồng ông. Tháng 11-2007, do chắc mẩm sớm muộn gì công ty cũng mua nhà nên vợ chồng ông T. đồng ý ký hợp đồng thế chấp căn nhà cho Công ty Đ. Theo đó, vợ chồng ông T. có nhiệm vụ giao căn nhà cùng toàn bộ giấy tờ cho Công ty Đ. Ngược lại, công ty cho vợ chồng ông vay 100 triệu đồng trong thời hạn 72 tháng (tức đến tháng 11-2013 mới hết hạn). Việc cho vay này không tính lãi.

Theo hợp đồng thế chấp nhà, công ty sẽ giao ba đợt tiền cho vợ chồng ông T. Sau đó, công ty được toàn quyền sử dụng căn nhà mà không phải trả chi phí. Những sửa chữa để phù hợp với nhu cầu sử dụng sẽ do công ty tự đảm nhận. Trong thời gian thế chấp, vợ chồng ông T. không được bán nhà. Nếu muốn bán thì phải ưu tiên cho công ty được mua. Sau khi nhận tiền đặt cọc (hai triệu đồng), nếu đổi ý thì vợ chông ông T. phải bồi thường gấp đôi số tiền đã đặt cọc. Trường hợp bán nhà trước thời hạn, vợ chồng ông T. phải bồi thường gấp đôi số tiền đã vay cùng các khoản chi phí sửa chữa nhà.

Continue reading →

LỎNG LẺO CẤP TẬP ĐOÀN

MẠNH QUÂN

Kết quả mới được công bố của Thanh tra Chính phủ về những sai phạm của tập đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam (Vinashin) trong đầu tư xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm “bể thử mô hình tàu thuỷ”, kết quả kiểm toán tại tập đoàn Than – khoáng sản (TKV)… đang dấy lên mối lo ngại trong dư luận về hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, các nguồn vốn từ ngân sách tại các tập đoàn, tổng công ty lớn của Nhà nước. Theo Thanh tra Chính phủ, những tuỳ tiện trong thay đổi địa điểm xây dựng, điều chỉnh dự toán, tự ý điều chỉnh tỷ giá, mua sắm vật tư, thiết bị trị giá hàng triệu USD rồi để không… tại công trình “bể thử mô hình tàu thuỷ” của Vinashin, đã làm thất thoát, lãng phí hàng tỷ đồng vốn ngân sách.

Phó thủ tướng Chính phủ Trương Vĩnh Trọng đã đồng ý với các kiến nghị của Thanh tra như: không quyết toán số tiền trên 3,1 tỉ đồng lãi vay tiền đặt cọc hợp đồng mua thiết bị của Ba Lan bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước; thu hồi, hoàn trả trên 409 triệu đồng kinh phí do thanh toán vượt khối lượng thực tế; yêu cầu Vinashin thẩm định chất lượng và giá trị bảy thiết bị không đúng xuất xứ theo hợp đồng trị giá 18.500 USD; chưa quyết toán 180 ngàn USD do thanh toán khối lượng chưa thực hiện cho một công ty nước ngoài… Nhiều công ty con thuộc Vinashin cũng không chịu nổi cách thức quản lý của công ty mẹ. Mới đây, lãnh đạo 10 công ty thuộc Vinashin đã cùng ký vào đơn kêu cứu khẩn cấp gửi Thủ tướng Chính phủ về việc tập đoàn – công ty mẹ nợ dây dưa một khoản 150 tỉ đồng, khiến các công ty này đứng trước nguy cơ phá sản, hàng ngàn công nhân bị thất nghiệp…

Kết quả kiểm toán mới đây của kiểm toán Nhà nước tại TKV cho thấy, sự điều chỉnh quy mô, vốn đầu tư, thiết kế… của nhiều công trình lớn do TKV làm chủ đầu tư làm tăng vốn đầu tư hàng trăm tỉ đồng, cũng đặt ra vấn đề trách nhiệm về hiệu quả sử dụng vốn ở tập đoàn này.

Continue reading →

NGHỆ THUẬT THƯƠNG THUYẾT: BIẾT NGƯỜI, BIẾT TA VÀ CÂU CHUYỆN CỦA THẰNG BỜM

GS. PHAN VĂN TRƯỜNG*

Tôi đã từng dẫn đoàn đi thương thuyết, cũng như đã được dự những cuộc thương thuyết hào hứng hồi còn là kỹ sư trẻ tuổi. 40 năm làm việc rong ruổi khắp năm châu, tôi đúc kết cho mình một bài học: những cuộc thương thuyết thành công mỹ mãn là khi đôi bên có những nhà lãnh đạo sắc sảo áp dụng những chiến thuật đơn giản, ngồi vào bàn đàm phán với lòng chân thật nhất và biết rõ “phe mình” muốn gì, “phe trước mặt” muốn gì.

Cả hai bên đều hiểu được lý do tại sao cùng ngồi lại với nhau, dù “đi guốc trong bụng nhau” vẫn giúp nhau đạt đến mục đích tối hậu.

Tất nhiên, tôi không phủ nhận trên thương trường đã có những cuộc đàm phán thành công nhờ mánh khóe, chiến thuật lắt léo, nghĩ một đằng nói một nẻo… Nhưng kinh nghiệm cho thấy những cuộc đàm phán trong tinh thần dối trá nhau thường kéo dài vô ích, và hai bên khó đi đường dài cùng nhau.

Trong những lớp cao học quy hoạch vùng và kinh tế đô thị mà tôi dạy từ bốn năm nay tại trường Đại học Kiến trúc TPHCM, tôi thường nói về chuyện thằng Bờm để tô điểm thêm cho nghệ thuật thương thuyết. Tôi dạy không chán về thằng Bờm, vì càng dạy càng thấy phải học nhiều nơi thằng bé chất phác của văn học dân gian. Trước khi bàn tiếp về nghệ thuật thương thuyết, hãy đọc lại mấy câu thơ rất quen thuộc:

Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu
Bờm rằng Bờm chẳng lấy trâu
Phú ông xin đổi một xâu cá mè
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mè
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim
Bờm rằng Bờm chẳng lấy lim
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi
Bờm rằng Bờm chẳng lấy mồi
Phú ông xin đổi nắm xôi Bờm cười

Continue reading →

TIỀN VÀ LUẬT NHÂN QUẢ

ĐOÀN TUẤN

Thiên hạ ai cũng nói đến tiền. Song có một kẻ không thích tiền. Hắn sợ tiền. Bởi học thuyết của hắn cho rằng, đồng tiền là thủ phạm chính gây nên mọi sự bất ổn trong xã hội. Hắn đã xây dựng một xã hội mà trong đó người dân tuyệt đối không được sử dụng đồng tiền. Và kết cục số phận của hắn và số phận xã hội đó thế nào, mọi người đều biết. Hắn chính là Pol Pốt với chế độ kỳ quái có tên gọi là “Campuchia dân chủ”.

Kể lại câu chuyện đó với bạn đọc để người viết mong bạn đọc có dịp nhìn đồng tiền từ một phía khác, cực đoan, phía không cần tiền. Để thấy rằng không thể có một xã hội mà trong đó người dân không tiêu tiền. Và lúc này, chúng ta đang sống trong một xã hội, đặc biệt là trong một thời điểm mà người ta nói quá nhiều đến tiền.

Cách đây ít lâu, người viết bài này có dịp gặp bà Thu An- diễn viên điện ảnh- trên đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội. Chuyện trò lan man về sức khỏe và công việc. Bà kể chuyện sau khi đóng phim, có anh đạo diễn đến nhà trả tiền đóng phim cho bà. Khi anh ta về, bà giở tiền ra đếm thì mới hay trong mỗi tập đều bị rút lõi vài ba tờ. Bà đành phải cười buồn vì không biết truy tìm thủ phạm ở đâu. Có bà đồng nghiệp an ủi: “Tôi cũng bị thế nhiều lần rồi. Thôi thì, của đi thay người.” Người viết bài này chia sẻ, bà yên tâm, nó lấy của bà thì lúc khác, người khác sẽ lấy của nó. Bà cười hóm hỉnh, hãy đợi đấy, thử xem. Rất lâu sau, người viết bài này được tin, cậu con trai người đạo diễn đó bị mất xe máy. Gọi điện cho bà, giọng bà thảng thốt: Thế à? Sao khổ thế? Tôi có mong chuyện này xảy ra đâu?- Bà thấy chưa, ác giả ác báo. Nhân quả nhãn tiền mà.

Continue reading →

PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN TRONG CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC

CHU THÁI THANH

Qua hai mươi năm đổi mới, thị trường bất động sản nước ta đã hình thành và phát triển với tốc độ nhanh. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, hoạt động của thị trường bất động sản còn bộc lộ nhiều khuyết tật, hiệu quả còn hạn chế. Thị trường bất động sản quá "nóng" dẫn tới "sốt" hoặc quá "lạnh" dẫn tới "đóng băng" đều ảnh hưởng không tốt đến đầu tư phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển, góp phần vào công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước.

Phát triển và quản lý có hiệu quả thị trường bất động sản sẽ góp phần quan trọng vào quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, tạo khả năng thu hút đa dạng các nguồn vốn đầu tư cho phát triển, đóng góp thiết thực vào quá trình xây dựng đô thị và nông thôn theo hướng phát triển bền vững. Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng nhấn mạnh: Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất, làm cho đất đai thực sự trở thành nguồn vốn cho phát triển, thị trường bất động sản trong nước có sức cạnh tranh so với thị trường khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.

Cho đến nay, ở hầu hết các nước trên thế giới đều phân loại tài sản theo luật cổ La Mã, thành bất động sản và động sản. Bất động sản không chỉ là đất đai, của cải trong lòng đất mà còn là tất cả những gì được tạo ra do sức lao động của con người gắn liền với đất đai. Thị trường bất động sản có nhiều khu vực, bao gồm thị trường nhà ở, thị trường bất động sản trong công nghiệp và dịch vụ; thị trường bất động sản nông nghiệp; thị trường hạ tầng cơ sở, hạ tầng xã hội và công trình công cộng, thị trường dịch vụ hỗ trợ. Xét về hình thức kinh doanh, có thị trường mua bán, chuyển nhượng, thị trường cho thuê, thị trường xây dựng, kinh doanh, chuyển giao. Hàng hóa bất động sản là đòn bẩy để tạo động lực phát triển kinh tế – xã hội. Từ khi Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường bất động sản nước ta đã từng bước hình thành và phát triển nhanh chóng.

Continue reading →

ĐÌNH CÔNG CỦA CÔNG NHÂN VÀ THỂ CHẾ HÓA QUAN HỆ LAO ĐỘNG CỦA CÔNG NHÂN HIỆN NAY

PGS.TS. NGUYỄN THANH TUẤN

1. Về đình công của công nhân hiện nay

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ lao động giữa công nhân và người sử dụng lao động diễn ra trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng theo quy định của pháp luật. Điều 9, Chương I, Bộ luật Lao động xác định: người lao động “có quyền đình công theo quy định của pháp luật”. Đình công là hành động ngừng việc tập thể với tính cách là biện pháp cuối cùng của công nhân sau khi không đồng ý với quyết định của Hội đồng trọng tài lao động, để giải quyết tranh chấp về quyền và lợi ích giữa tập thể công nhân với người sử dụng lao động. Đình công là hiện tượng kinh tế – xã hội tồn tại khách quan, để bảo vệ quyền lợi chính đáng của công nhân và để xác lập quan hệ lao động tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật giữa công nhân và người sử dụng lao động trong điều kiện biến đổi thường xuyên của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đình công diễn ra theo trình tự và thủ tục quy định của pháp luật hiện hành là đình công hợp pháp; còn trái lại là bất hợp pháp.

Theo số liệu của cơ quan chức năng, từ năm 1995 đến 15-4-2006 ở Việt Nam đã xẩy ra 1.250 cuộc đình công. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước có 87 cuộc, chiếm 7%; khu vực doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có 838 cuộc, chiếm 67%; khu vực doanh nghiệp dân doanh có 325 cuộc, chiếm 26%. Các cuộc đình công chủ yếu diễn ra tại: thành phố Hồ Chí Minh với 504 cuộc, chiếm 40,3 %; Bình Dương với 279 cuộc, chiếm 22,3%; Đồng Nai với 258 cuộc, chiếm 20,7%; các tỉnh còn lại chỉ có 209 cuộc, chiếm 16,7%. Riêng đầu năm 2006 (từ 1-1 đến 15-4) đã diễn ra 265 cuộc đình công, chiếm 21,2% tổng số các cuộc đình công của công nhân từ năm 1995 đến nay. Đình công diễn ra có tính lan truyền và khá tập trung ở vùng Đông Nam Bộ (1).

Continue reading →

CÔNG LÝ VÀ DỤC VỌNG: DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI NÀY KHÔNG THỂ TÀN PHÁ DỤC VỌNG CỦA NGƯỜI KIA, ĐÓ LÀ CÔNG LÝ

NGUYỄN HOÀNG ĐỨC

PHẦN 1

Hiển nhiên, không thể cãi được rằng, người ta sống ở đời đều mong được sống hạnh phúc, thoải mái, an toàn, tự do, bình đẳng, mưu cầu hạnh phúc được xác định trong hiến chương Liên Hiệp Quốc về các quyền cơ bản nhất của con người. Chẳng lẽ, con người lại không muốn an toàn, nghĩa là lúc nào người ta cũng thích bị người khác rình rập săn đuổi, cưỡng bức bắt làm nô lệ, bị đánh đập, hắt hủi, đè nén, thậm chí thủ tiêu không khác gì một con sâu bị di mất tiêu?

Chẳng lẽ, con người sống mà không muốn thoải mái, được làm việc, được nghỉ ngơi theo ý muốn của mình mà lúc nào cũng chỉ như con sen thằng ở phải trông chừng ý thích của ông chủ? Chẳng lẽ, mỗi người sống lại không mang hạnh phúc mà chỉ tìm cách hiện diện ở đời như một nô lệ, một cỗ máy phục vụ cho mục đích của người khác, trong khi bản thân mình không có mục đích nào hơn là sinh ra để làm phương tiện?

Chẳng cần lý sự dài dòng, điều hiển nhiên nhất nằm ngay trong máu thịt tự nhiên của con người đó là: cuộc đời không thể sống được nếu không mưu cầu hạnh phúc. Chẳng lẽ, người ta có thể sống khi nơm nớp bị săn như con thú, sống hay chết chỉ nằm trong gang tấc hiểm họa của những nòng súng săn, những cung tên, hay lưỡi dáo? Trước hết, muốn sống thì phải được tồn tại một cách an toàn, nghĩa là cuộc sống không bị cướp đi một cách vô cớ. Tiếp theo, cuộc sống không thể gọi là sống nếu chỉ được tồn tại như một hòn đá nằm vô tri bên bờ suối, hay như một con trâu đang kéo cày cho chủ, hoặc một con lợn đang vục miệng vào chậu cám đầy ú cơm thừa canh cặn để mau chóng trở thành thứ xúc xích cho bữa ăn của chủ hoặc tồn tại như một cỗ máy hoạt động đều đặn không có nổi một chút đời sống của là hồn.

Continue reading →

THÁCH THỨC VÀ TRIỂN VỌNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC KHI CHUYỂN SANG HOẠT ĐỘNG THEO LUẬT DOANH NGHIỆP (NĂM 2005)

HỒ XUÂN HÙNG – Phó Trưởng ban, Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp nhà nước Trung ương

I – KẾT QUẢ ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Năm 2005 là năm cuối cùng thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa IX (9-2001) và là năm "áp chót" thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa IX (05-1-2004) của Đảng về sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước; khởi đầu một giai đoạn mới – thực hiện Nghị định 187/NĐ-CP thay thế 64/NĐ-CP của Chính phủ về cổ phần hóa. Theo đó sẽ có bước chuyển cơ bản về chất trong việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, theo các nội dung sau:

– Chuyển cổ phần hóa từ việc chỉ thực hiện ở những doanh nghiệp nhỏ làm ăn thua lỗ, khó khăn sang cổ phần hóa những doanh nghiệp có quy mô lớn, kể cả một số tổng công ty.

– Từ cổ phần hóa một số lĩnh vực sang hầu hết các lĩnh vực kinh tế – văn hóa bao gồm cả hàng không, hàng hải, điện lực, bưu chính – viễn thông, dịch vụ dầu khí, tài chính, bảo hiểm, ngân hàng…

– Từ cổ phần hóa theo kiểu "chia phần" khép kín là chủ yếu sang cổ phần hóa theo hình thức đấu giá công khai theo nguyên tắc thị trường.

Cổ phần hóa được xác định là giải pháp cơ bản trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Vì vậy, Nghị định 187/NĐ-CP, hiệu lực từ 20-12-2004, có tác dụng quyết định đến sự thành bại của quá trình này. Cùng với nó, các Quyết định số 155/TTg về tiêu chí doanh nghiệp mà Nhà nước giữ 100% vốn hay cổ phần chi phối, các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan, nhất là Thông tư số 126, ngày 24-12-2004, của Bộ Tài chính… đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Theo tôi, đây là một trong những khâu quan trọng nhất, tạo bước đệm trong chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt động theo Luật Doanh nghiệp.

Continue reading →

QUỐC HỘI CHẤT VẤN AI?

NGUYÊN TẤN

Khi chất vấn về vấn đề tỷ lệ đầu tư công vào nông nghiệp hiện nay và hiệu quả chương trình đánh bắt xa bờ chưa cao, tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII một đại biểu đã hỏi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: “Vậy quan điểm Bộ trưởng như thế nào và trách nhiệm của Bộ trưởng ra sao, giải pháp tới thì Bộ trưởng sẽ đề xuất với Chính phủ về việc phân bổ ngân sách này như thế nào? Bộ trưởng có giải pháp gì giúp cho ngư dân?…”.

Vị Bộ trưởng dễ dàng vượt qua với câu trả lời: “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đang phối hợp với các bộ ngành dự thảo cơ chế chính sách và trong ngày hôm nay đồng chí Thứ trưởng đã ký gửi để xin ý kiến chính thức của các bộ trước khi chúng tôi trình Chính phủ phê duyệt”.

Còn khi chất vấn về tình trạng cấp phép sân golf tràn lan, đại biểu đã đặt câu hỏi: “Tôi xin hỏi Bộ trưởng việc cấp phép như vậy có vi phạm Luật Đất đai hay không? Ai vi phạm? Xử lý như thế nào? Trách nhiệm thuộc về ai?”. Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư trả lời ngay: “Đừng nói rằng trách nhiệm ở ai, trách nhiệm chính là ở người cấp đất, ai cấp đất là trách nhiệm ở người đó… Anh nào cấp giấy phép đầu tư thì chịu trách nhiệm về cấp giấy phép đầu tư”.

Rất nhiều đại biểu đã chất vấn tương tự như vậy. Cách chất vấn và trả lời chất vấn trên tạo cho chúng ta cảm giác như đây là một cuộc họp của Chính phủ đúng hơn là một kỳ họp Quốc hội yêu cầu Chính phủ giải trình hoạt động điều hành của mình trước Quốc hội, trước nhân dân.

Continue reading →

THỰC TIỄN XÉT XỬ: TPHCM ÁN TỒN NHIỀU DO QUI ĐỊNH PHÁP LUẬT KHÔNG PHÙ HỢP

THANH LƯU

Ngày 25-6 – 2009, báo cáo với Ban Pháp chế HĐND TP.HCM, Phó Chánh án TAND TP Trần Văn Sự cho biết trong sáu tháng đầu năm nay, toàn ngành đã giải quyết gần 1.300 vụ án quá hạn nhưng vẫn còn 915 vụ các loại, trong đó nhiều nhất là án dân sự (gần 700 vụ).

Theo ông Sự, nguyên nhân là do tính chất, mức độ của các vụ án ngày càng phức tạp nhưng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về thời hạn chuẩn bị xét xử quá ngắn, không còn phù hợp với thực tế. Điển hình như các tranh chấp đòi bảo hiểm xã hội. Người sử dụng lao động thường nợ bảo hiểm xã hội kéo dài, tiền lương của người lao động có nhiều biến động, doanh nghiệp ngừng hoạt động và đa số chủ doanh nghiệp đã bỏ trốn ra nước ngoài. Cạnh đó còn một số nguyên nhân khác như tài sản tranh chấp ở nhiều nơi, bị đơn không hợp tác với tòa… Các cơ quan có thẩm quyền chậm trả lời xác minh của tòa mặc dù tòa đã có công văn nhắc nhở nhiều lần. Đối với những trường hợp tranh chấp tài sản là nhà đất, khi định giá thường gặp khó khăn và mất nhiều thời gian…

Riêng các vụ án hình sự quá hạn không nhiều (54 vụ). Nguyên nhân thường do các vụ án có nhiều bị cáo, trong đó có các bị cáo đang tạm giam ở một vụ án khác, đang thi hành án ở tỉnh xa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc bị cáo tại ngoại không đến. Có trường hợp luật sư xin hoãn xử vì bận tham gia tố tụng ở vụ khác.

Theo Chánh tòa hình sự TAND Nguyễn Đức Sáu, sắp tới TAND TP sẽ đưa ra xét xử những vụ án trọng điểm như vụ “kỳ án” Đặng Nam Trung, vụ Gò Môn, vụ đài Quán Tre…

Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: CẢI CHÍNH NĂM SINH CỦA VIỆT KIỀU, TỈNH ĐẨY CHO HUYỆN LÀ SAI QUI ĐỊNH

ÁI NHÂN

Tỉnh không thể lấy lý do đã bàn giao sổ bộ cho huyện và xã vì không đúng Nghị định 158. Chị Lê Hồng An sinh tại xã Long An, huyện Tân Châu, An Giang và đang định cư ở Pháp. Giấy khai sinh và các giấy tờ khác của chị như hộ khẩu, lý lịch, hộ chiếu… đều ghi chị sinh năm 1980.

Sổ bộ có khác biệt

Do cần một số giấy tờ để bổ sung hồ sơ nhập quốc tịch Pháp nên chị An đã nhờ cha mình đi trích lục bản sao giấy khai sinh. Bấy giờ, người cha phát hiện bản sao vừa được cấp ghi chị An sinh năm 1984. Để có sự thống nhất, người cha đã nộp đơn đề nghị UBND huyện Tân Châu cải chính năm sinh cho chị An.

Tuy nhiên, Phòng Tư pháp huyện đã từ chối giải quyết yêu cầu nêu trên. Trong công văn trả lời cho người cha ngày 5-7-2007, Phòng Tư pháp huyện cho biết “chưa đủ cơ sở giải quyết cải chính hộ tịch cho chị An vì theo báo cáo của UBND xã, năm sinh của chị An (năm 1984) được ghi theo đúng sổ bộ của xã; việc đăng ký khai sinh của chị An được thực hiện theo đúng quy định”.

Không đồng ý, người cha đã khiếu nại đến Sở Tư pháp tỉnh An Giang. Trong công văn gửi UBND huyện ngày 1-11-2007, sở này có nêu: Sở Tư pháp đã thẩm tra, xác minh thực tế tại địa phương và nhận thấy việc cải chính năm sinh của chị An từ năm 1984 thành năm 1980 là có cơ sở giải quyết. Bởi sau khi sinh chị An vào năm 1980 thì đến năm 1981, người cha có thêm một con gái. Điều này được hàng xóm, thân tộc của chị An và sổ hộ khẩu gia đình ghi nhận. Sở Tư pháp tỉnh đã yêu cầu UBND huyện Tân Châu giải quyết vụ việc vì Sở không còn lưu giữ sổ bộ do đã bàn giao cho cấp huyện và cấp xã từ năm 2006.

Continue reading →

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN phân định các thành phần kinh tế

PGS.TS. VŨ ANH TUẤN – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân. Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…

Về lý thuyết, ở thời kỳ này vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trên thực tế không có sự bình đẳng giữa các thành phần, cạnh tranh giữa các thành phần không được thừa nhận, thị trường hình thành bị chi phối bởi cơ chế hai giá, công cụ kế hoạch chủ quan bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Điều đó vi phạm yêu cầu các quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trải qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế mới – cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường đó, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và thực hiện một cơ cấu kinh tế khách quan – cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiến lược lâu dài, nhất quán trong phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Continue reading →

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÂN ĐỊNH CÁC THÀNH PHẦN KINH TẾ

PGS.TS. VŨ ANH TUẤN – Trường đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Kinh tế nhiều thành phần luôn là nội dung lý luận quan trọng trong chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, nhằm phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển đất nước. Tuy nhiên, ở thời kỳ bao cấp chính sách này chỉ dừng lại ở lý thuyết, hình thức; nền kinh tế lúc này chủ yếu là kinh tế công với hai hình thức: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể. Kinh tế quốc doanh được ưu tiên phát triển, lan rộng nhanh chóng bao trùm toàn bộ nền kinh tế quốc dân, ngược lại các hình thức khác bị xem nhẹ, thậm chí bị cấm đoán như kinh tế tư nhân. Kết cục đó tất yếu dẫn đến hậu quả: xã hội trì trệ, mất động lực phát triển, các nguồn lực bị lãng phí…

Về lý thuyết, ở thời kỳ này vẫn tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhưng trên thực tế không có sự bình đẳng giữa các thành phần, cạnh tranh giữa các thành phần không được thừa nhận, thị trường hình thành bị chi phối bởi cơ chế hai giá, công cụ kế hoạch chủ quan bao trùm toàn bộ hoạt động kinh tế – xã hội. Điều đó vi phạm yêu cầu các quy luật khách quan, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.

Trải qua gần hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã và đang vận hành theo cơ chế mới – cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong suốt chặng đường đó, chúng ta đã nhận thức đúng đắn và thực hiện một cơ cấu kinh tế khách quan – cơ cấu kinh tế nhiều thành phần. Trong văn kiện Đại hội IX, Đảng ta tiếp tục khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần là chiến lược lâu dài, nhất quán trong phát triển kinh tế – xã hội. Quan điểm này thể hiện sự nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

Continue reading →

TÍNH CÔNG KHAI CỦA PHIÊN TÒA GIÁM ĐỐC THẨM DÂN SỰ

THS. MAI NGỌC DƯƠNG – Văn phòng Chính phủ

Nguyên tắc toà án xét xử công khai được quy định tại Điều 131 của Hiến pháp năm 1992 và được cụ thể hoá trong Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002. Điều 7 của Luật Tổ chức Toà án nhân dân năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ gìn bí mật Nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.

Nguyên tắc này bảo đảm cho nhân dân giám sát được hoạt động xét xử của toà án, đồng thời tạo điều kiện cho toà án thực hiện việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động xét xử . Tuy nhiên hiện nay, trong phiên toà giám đốc thẩm dân sự, nguyên tắc xét xử công khai chưa hoàn toàn được áp dụng, sự tham gia của nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa còn hạn chế.

1. Thủ tục của phiên toà giám đốc thẩm không như một phiên toà

Phiên toà giám đốc thẩm dân sự là phiên toà do Uỷ ban thẩm phán Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà dân sự (hoặc Toà kinh tế, Toà lao động) Toà án nhân dân tối cao và Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tiến hành để xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 295 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (BLTTDS), thì phiên toà giám đốc thẩm diễn ra theo thủ tục sau:

Continue reading →

THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS.TS. HỒ VĂN VĨNH – Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh

I. Một số khái niệm về thương mại, dịch vụ

Trong khuôn khổ của GATT/WTO, tại vòng đàm phán Uruguay diễn ra từ năm 1986 đến năm 1994, các nước thành viên của GATT đã thông qua Hiệp định chung về Thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS). Hiệp định được thiết lập nhằm mở rộng phạm vi điều chỉnh của hệ thống thương mại đa phương sang lĩnh vực dịch vụ chứ không điều chỉnh một mình lĩnh vực thương mại hàng hóa như trước đó. Đối với nước ta, thương mại dịch vụ là một thuật ngữ còn khá mới mẻ. Trong quan niệm hiện đại, cơ cấu kinh tế quốc dân được chia ra ba khu vực chính, đó là nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Theo Hệ thống kế toán quốc gia (SNA) thì nền kinh tế nước ta có 20 ngành cấp 1, trong đó nông nghiệp có 2 ngành (nông nghiệp và thủy sản), công nghiệp có 4 ngành (công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, sản xuất và cung cấp điện và nước và ngành xây dựng), còn dịch vụ có tới 14 ngành, có những ngành khá quen thuộc như thương mại, du lịch, vận tải, ngân hàng, thông tin liên lạc…, nhưng cũng có những ngành mới xếp vào lĩnh vực dịch vụ như giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao, hoặc như hoạt động của các đoàn thể xã hội… Dịch vụ là một khái niệm rất rộng, từ việc đáp ứng nhu cầu cá nhân đến việc phục vụ cho một ngành sản xuất, là một ngành kinh tế độc lập, hiện nay đang chiếm một tỷ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân và không ngừng được tăng cao.

Như vậy, có thể hiểu dịch vụ là toàn bộ các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người mà sản phẩm của nó tồn tại dưới hình thái phi vật thể.

Continue reading →

TRÍ THỨC VÀ CÔNG THỨC BỔ NHIỆM MINH BẠCH

TS. NGUYỄN NGỌC HIẾU – Đại học Tổng hợp London UCL

Để trí thức đóng góp tốt hơn vào sự nghiệp phát triển thì chúng ta cần có trí thức trưởng thành và chuyên nghiệp. Muốn có điều đó lại cần đề cao tính chuyên nghiệp, bổ nhiệm theo thực tài với cả những đối tác của trí thức, kể cả những người chủ, chính trị gia và nhà quản lý trong cả xã hội.

Những ngày gần đây rất nhiều bài viết trao đổi về chính sách sử dụng trí thức và nhận thức về đội ngũ trí thức. Những quan điểm này dường như coi trí thức như một lực lượng xã hội hay công cụ riêng biệt từ bên ngoài.

Bài viết này nhìn nhận vấn đề trí thức từ bên trong, là một bộ phận xã hội và việc họ có thể phục vụ hiệu quả cho xã hội không chỉ dựa vào sự thay đổi về đối xử với một tầng lớp.

Không ai sinh ra đã là trí thức. Từ học sinh bình thường một bộ phận ưu tú sẽ phấn đấu trở thành trí thức. Tuy nhiên, khi đã trở thành trí thức rồi dường như nhiều trí thức ở Việt Nam không tiếp tục "lớn lên".

Lúc đi học, học sinh Việt Nam có lẽ cũng không thua kém so với học sinh phương Tây. Tuy nhiên, sau khi đã có nhãn, mác ít sinh viên tiếp tục ra báo và công trình mới nữa hoặc công trình có giá trị, ứng dụng thực tiễn không nhiều. Khá nhiều trí chuyển sang làm quản lý và phai nhạt dần chuyên môn. Họ làm việc của người làm kinh doanh hay chính trị, khi đó họ không còn là trí thức sáng tạo ra giá trị nữa.

Continue reading →

ĐÔI ĐIỀU VỀ “VĂN HÓA DOANH NGHIỆP”

NGUYỄN TÂN KÝ

Trong một buổi hội thảo bàn về văn hóa doanh nghiệp, diễn giả – giáo sư của một trường đại học nổi tiếng thế giới – nói nền tảng của văn hóa doanh nghiệp chính là các giá trị cốt lõi (core value) và dựa trên các giá trị cốt lõi đó, những giá trị mà tổ chức, doanh nghiệp coi là thiêng liêng và cao quý nhất, sẽ hình thành nên sứ mệnh hay tầm nhìn định hướng của doanh nghiệp. Và ông lấy các ví dụ tầm nhìn, sứ mệnh của các công ty nổi tiếng thế giới như IBM, Sony, Wal-Mart, Apple, Walt Disney… làm ví dụ minh họa.

Nghe các ví dụ và phân tích rất hay, có người hỏi ông có thể giúp doanh nghiệp viết về tầm nhìn và các giá trị nền tảng được hay không. Khi nghe đến đây, vị giáo sư cười và trả lời rằng ông chỉ có thể cung cấp các ví dụ và giải thích tại sao họ (các công ty) lại đưa ra các tầm nhìn, sứ mệnh như vậy, còn việc xác định hay viết ra chúng phải là chính những người lãnh đạo doanh nghiệp. Ông nói thêm: “Không ai ngoài chính bản thân các bạn biết được mình muốn điều gì cho doanh nghiệp của mình, đối với bạn điều gì là cao quý nhất, là thiêng liêng nhất là thứ để bạn sẵn sàng theo đuổi cả sự nghiệp của mình”.

Quả đúng như vậy. Xác định các giá trị nền tảng là việc của chính các chủ doanh nghiệp, những người sáng lập, những người lãnh đạo công ty. Không ai khác, chính họ sẽ biết được đích xác họ muốn gì, những giá trị nào là nền tảng cho sự phát triển của doanh nghiệp hay tổ chức. Từ những giá trị nền tảng này sẽ hình thành nên sứ mệnh hay tầm nhìn định hướng của doanh nghiệp và những điều này sẽ tạo nên cách ứng xử của nhân viên trong công ty với khách hàng, với cộng đồng và cả với đồng nghiệp.

Continue reading →