THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: THÌ HÀNH ÁN SAI RỒI ĐỂ ĐÓ

TRÙNG KHÁNH

Dù đã kê biên và thông báo bán nhà nhưng chấp hành viên lại buộc người phải thi hành án tháo dỡ nhà để phát mại đất. Năm 1987, TAND tỉnh Long An xử buộc chồng bà Trần Thị Phùng (ngụ phường 5, thị xã Tân An, Long An) trả cho nguyên đơn một số tiền tương đương 23,3 tấn gạo.

Buộc tháo dỡ nhà để phát mại đất

Tháng 6-1989, để cưỡng chế thi hành án, chánh án TAND thị xã Tân An ra quyết định kê biên căn nhà lá 70 m2 do vợ chồng bà Phùng xây dựng trên 192 m2 đất thuê của người khác. Đến năm 1990 (sau thời điểm vợ chồng bà Phùng bị kê biên nhà), mẹ bà Phùng đã mua lại số đất này (phân thành hai lô) rồi chuyển nhượng cho bà Phùng. Ngay sau đó, bà Phùng đã được UBND tỉnh Long An ra quyết định giao quyền sử dụng đất.

Giữa năm 1992, TAND thị xã Tân An đăng báo cho biết sẽ phát mại căn nhà trên để thi hành án. Nhưng cùng thời điểm này, chấp hành viên lại yêu cầu vợ chồng bà Phùng tháo dỡ nhà để phát mại hai lô đất. Bà Phùng liền nộp đơn khiếu nại với lý do số đất đó là tài sản riêng của bà. TAND thị xã Tân An nhận đơn nhưng không giải quyết và đã cho phát mại đất. Ba tháng sau, do không ai mua và người được thi hành án cũng không chịu nhận đất nên chấp hành viên đã bán hai lô đất cho hai người khác.

Continue reading →

KHÁI NIỆM CÔNG TY HỢP DANH TẠI LUẬT DOANH NGHIỆP NĂM 2005

TS. NGÔ HUY CƯƠNG – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Là một hình thức công ty ra đời sớm nhất trong lịch sử loài người, công ty hợp danh bao giờ cũng được nhắc tới trước tiên trong các đạo luật hay các công trình nghiên cứu về công ty. Theo pháp luật Việt Nam hiện nay, công ty hợp danh bị gắn với một hình thức công ty khác là công ty hợp vốn đơn giản để cùng được gọi là “công ty hợp danh”. Theo tác giả, cách thức này đã dẫn đến sự nhận thức thiếu chính xác về cả hai hình thức công ty này, và còn dẫn đến nhiều quy định không thích hợp đối với chúng.

Nguyên nhân của khiếm khuyết nêu trên thể hiện rất rõ qua Luật Doanh nghiệp năm 2005, có lẽ là do nhà làm luật thiếu nhận biết chính xác về các hình thức công ty đang tồn tại từ xưa tới nay trên thế giới, cũng như ở Việt Nam trước kia, thiếu chú trọng một cách cần thiết tới công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Trong tiếng Anh, công ty hợp danh được gọi là “general partnership” hay “simply partnership”, còn công ty hợp vốn đơn giản được gọi là “limited partnership”. ở các nước thuộc họ pháp luật Anh – Mỹ, mỗi dạng công ty nói trên có quy chế pháp lý riêng về thành lập và vận hành. Có lẽ, Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam bị ảnh hưởng bởi pháp luật Hoa Kỳ?

Xét về bản chất, từ thủa ban đầu, công ty hợp danh là sự liên kết giữa các thương nhân đơn lẻ để cùng nhau hoạt động dưới một tên hãng chung. Cho đến nay, dù có đôi chút thay đổi về chủ thể tham gia vào sự liên kết đó (sẽ được phân tích sau), thì sự nhận thức như vậy về bản chất của công ty hợp danh vẫn rất có giá trị trong việc giải thích nhiều vấn đề có liên quan. Có thể hiểu một cách giản dị, công ty hợp danh là một công ty của hai hay nhiều người cùng tiến hành hoạt động kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận. Cũng có thể hiểu, một công ty hợp danh được xem là một người và cùng với nó là các chủ sở hữu của nó (1). Khác hơn thế, Luật Doanh nghiệp năm 2005 của Việt Nam định nghĩa:

Continue reading →

TIẾP TỤC ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. HOÀNG MẠNH HÙNG – Chánh án Toà án nhân dân Quận Cầu Giấy

Trong bộ máy nhà nước ta, Toà án nhân dân có vị trí vô cùng quan trọng. Điều 127 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: "Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam". Điều 72 Hiến pháp năm 1992 cũng khẳng định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật". Đây là cơ sở pháp lý để xác định vị trí quan trọng của Toà án nhân dân trong hệ thống các cơ quan tư pháp. Vị trí này xuất phát từ "tính hệ thống và tính chỉnh thể của hệ thống tư pháp bản thân chúng đã cho thấy rõ vai trò trung tâm của Toà án (khâu xét xử) trong hệ thống tư pháp"(1).

Có thể nói, trong nhiều giai đoạn lịch sử của Nhà nước ta, Toà án nhân dân đã trải qua những cuộc cải cách và đổi mới về tổ chức cũng như phương thức hoạt động để đáp ứng nhiệm vụ ngày càng nặng nề của nền tư pháp, nhất là trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Kết quả phát triển và lớn mạnh của Toà án nhân dân ngày nay thể hiện đậm nét sự vận dụng đường lối lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân.

1- Những quan điểm cơ bản của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới

Quan điểm của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân trong thời kỳ đổi mới thể hiện ngay từ các văn kiện ban hành sau Đại hội VII. Quan điểm này được thể hiện ở nhiều văn kiện, trong đó có các văn kiện tiêu biểu như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 và Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 của Ban chấp hành Trung ương khoá VII; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 8-11-1993 của Ban Bí thư về "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan bảo vệ pháp luật"; Chỉ thị số 34 – TC/TW ngày 18-3-1994 của Ban Bí thư về "Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán Toà án nhân dân, Thẩm phán Toà án quân sự các cấp"; Chỉ thị số 52-CT/TW ngày 16-3-2000 của Bộ Chính trị về "Phạm vi trách nhiệm, quyền hạn giữa cấp uỷ Đảng với Đảng uỷ Công an, Ban Cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân, Ban Cán sự đảng Toà án nhân dân trong công tác bảo vệ Đảng và xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên"; Chỉ thị số 53 – CT/TW của Bộ Chính trị ngày 21-3-2000 về "Một số công việc cấp bách của các cơ quan tư pháp cần thực hiện trong năm 2000". Continue reading →

BÀN VỀ KHÁI NIỆM XÃ HỘI HÓA

GS. NGÔ THÀNH DƯƠNG

Gần đây trên báo chí và phát thanh truyền hình trong nước một số bài viết và nói đã sử dụng khái niệm "xã hội hóa". Các tác giả nói về chủ trương của Đảng và Nhà nước xã hội hóa giáo dục và văn hóa. Có bài chỉ nói thoáng qua, nhưng có bài lại phân tích lý luận về xã hội hóa. Ở đây tôi muốn trao đổi về mặt lý luận để chúng ta sử dụng khái niệm đó như thế nào cho chính xác.

Lượm lặt qua các báo tôi tóm tắt một số ý kiến nói về "xã hội hóa" như sau:

"Tăng nguồn lực đầu tư của Nhà nước để phát triển các lĩnh vực xã hội và thực hiện các mục tiêu xã hội, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa – coi đây là một biện pháp rất cơ bản nhằm huy động mọi nguồn lực, trí tuệ của các thành phần kinh tế, của các tổ chức xã hội, của mọi người".

"Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục".

"Chuyển một số trường đại học, cao đẳng bán công sang loại hình tư thục. Thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước…

"Huy động mọi nguồn lực xã hội cho phát triển văn hóa, xã hội hóa các hoạt động văn hóa".

Người ta dẫn chứng việc thực hiện chủ trương xã hội hóa đó như là cho phép thành lập một số công ty làm phim tư nhân, vận động xã hội hóa việc tu sửa giữ lại dáng hình xưa của các phố cổ v.v…

Theo cách nói trên, người ta hiểu khái niệm xã hội hóa như sau:

Continue reading →

BÌNH ĐẲNG VỀ GIỚI VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI

GS. LÊ THI – Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn

Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ban hành năm 1946 đã công bố nguyên tắc "Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện". Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 lại khẳng định rõ nguyên tắc này.

Việt Nam là một trong những nước đầu tiên đã ký vào Công ước Cedaw, nhằm xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.

Văn bản của Liên hợp quốc cũng đã nói rõ "Bình đẳng về giới là nam nữ được công nhận có vị thế xã hội ngang nhau, có những điều kiện như nhau để thực hiện đầy đủ các quyền con người, có cơ hội như nhau để đóng góp và hưởng lợi từ sự phát triển chính trị, kinh tế – xã hội và văn hoá của đất nước"(1). Quyền bình đẳng giữa nam và nữ là một nội dung cơ bản của Luật nhân quyền quốc tế.

Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện. Nguyên tắc này của Hiến pháp Việt Nam đã khẳng định: nam và nữ đều bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, bình đẳng trong học tập, đào tạo, bồi dưỡng kiến thức văn hoá và nghề nghiệp; bình đẳng trong lao động, tìm kiếm việc làm, sắp xếp lương bậc, đề bạt, cất nhắc; bình đẳng trong việc tham chính vào các cơ quan chính quyền và dân sự các cấp; bình đẳng trong việc hưởng thụ các phúc lợi vật chất và tinh thần; bình đẳng trong gia đình, trong sử dụng tài sản, quyết định công việc quan trọng và chăm sóc con cái.

Continue reading →

VỀ TÍNH HỢP PHÁP, HỢP LÝ TRONG QUYẾT ĐỊNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC HIỆN NAY

THS. TRẦN VĂN DUY – Học viện Tư pháp

Quyết định quản lý nhà nước (QLNN) chiếm vị trí trung tâm trong hoạt động QLNN, là phương tiện không thể thiếu để các chủ thể QLNN sử dụng nhằm thực hiện chức năng QLNN. Quyết định QLNN có vai trò quan trọng trong việc hoạch định chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn cho hoạt động quản lý; đặt ra, sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính hoặc làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng; làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính cụ thể.

Vì vậy, các chủ thể QLNN khi ban hành quyết định QLNN trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN hiện nay có trách nhiệm phải bảo đảm để quyết định đó phải hội đủ được những yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý. Nói cách khác, đó phải là một quyết định QLNN có tính khả thi cao, được xây dựng phù hợp với đường lối chính trị, nhu cầu, nguyện vọng của người dân.

1. Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý nhà nước hiện nay

Theo yêu cầu đặt ra trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam hiện nay, một quyết định QLNN chỉ có hiệu lực thi hành khi nó hợp pháp, tức là thoả mãn tất cả các yêu cầu sau:

Thứ nhất, quyết định QLNN được ban hành phải phù hợp với nội dung và mục đích của luật, không trái với hiến pháp, luật, pháp lệnh và các quy định của cơ quan nhà nước cấp trên.

Continue reading →

MẤY VẤN ĐỀ VỀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU VÀ THÀNH PHẦN KINH TẾ Ở NƯỚC TA

PGS.TSKH. NGUYỄN VĂN ĐẶNG – Phó Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

Trải qua gần 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, quan điểm, tư duy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã thay đổi có tính cách mạng trên nhiều vấn đề to lớn và trọng đại về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đã có những đổi mới tư duy lý luận – thực tiễn rất quan trọng về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế gắn với những đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế, thực hiện dân chủ hóa kinh tế, đổi mới chế độ phân phối và nhận thức rõ hơn về định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cũng đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn để giải phóng sức sản xuất, phát huy ngày càng tốt hơn mọi nguồn lực của đất nước, tạo tiền đề thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

1 – Những đổi mới quan trọng của Đảng về chế độ sở hữu và thành phần kinh tế

Từ Đại hội VI, Đảng ta đã khẳng định phải giải phóng sức sản xuất, khuyến khích làm giàu, xóa đói giảm nghèo; coi đó là khâu đột phá để phát triển. Chủ trương phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để sức sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, cải thiện đời sống nhân dân. Từ đó tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mọi nguồn lực trong xã hội đầu tư cho phát triển và giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Điều đáng chú ý là đã lấy phát triển lực lượng sản xuất làm động lực để hoàn thiện và đổi mới quan hệ sản xuất. Continue reading →

QUYỀN NHÂN THÂN CỦA CÁ NHÂN: KHI NGƯỜI SỐNG BỊ KHAI TỬ

THANH HẢI

Bệnh viện lẫn thân nhân của “người chết” đều có lỗi nên mới dẫn đến cớ sự. Qua nhiều trở ngại, cuối cùng cô P. cũng được xóa tên khỏi sổ khai tử và xin nhập hộ khẩu trở lại. Hơn sáu năm nay, bà Nguyễn Thị G. (phường 25, quận Bình Thạnh, TP.HCM) loay hoay chạy tới lui làm thủ tục xin nhập lại hộ khẩu cho con gái của bà đã bị cắt hộ khẩu trước đây. Vướng mắc bắt nguồn từ khi con gái của bà bị khai tử từ năm 1998 bất thình lình trở về nhà vào tháng 12-2002.

Nhận diện nhầm

Theo trình bày của bà G., con gái bà là HTNP (năm nay 47 tuổi) bị bệnh tâm thần, đi lạc từ năm 1997. Đến tháng 1-1998, bà G. nhận được tin báo tại Bệnh viện An Bình có phụ nữ vô danh chết. Do xác của người này đã bị thiêu nên bà không trực tiếp nhận diện con được mà chỉ nhận diện qua ảnh chụp xác chết. Thấy giống cô P. nên gia đình đã nhận giấy báo tử của Bệnh viện An Bình và làm thủ tục khai tử cho cô P. tại UBND phường 25 (quận Bình Thạnh).

Tháng 12-2002, bà G. bất ngờ nhận được tin báo của Bệnh viện Tâm thần tỉnh Dăk Lăk đề nghị bà liên hệ với bệnh viện để nhận cô P. về. Gia đình bà khấp khởi mừng thầm đến nhận con nhưng lần này bà đã cẩn thận đề nghị bệnh viện cung cấp các giấy tờ chứng minh con mình đã được điều trị nhiều năm tại đây. Sau khi xác định đúng là cô P., bà G. đưa con về nhà chăm sóc đến nay. Tuy nhiên, từ khi trở về, cô P. không có giấy tờ tùy thân và sống tại địa phương với hồ sơ pháp lý là đã chết. Gia đình bà G. nhiều lần làm đơn gửi công an quận xin nhập lại hộ khẩu cho cô P. nhưng đều bị từ chối với lý do cô P. đã được khai tử từ năm 1998.

Continue reading →

KHI NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ KINH DOANH

LÊ VĂN TỨ

Nếu nền kinh tế tập trung bao cấp công hữu hóa không chấp nhận thành phần kinh tế tư nhân, thì ngược lại, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần lại đòi hỏi phải có thành phần kinh tế nhà nước, đơn giản chỉ vì nếu thiếu, thì đó không còn là kinh tế thị trường nhiều thành phần nữa.

Theo định đề này, có thể thấy cải cách doanh nghiệp nhà nước có hai nội dung chủ yếu:

1. Cổ phần hóa một bộ phận kinh tế nhà nước, trong đó cổ phần hóa được hiểu giống như tư nhân hóa khi toàn bộ một doanh nghiệp được cổ phần hóa và đa phần trường hợp là chỉ cổ phần hóa một phần doanh nghiệp. Cả hai dạng cổ phần hóa nêu trên đều đã diễn ra trong thực tế.

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước sẽ có hai loại: (i) Doanh nghiệp nhà nước (không/chưa cổ phần hóa), bao gồm những doanh nghiệp lớn trong những ngành kinh tế – kỹ thuật nòng cốt. Những doanh nghiệp này có thể mang những tên gọi khác nhau, như Tập đoàn A, Tổng công ty B, Công ty cổ phần C, Công ty TNHH một thành viên D…, song có đặc điểm chung: Nhà nước vẫn là chủ sở hữu duy nhất. Nhà nước cần nắm giữ những doanh nghiệp này vì đó chính là sức mạnh và cũng là quyền lực kinh tế mà Nhà nước có thể trực tiếp sử dụng cùng với quyền lực chính trị để quản lý xã hội. Và đó cũng là những lĩnh vực mà Nhà nước phải đảm nhiệm duy trì và phát triển, dù vốn đầu tư có lớn, suất sinh lợi có thấp. (ii) Doanh nghiệp cổ phần hóa một phần, sở hữu hỗn hợp, Nhà nước chỉ là một đồng sở hữu, với tên gọi là Công ty cổ phần N, Công ty cổ phần M… Phân biệt hai loại doanh nghiệp như vậy nhằm tạo thuận tiện cho việc xây dựng cơ chế quản lý kinh doanh của chủ sở hữu – Nhà nước phù hợp với từng loại.

Continue reading →

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN HIỆN NAY

PGS. TS. VŨ TRỌNG KHẢI

Trong thời gian vừa qua, nhiều cuộc hội thảo khoa học và các phương tiện thông tin đại chúng đều phản ánh thực trạng nông nghiệp nông thôn, nông dân với biết bao vấn đề nảy sinh đang bức xúc đòi hỏi phải giải quyết. Dân số sống bằng nghề nông chiếm 70% dân số cả nước, 57% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp, nhưng chỉ tạo ra chưa đầy 20% GDP và do đó, về cơ bản họ cũng chỉ được hưởng lợi trong khuôn khổ con số đó mà thôi;

Chênh lệch thu nhập giữa nông dân và thị dân ngày càng cao, với chỉ số Gini khoảng 0,43; Trong quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa, và hội nhập kinh tế quốc tế, nông dân là tầng lớp dễ bị tổn thương nhất; Họ đang đứng bên lề của quá trình đó nên ít được hưởng lợi; Nông dân bị mất đất do phát triển công nghiệp, du lịch và đô thị mà không kiếm được kế sinh nhai mới; Môi trường tự nhiên và nhân văn ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng với sự xuất hiện nhiều làng ung thư, các con sông chết, các giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống ngày càng bị mai một, tệ nạn xã hội nông thôn ngày càng gia tăng…. Thế nhưng, theo tôi, còn một thực trạng nữa chưa hay ít được bàn tới là “thực trạng chính sách phát triển nông thôn với những vấn đề nảy sinh cũng rất bức xúc cần được giải quyết”. Bởi vì chúng là nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất, nếu không nói là chủ yếu, gây ra tình trạng và các vấn đề nói trên trong nông nghiệp, nông thôn.

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM

VŨ XUÂN TIỀN – Tổng giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn quản lý và Đào tạo VFAM Việt Nam

Thời báo Kinh tế Sài Gòn số ra ngày 4-6-2009 đăng bài “Cần một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp” của TS. Nguyễn Sỹ Phương và số ra ngày 11-6-2009 có bài “Muốn bộ máy chuyên nghiệp phải có công chức có trách nhiệm” của tác giả Diệp Văn Sơn. Hai bài viết đã đề cập đến một vấn đề “nóng” trong bộ máy nhà nước ta hiện nay. Xin góp thêm tiếng nói vào vấn đề nêu trên là làm gì để có những công chức có trách nhiệm?

Trong điều kiện hiện nay ở nước ta, để có những công chức có trách nhiệm nên làm ngay những việc sau đây:

Một là, cải tiến công tác tuyển chọn công chức. Cơ chế tuyển chọn hiện nay của nước ta thiếu công khai, minh bạch và còn nhiều kẽ hở để lợi dụng. Biểu hiện của điều đó là việc tuyển chọn không dựa trên những tiêu chuẩn về năng lực thực sự mà chỉ dựa trên chứng chỉ, bằng cấp, vốn nhiều khi được mua bằng tiền.

Hơn nữa, việc tuyển dụng và đề bạt công chức bị chi phối bởi nhiều quan hệ cá nhân; những người giỏi chuyên môn nhưng không “ngoan” thường không được trọng dụng… Một khi “đầu vào” của đội ngũ công chức như vậy thì không thể kỳ vọng có một đội ngũ công chức có trách nhiệm, có lương tâm với công việc.

Continue reading →

BÁO CÁO SỐ 238/BC-UBTVQH12 NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT QUẢN LÝ NỢ CÔNG

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Chiều ngày 29 tháng 5 năm 2009, Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về Dự án Luật quản lý nợ công.

Trên cơ sở ý kiến của các vị Đại biểu Quốc hội (ĐBQH), Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã chỉ đạo Cơ quan thẩm tra, Cơ quan soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, hoàn chỉnh Dự án Luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại Kỳ họp này.

UBTVQH xin báo cáo giải trình, tiếp thu chỉnh lý Dự án Luật quản lý nợ công như sau:

1. Về phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật

(1) Có ý kiến cho rằng, phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng lại quy định về việc vay lại của doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp được vay lại từ nguồn vay của Nhà nước như chính quyền địa phương thì phải bổ sung nợ của DNNN vào phạm vi điều chỉnh của luật và quy định thành một chương riêng như nợ của chính quyền địa phương.

UBTVQH xin giải trình như sau:

Thứ nhất, phạm vi điều chỉnh của Dự thảo luật đã bao gồm phần nợ của DNNN liên quan trực tiếp đến nghĩa vụ trả nợ của NSNN (Điều 1). Đó là nợ Chính phủ cho DNNN vay lại, nợ DNNN được Chính phủ bảo lãnh; theo đó, Điều 23 quy định đối tượng được vay lại là doanh nghiệp, Điều 24 quy định điều kiện để doanh nghiệp được vay lại, trong đó có DNNN… Việc DNNN vay lại nguồn vay của Chính phủ là khâu sử dụng vốn vay của nợ công.

Continue reading →

BÁO CÁO SỐ 236/BC-UBTVQH12 NGÀY 13 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Ngày 21/5/2009, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Hội trường về dự thảo Luật bồi thường nhà nước. Đã có 22 đại biểu Quốc hội cho ý kiến về dự thảo Luật và 02 đại biểu Quốc hội góp ý bằng văn bản. Về cơ bản, các đại biểu Quốc hội tán thành với những nội dung tiếp thu, chỉnh lý được thể hiện trong dự thảo Luật và Báo cáo giải trình số 220/BC-UBTVQH12 ngày 07/5/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đồng thời góp ý về nhiều điều, khoản cụ thể của dự thảo Luật. Trên cơ sở ý kiến đại biểu Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo cơ quan thẩm tra, cơ quan trình dự án Luật và các cơ quan hữu quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật để trình Quốc hội thông qua.

Ủy ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như sau:

1. Tên gọi và phạm vi điều chỉnh

– Nhiều ý kiến đại biểu Quốc hội tán thành tên gọi của Luật là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, một số ý kiến vẫn đề nghị giữ tên gọi của dự thảo Luật là Luật bồi thường nhà nước.

Continue reading →

BÁO CÁO SỐ 248/BC-UBTVQH12 NGÀY 17 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ THẢO LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG ĐIỀU 126 CỦA LUẬT NHÀ Ở VÀ ĐIỀU 121 CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội

Dự án Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai được các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở Tổ (chiều ngày 22/5/2009) và tại Hội trường (sáng ngày 02/6/2009). Qua ý kiến thảo luận và một số ý kiến tham gia bằng văn bản, cho thấy, về cơ bản các đại biểu Quốc hội nhất trí với Tờ trình của Chính phủ, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế và nội dung của Dự án Luật. Đồng thời, cũng còn một số ý kiến tập trung vào một số vấn đề về: sự cần thiết, đối tượng được sở hữu nhà, số lượng nhà được sở hữu, quyền và nghĩa vụ của người mua nhà ở gắn với quyền sử dụng đất… Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo nghiên cứu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội và xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai như sau:

1. Về sự cần thiết

Đa số ý kiến đại biểu đều nhất trí với sự cần thiết phải sửa đổi Điều 126 của Luật nhà ở và Điều 121 của Luật đất đai để điều chỉnh các đối tượng và điều kiện cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Có một số ý kiến đề nghị cần phải làm rõ tính cấp thiết của việc sửa đổi, bổ sung Dự án Luật này và sử ảnh hưởng đến thị trường bất động sản ở trong nước.

Continue reading →

BÁO CÁO SỐ 249/BC-UBTVQH12 NGÀY 18 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA XII GIẢI TRÌNH, TIẾP THU, CHỈNH LÝ DỰ ÁN LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA CÁC LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN

Kính gửi: Các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp thứ 5 Quốc hội khóa XII, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở tổ (ngày 29/5/2009) và Hội trường (ngày 8/6/2009) về Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản. Đã có 217 lượt ý kiến phát biểu ở tổ và 27 lượt ý kiến phát biểu tại Hội trường. Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, nghiên cứu nghiêm túc để tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật. Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật như sau:

1. Về sự cần thiết ban hành và quy trình xem xét, thông qua dự án Luật

Đa số các vị đại biểu Quốc hội đều nhất trí về việc cần phải sửa đổi, bổ sung một số điều ở một số luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nhằm cải cách thủ tục, thúc đẩy tiến độ đầu tư xây dựng các dự án, công trình. Một số ý kiến tuy nhất trí về sự cần thiết ban hành Luật, nhưng cho rằng, vấn đề đầu tư xây dựng cơ bản liên quan đến nhiều luật, thời gian chuẩn bị còn ít, để bảo đảm chất lượng thì cần thêm thời gian nghiên cứu, xem xét, rà soát kỹ lưỡng, sửa đổi toàn diện các luật liên quan, do vậy, đề nghị xem xét, thông qua dự án Luật theo quy trình tại 2 kỳ họp thứ 5 và thứ 6. Cũng có ý kiến chưa tán thành việc sửa đổi, bổ sung này.

Continue reading →

DỰ THẢO NGHỊ ĐỊNH QUI ĐỊNH NHỮNG NGƯỜI LÀ CÔNG CHỨC TRONG CƠ QUAN ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, TỔ CHỨC CHÍNH TRỊ – XÃ HỘI VÀ TRONG BỘ MÁY LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật cán bộ, công chức ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng:

Nghị định này quy định những người là công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập). 

Điều 2. Công chức trong các cơ quan của Đảng ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện

Công chức trong các cơ quan của Đảng ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế và hưởng lương từ Ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan, tổ chức sau:

Continue reading →

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS. VS. NGUYỄN DUY QUÍ 

1 – Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ

Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Điều này có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân chủ. Tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, nhưng nhà nước pháp quyền không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ.

Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:

– Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuất hiện nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển.

Continue reading →

NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

GS. VS. NGUYỄN DUY QUÍ 

1 – Về phương diện lý luận, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước. Nhà nước pháp quyền là giá trị phổ biến, là biểu hiện của một trình độ phát triển dân chủ

Trong ý nghĩa này, nhà nước pháp quyền được nhìn nhận như một cách thức tổ chức nền dân chủ, cách thức tổ chức nhà nước và xã hội trên nền tảng dân chủ. Điều này có nghĩa là nhà nước pháp quyền gắn liền với một nền dân chủ. Tuy không phải là một kiểu nhà nước được xác định theo lý luận về hình thái kinh tế – xã hội, nhưng nhà nước pháp quyền không thể xuất hiện trong một xã hội phi dân chủ.

Sự phủ nhận quan điểm xem nhà nước pháp quyền như một kiểu nhà nước có ý nghĩa nhận thức luận quan trọng trong việc nhìn nhận đúng bản chất của nhà nước pháp quyền. Ý nghĩa nhận thức luận này bao hàm các khía cạnh sau:

– Chỉ từ khi xuất hiện dân chủ tư sản, mới có cơ hội và điều kiện để xuất hiện nhà nước pháp quyền. Do vậy, trên thực tế, nhà nước pháp quyền tư sản đang được tuyên bố xây dựng ở hầu hết các quốc gia tư bản phát triển và đang phát triển.

Continue reading →

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA BỘ MÁY NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

NGUYỄN XUÂN THÔNG

Đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy Nhà nước là một nhiệm vụ trọng tâm để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Để làm rõ vấn đề này đã có nhiều cơ quan chức năng và nhiều nhà khoa học nêu lên khá hệ thống và cụ thể. Trong bài viết này tôi muốn làm rõ một số nội dung chính sau đây:

I. Trong nội dung đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước, vấn đề đầu tiên là phải đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội. Bởi vì, đây là một trong những nội dung cơ bản của việc kiện toàn tổ chức và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất và là cơ quan Nhà nước duy nhất do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội bao gồm các đại biểu đại diện cho các tầng lớp nhân dân và cho các vùng lãnh thổ, là hình ảnh thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc và đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, là nơi thực hiện và thể hiện chế độ dân chủ đại diện vừa là nơi thể hiện và thực hiện dân chủ trực tiếp. Quốc hội vừa có tư cách nhân dân, vừa có tư cách Nhà nước. Do đó, tổ chức và hoạt động của Quốc hội có vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị và trong bộ máy Nhà nước. Thực tế chỉ ra rằng, muốn xây dựng và củng cố nền tảng chính trị pháp lý vững chắc cho hệ thống quyền lực chính trị, quyền lực Nhà nước phải chăm lo xây dựng, củng cố và phát huy vai trò của Quốc hội trong việc thực hiện các chức năng lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao toàn bộ hoạt động của Nhà nước.

Continue reading →