TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: THỪA NHẬN SAI TRÁI LẠI NÉ BỒI THƯỜNG?

THÀNH NHÂN

Thừa nhận một chiến sĩ công an đã đấm, đá người vi phạm nhưng ủy ban xã đẩy trách nhiệm bồi thường sang người khác. Hơn năm tháng nay, ông Mang Công Nghiệp (ấp An Thọ, xã An Cơ, huyện Châu Thành, Tây Ninh) cứ ấm ức việc một công an ở xã Trà Vong, huyện Tân Biên đã đánh ông đến nỗi ho ra máu.

Từ vụ xô xát tại quán nhậu

Ông Nghiệp kể lại: Lúc 21 giờ ngày 4-1-2009, ông có đến một quán ăn ở ấp 4, xã Trà Vong, huyện Tân Biên. Tại đây, ông nhìn thấy một người đàn ông từ quán bên cạnh bước qua và có hành động sàm sỡ với một em gái. Ông Nghiệp vội đến ngăn cản và đã bị người đàn ông dùng cục đá đánh vào mặt, gây tét nhẹ ở dưới cằm… Bất bình trước sự việc, một số thanh niên trong ấp đã xông vào đánh người đàn ông.

Khoảng năm phút sau, ông Phan Thanh Hải – một chiến sĩ của Công an xã Trà Vong có mặt tại hiện trường và đã bắn một phát súng chỉ thiên. Ông Nghiệp hoảng sợ bỏ chạy. Bấy giờ, ông Hải bắn phát súng chỉ thiên thứ hai và rượt theo bắt ông Nghiệp. “Ông Hải đã đè tôi xuống để còng tay tôi tại đám mì cách quán khoảng 100 m. Không cần hỏi nguyên nhân sự việc, ông Hải đã liên tiếp dùng súng ngắn đánh vào người tôi khiến tôi bị rớt hàm răng giả không tìm lại được” – ông Nghiệp nói.

Continue reading →

VỤ ÁN: BI KỊCH CƯỚI NHẦM TRẺ CON?

THANH TÙNG – VĂN ĐOÀN

10 năm sau khi lấy vợ, có hai con, bị cáo bỗng bị bắt về tội hiếp dâm trẻ em do cưới nhầm cô dâu mười hai tuổi rưỡi. Nhiều người băn khoăn, liệu bị cáo có đáng bị trừng phạt không?

Ngày 19-6, TAND tối cao tại TP.HCM đã tuyên hủy toàn bộ án sơ thẩm vụ Ngô Minh Thuận phạm tội hiếp dâm trẻ em để trả hồ sơ điều tra lại từ đầu do chưa rõ độ tuổi của người bị hại. Cũng trong phiên xử, đại diện VKSND tối cao cho rằng khi phát hiện vụ việc đã 10 năm nhưng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn nên vụ án không có vấn đề gì về tố tụng. Tuy nhiên, phía Viện tối cao đã rút toàn bộ kháng nghị đòi tăng hình phạt đối với bị cáo của VKSND tỉnh Tây Ninh…

“Gạo” đã nấu thành “cơm”

Thuận làm nghề sửa xe máy thuê, còn N. hằng ngày phụ bán hàng cho người dì ở một cửa hàng bên cạnh (thuộc thị trấn Hòa Thành, Tây Ninh). Từ quê lên thị trấn, thoát cảnh chân lấm tay bùn nên cô bé N. trở nên trắng trẻo, phổng phao, vẻ người lớn. Qua mai mối, họ đã làm quen và thân nhau lúc nào không hay. Hai bên gia đình biết chuyện nên cũng có ý tác hợp cho con trẻ.

Chuyện mừng rồi cũng đến, dù chưa đăng ký kết hôn, ngày 25-5-1998, Thuận và N. ra mắt họ hàng, bạn bè bằng một đám cưới long trọng. Về sống chung, đôi lần Thuận ngờ ngợ vợ mình còn ít tuổi. Tuy nhiên, sau đó hai con lần lượt ra đời nên Thuận cũng quên bẵng.

Continue reading →

PHƯƠNG PHÁP ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ: LỊCH SỬ, BẢN CHẤT VÀ NHỮNG HÀM Ý CHO PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC Ở BẬC ĐẠI HỌC

PGS. TS. HOÀNG VĂN VÂN – Khoa Sau Đại học , Đại học Quốc gia Hà Nội

Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống. Ở Việt Nam cách đây một vài năm đã có một số trường đại học chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này.

1. Dẫn luận

Tín chỉ là một phương thức đào tạo tỏ ra có nhiều ưu thế so với phương thức đào tạo truyền thống. Ở Việt Nam cách đây một vài năm đã có một số trường đại học chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này. Tuy nhiên, do tính toán chưa kĩ, chưa có những bước đi phù hợp và nhất là chưa lường trước được những khó khăn có thể nảy sinh trong quá trình áp dụng cho nên kết quả của việc áp dụng này thường không theo mong muốn; rút cuộc là công việc này thường kết thúc dở dang, và khi được hỏi quan điểm về đào tạo theo phương thức tín chỉ, câu trả lời thường là: “Khó, không áp dụng được, không phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam”. Nếu so với một số cơ sở đào tạo đại học đã kể trên thì Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) bắt đầu triển khai việc áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ muộn hơn. Công cuộc này mới chỉ thực sự được tiến hành từ tháng 5/2006. Tuy nhiên, nhìn lại tiến trình vận động, có thể khẳng định rằng ĐHQGHN có những bước đi thận trọng hơn nhưng vững chắc hơn, xác định được đúng chỗ cần bắt đầu để tạo điểm nhấn cho toàn bộ công cuộc áp dụng, từ đó xây dựng được một lộ trình áp dụng phù hợp. Bài viết này không dự định trình bày lại những bước đi trong lộ trình áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ ở ĐHQGHN. Thay vào đó, để phục vụ cho chủ đề của hội thảo, bài viết sẽ bắt đầu bằng việc trình bày lịch sử của giờ tín chỉ. Sau đó bài viết sẽ trả lời câu hỏi: “Tín chỉ là gì?”, nêu bật những đặc điểm chính của phương thức đào tạo theo tín chỉ, những lợi thế của phương thức đào tạo này so với phương thức đào tạo truyền thống. Cuối cùng bài viết sẽ đề xuất một số gợi ý về phương pháp giảng dạy – học ở bậc đại học trong hệ thống đào tạo theo tín chỉ, nêu bật vai trò của người dạy và người học trong hệ hình đào tạo mới, tạo hiệu quả cao trong dạy, học và nghiên cứu theo phương thức đào tạo theo tín chỉ ở Việt Nam nói chung và ở ĐHQGHN nói riêng.

Continue reading →

GIA TĂNG TỶ LỆ SINH CON THỨ BA: NHỮNG QUAN NGẠI VỀ ỔN ĐỊNH QUI MÔ DÂN SỐ

NGÂN GIANG

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, quy mô dân số Việt Nam đã lên tới 86,5 triệu người và sẽ còn tiếp tục tăng nhanh trong thời gian tới. Bên cạnh đó, tình trạng mất cân bằng giới tính trẻ sơ sinh cũng đang gây ra những quan ngại cảnh báo về những tác động tiêu cực đến đời sống xã hội. Quy mô dân số nước ta đang đứng thứ 13 trên thế giới; dự báo dân số sẽ tiếp tục tăng vào khoảng 88 triệu người vào năm 2010.

Thực tế cho thấy, đối tượng sinh con thứ 3 không dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại tập trung chủ yếu trong đối tượng công chức nhà nước, những gia đình khá giả. Theo Tổng cục Dân số, tình trạng sinh con thứ 3 và mất cân bằng giới đang xảy ra khá nghiêm trọng tại nhiều địa phương. 45/63 tỉnh, thành có số con thứ 3 trở lên tăng cao, trong đó tỉnh Cà Mau dẫn đầu với tốc độ tăng 100%, Trà Vinh 97%, Bạc Liêu 87%…

Nhiều chuyên gia cho rằng, quy định "mập mờ" của Pháp lệnh Dân số (PLDS) hiện hành chính là cái cớ để nhiều gia đình vin vào đó sinh thêm con thứ 3 và làm gia tăng sự mất cân bằng giới tính. Điều 10 PLDS năm 2003 quy định các cặp vợ chồng được quyền tự quyết số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh. Và theo đó, người dân mặc nhiên hiểu họ muốn sinh bao nhiêu con cũng được mà không quan tâm đến quy định của Chính phủ về nghĩa vụ mỗi gia đình chỉ nên có 1-2 con. Vì thế khi làm công tác tuyên truyền giảm tỷ lệ sinh con thứ 3, các cán bộ dân số gặp vướng mắc khi bị nhiều người dân lý luận: "Rõ ràng Quốc hội quy định là được tự quyết số con, sao anh lại bảo không nên?". Bên cạnh đó, các cơ quan đơn vị, cộng đồng nới lỏng biện pháp hành chính, e ngại xử lý đối với người sinh con thứ 3 trở lên đã làm cho việc thực hiện chỉ tiêu giảm sinh hàng năm càng thêm khó khăn.

Continue reading →

VẤN ĐỀ THƯƠNG HIỆU Ở VIỆT NAM TRƯỚC XU THẾ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

PHẠM TẤT THẮNG

Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế mang tính tất yếu khách quan. Xu thế này buộc các quốc gia phải mở cửa giao lưu kinh tế với các quốc gia khác, nếu không muốn bị gạt ra ngoài sự phát triển chung. Có thể thấy, không một quốc gia nào có thể đóng cửa để tự mình phát triển mà phải vươn ra thị trường thế giới.

Để hội nhập thành công, để tận dụng được các cơ hội mà xu thế này đem lại, có nhiều vấn đề đặt ra, trong đó có một vấn đề hết sức quan trọng là chúng ta cần phải xây dựng một chiến lược chủ động hội nhập, một chiến lược có thể phát huy một cách có hiệu quả các nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và năng lực cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ. Một trong những yếu tố quyết định vị thế của doanh nghiệp và góp phần đáng kể vào hiệu quả nâng cao năng lực cạnh tranh chính là vấn đề thương hiệu.

Theo định nghĩa của Hiệp hội Ma-ket-ting Hoa Kỳ, thương hiệu là cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng hay một kiểu dáng hoặc tổng hợp tất cả các yếu tố trên nhằm xác định các sản phẩm hay dịch vụ của một (hay một nhóm) người bán và phân biệt các sản phẩm (dịch vụ) đó với các đối thủ cạnh tranh. Thương hiệu là một thuật ngữ quen thuộc trong kinh doanh quốc tế. Ở Việt Nam, mặc dù các văn bản pháp luật chưa đề cập đến, nhưng nó vẫn được dùng phổ biến trong Ma-ket-ting và trên các phương tiện thông tin đại chúng. Thương hiệu là một thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong Ma-ket-ting để đề cập đến nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý (bao gồm tên gọi, xuất xứ và các chỉ dẫn cần thiết). Ở đây cần phân biệt thương hiệu với một số khái niệm khác như: nhãn hiệu, nhãn hiệu hàng hoá, tên thương hiệu, tên thương mại. Thương hiệu và nhãn hiệu nói chung về cơ bản là giống nhau vì đều có nguồn gốc từ từ "BRAND".

Continue reading →

“VĂN HÓA THUẾ”

NGUYỄN GIA HẢO

Bấy lâu nay khi nói tới thất thoát tài sản, đến tham nhũng và lãng phí ta thường nói tới “tài sản nhà nước” mà ít nói tới tiền thuế do người dân đóng góp. Người dân chưa quen và chưa quan tâm biết hàng năm mình đã đóng góp cho Nhà nước bao nhiêu, khác với người dân ở các nước kinh tế phát triển thường nói tới số thuế đóng góp hàng năm hơn là tiết lộ thu nhập của mình.

Người làm công ăn lương trong bộ máy công quyền hầu như chỉ hiểu mình ăn “lương ngân sách” để quản lý… “tiền ngân sách” mà ít thấy ngân sách là hợp thành của các khoản thuế đóng góp của từng người dân bình thường… từ đó mà xác định mọi hành vi ứng xử của mình từ trong công việc hàng ngày cho đến những quốc sách.

Người dân hiểu nộp đủ thuế là nghĩa vụ của mỗi công dân, là quyền lợi của mỗi người dân, tuy phần đóng góp của những người thu nhập còn thấp, còn nhỏ nhoi, song phải có được niềm tự hào vì mình đã đóng góp cho xã hội; hơn thế nữa người dân coi đó là trách nhiệm với đất nước, và, do “của đau, con xót” mà đòi được quyền kiểm soát hiệu quả đồng tiền mình bỏ ra.

Người làm công, ăn lương nhà nước cũng phải hiểu mình đang được nuôi từ tiền thuế của chính mình và mọi người đóng góp để có trách nhiệm với công việc mình được giao, có trách nhiệm quản lý đồng tiền thuế sao cho có hiệu quả, không bị thất thoát và hơn nữa, có được một thái độ đúng với công việc mình làm, nhờ đó, họ sẽ có được thái độ ứng xử đúng với đối tượng mình phục vụ, với người đóng thuế, chăm lo, giúp đỡ cho họ phát triển công việc, phát triển kinh doanh… từ đó mà tăng nguồn thuế, tăng nguồn cải thiện đồng lương…

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU: MƯỢN ĐẤT RỒI LẤY LUÔN

HUỲNH XUÂN

Theo trình bày của ông Nguyễn Công Khanh, trú tại ấp An Tập, xã Thiện Mỹ, huyện Mỹ Tú (nay là huyện Châu Thành), tỉnh Sóc Trăng: Cha mẹ ông có phần đất khoảng 7.000m2 tọa lạc tại ấp An Tập, xã Thiện Mỹ, sử dụng từ năm 1945 cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau đó, cha mẹ ông giao phần đất trên cho ông quản lý, sử dụng.

Ngày 04/02/1990, UBND xã Thiện Mỹ làm giấy mượn gia đình ông toàn bộ phần đất nói trên để làm chợ. Nội dung của giấy mượn đất ghi rõ: “Chấp hành lệnh của UBND huyện Mỹ Tú về việc giải tỏa khu vực nhà ở cặp mé sông, UBND xã Thiện Mỹ có mời ông Khanh đến để trao đổi và mượn tạm miếng đất để đưa một số hộ mua bán vào trong khu chợ đã được quy hoạch. Sau khi quy hoạch xong chúng tôi sẽ giải quyết trực tiếp với ông Khanh”. Giấy mượn do ông Nguyễn Văn Tượng, Chủ tịch UBND xã ký.

Sau khi quy hoạch chợ xong, không thấy UBND xã đả động gì tới việc trả đất, ông Khanh làm đơn yêu cầu trả đất thì UBND xã hứa sẽ cấp lại cho ông 2 nền thổ cư ngay trên đất đã mượn của gia đình ông và cấp lại cho ông 2.000m2 đất ruộng để sản xuất. Vì lợi ích chung, ông Khanh đồng ý với cách giải quyết đó. Chờ mãi không thấy giải quyết, ông khiếu nại thì UBND xã lại ban hành Quyết định số 07/QĐ.UBX.93 ký ngày 22/10/1993 với nội dung bác đơn khiếu nại xin lại đất của ông Nguyễn Công Khanh. ông Khanh khiếu nại lên UBND huyện Mỹ Tú và được UBND huyện giải quyết bằng Quyết định 103/QĐ.UBH.94 ký ngày 18/3/1994 với nội dung: “Công nhận quyết định số 07/QĐ.UBX.93 của UBND xã Thiện Mỹ, bác đơn xin lại đất của ông Nguyện Công Khanh”.

Continue reading →

CHỞ NGƯỜI KHÔNG ĐỘI MŨ BẢO HIỂM, NGƯỜI CẦM LÁI BỊ PHẠT?

CÔNG LÝ

Hiện nay công an xã đã được giao thẩm quyền tuần tra, kiểm soát và xử lý vi phạm theo Luật Giao thông đường bộ nhằm giảm tải, chia sẻ với công an huyện, tỉnh trong việc xử lý, giải quyết các vụ việc liên quan đến an toàn giao thông ở địa phương.

Theo đó, lực lượng công an xã được quyền tuần tra, kiểm soát và xử lý các lỗi vi phạm cơ bản trên các tuyến đường liên xã, liên ấp như: điều khiển xe môtô không đội mũ bảo hiểm, chạy lấn tuyến, phóng nhanh vượt ẩu, chạy xe môtô chở vượt số người theo qui định… Tuy nhiên theo ghi nhận của chúng tôi, hiện nay có nhiều trường hợp xử phạt theo thẩm quyền của công an xã chưa đúng theo quy định của pháp luật…

Phạt chủ xe vì chở người ngồi sau vi phạm!?

Thực tế hiện nay lực lượng công an xã đang gặp phải khó khăn khi xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông theo điểm g, khoản 3, Điều 9 của Nghị định 146/2007/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ họ thường lúng túng, nhất là tình trạng người lái môtô, xe máy đội mũ bảo hiểm (MBH) nhưng người ngồi sau không đội mũ. Trong quá trình xử lý hầu hết các trường hợp vi phạm nếu người ngồi sau không đội MBH thì công an xã lập biên bản đối với chính người cầm lái (dù có đội MBH) vì theo các anh làm như thế mới chắc ăn!?.

Continue reading →

THẾ NÀO LÀ NGƯỜI TRÍ THỨC?

PAUL ALEXANDRE BARAN (PHẠM TRỌNG LUẬT dịch)

Paul Alexandre Baran là một nhà kinh tế học người Mỹ theo chủ nghĩa Marx. Tiểu luận The Commitment of the Intellectual ra đời trên Monthly Rewiew tháng 5 năm 1961. Bản dịch Pháp ngữ dưới tựa đề Qu’Est-ce qu’un Intellectuel, đăng trên tạp chí Partisans tháng 10 năm 1965, đã được Trần Sóc Sơn sử dụng để chuyển sang tiếng Việt lần đầu vào khoảng cuối thập niên 1960. Dịch lại lần này ở đây, chúng tôi sử dụng bản gốc, tuy nhiều chỗ vẫn dựa trên bản cũ, đồng thời giữ lại tựa đề của bản Pháp văn.

Ở đây, khi lập đường phân thủy giữa «trí thức» với «lao động trí thức», Baran đã đưa ra một sự phân biệt cần thiết. Và mặc dù được khai sinh trong hệ thống tư bản chủ nghĩa, thật ra đã vượt thoát khuôn khổ của môi trường này. Phê phán của ông đối với một thành phần xã hội nào đó ở nước Mỹ vẫn còn nguyên giá trị, nếu đường ranh trên được áp dụng trong một khung cảnh khác, quốc gia chậm tiến hay chủ nghĩa xã hội đương tồn.

Thế nào là người trí thức? Câu trả lời hiển nhiên nhất có lẽ như sau: đấy là người lao động với trí tuệ của mình, và kiếm sống (hoặc trong trường hợp không phải bận tâm vì sinh kế, thoả mãn lợi ích riêng của mình) nhờ bộ óc hơn là bằng bắp thịt. Tuy khá giản tiện và trực tiếp, nhìn chung, định nghĩa này vẫn không thích hợp. Đúng cho bất cứ ai không làm việc tay chân, rõ ràng là nó không ăn khớp với nghĩa thông thường của từ «trí thức». Những thành ngữ như «long-haired professor» và «egghead» cho phép ta nghĩ rằng có một khái niệm khác hẳn trong công luận để chỉ một hạng người nào đó như một tầng lớp nhỏ hơn bên trong loại người «lao động bằng trí óc».

Continue reading →

NHÀ Ở CHO CÔNG NHÂN CÁC KHU CÔNG NGHIỆP – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

NGUYỄN VĂN TRỊNH

Nhà ở và vấn đề đời sống của công nhân tại các khu công nghiệp đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Nó là lĩnh vực đòi hỏi sớm có những quốc sách mang tầm chiến lược.

1. Vị trí và thực trạng vấn đề nhà ở của công nhân tại các khu công nghiệp

Phát triển khu công nghiệp tạo ra một kênh thu hút lao động rất có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao động tại chỗ (kể cả số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất) và lao động nhập cư. Những năm gần đây, lực lượng lao động trong khu công nghiệp gia tăng mạnh mẽ gắn liền với sự gia tăng của các khu công nghiệp thành lập mới và mở rộng, các dự án hoạt động trong khu công nghiệp. Chỉ tính riêng trong thời kỳ 2001 – 2005, các khu công nghiệp đã thu hút thêm 65,6 vạn lao động trực tiếp, tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước (1991 – 2000).

Tính đến tháng 7-2006, cả nước có 135 khu công nghiệp và khu chế xuất được thành lập theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thu hút trên 865,64 nghìn lao động trực tiếp. Số lao động trực tiếp này chủ yếu tập trung tại một số tỉnh, thành phố phía Nam như thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 14,3 vạn, tỉnh Bình Dương có hơn 13 vạn, tỉnh Đồng Nai có trên 18,8 vạn. Ngoài ra, nếu tính cả số lao động gián tiếp thì tổng số việc làm được tạo ra từ chương trình phát triển khu công nghiệp khoảng trên 1,2 triệu người. Tỷ trọng lao động nhập cư trong tổng số lao động làm việc trong các khu công nghiệp của cả nước chiếm bình quân khoảng 37%. Tuy nhiên, ở các tỉnh, thành phố như: thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương tỷ lệ này chiếm trên 50%.

Continue reading →

THÔNG TƯ 10/2009/TT-BXD NGÀY 15 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA BỘ XÂY DỰNG HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG NHÀ Ở SINH VIÊN, NHÀ Ở CÔNG NHÂN KHU CÔNG NGHIỆP VÀ NHÀ Ở THU NHẬP THẤP

Căn cứ Nghị định 17/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Xây dựng;
Căn cứ Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;  Nghị định 49/2008/NĐ-CP ngày 18/4/2008 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 209/2004/NĐ-CP ngày 16/12/2004 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
Căn cứ Nghị định 90/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở;
Căn cứ Nghị định 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Nghị định 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
Căn cứ Quyết định 65/2009/QĐ-TTg, 66/2009/QĐ-TTg, 67/2009/QĐ-TTg ngày 24/4/2009 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số cơ chế, chính sách phát triển nhà ở cho sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, cho công nhân lao động tại các khu công nghiệp thuê, cho người có thu nhập thấp tại khu vực đô thị;

Bộ Xây dựng hướng dẫn chi tiết về quản lý dự án đầu tư xây dựng nhà ở sinh viên, nhà ở công nhân khu công nghiệp và nhà ở thu nhập thấp như sau:

Continue reading →

THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP: KIỆN GIẤY ĐỎ, VÌ SAO TÒA KHÔNG XỬ?

HOÀNG LAM

Tòa này viện lẽ luật tố tụng không quy định; tòa khác lại cho đó là việc của chính quyền. Theo lời kể của bà L. thì cách đây chừng 20 năm, bà có mua một phần đất và đã trực tiếp canh tác. Ngày nọ, khi phát hiện con dâu đã lén làm giấy đỏ phần đất này, bà bèn gọi con dâu đến hỏi chuyện. Nhận lỗi trước mẹ chồng, con dâu đồng ý giao lại giấy đỏ cho mẹ chồng nắm giữ, đồng thời hứa sẽ tiến hành thủ tục sang tên đất cho mẹ chồng. Nhưng rồi người con dâu đã không giữ lời hứa.

Nơi thụ lý, nơi không

Năm 2008, con dâu và con trai bà L. kéo nhau ra tòa để ly hôn và không yêu cầu được giải quyết về tài sản chung. Mới đây, con dâu cũ đã phát đơn kiện con trai bà L. ra tòa để đòi lại giấy đỏ. Cô này bảo rằng khi còn chung sống, người chồng đã lén lấy giấy đỏ của cô đem về nhà mẹ ruột cất giấu. Tuy nhiên, đơn khởi kiện của cô đã không được tòa án huyện thụ lý.

Năm 2007, Tòa dân sự TAND tối cao đã có công văn chỉ đạo các tòa cấp dưới không được quyền thụ lý yêu cầu đòi giấy đỏ. Công văn có nêu: “Theo quy định tại Điều 259 Bộ luật Dân sự thì khi thực hiện quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình, chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi cản trở trái pháp luật phải chấm dứt hành vi đó; nếu không có sự chấm dứt tự nguyện thì có quyền yêu cầu tòa án, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác buộc người đó chấm dứt hành vi vi phạm”. Mặc dù viện dẫn vậy nhưng Tòa dân sự TAND tối cao lại kết luận: “Như vậy, trong trường hợp đòi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì đương sự có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền khác giải quyết”.

Continue reading →

ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG THƯƠNG HIỆU TRONG NGÀNH NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

VIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NGÂN HÀNG

“Thương hiệu” đó hình thành trong tiềm thức của nhân dân ta từ rất lâu trong lịch sử nhưng giờ mới được đề cập đến như một khoa học. Chắc nhiều người biết đến câu thơ của Tố Hữu:

“Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng

Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông”

Câu thơ đã có cách đây hơn nửa thế kỷ gợi cho chúng ta đôi điều khi chúng ta nói về thương hiệu. Tuy nhiên, lúc đó thương hiệu mới chỉ dừng lại ở khái niệm sơ khai khi “Nga Sơn”, “Bát Tràng”, “Nam Định”, “Hà Đông” là những địa danh nhưng được sử dụng làm tên gọi cho các sản phẩm đặc thù của địa danh đó.

Ngày nay, khái niệm “thương hiệu” đã phát triển và có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình sản xuất cũng như tiêu dùng. Thương hiệu không chỉ là logo, quảng cáo mà nó là những giá trị được khách hàng cảm nhận và ghi nhận. Thương hiệu nằm trong trái tim, trí óc của khách hàng và sẽ trường tồn nếu được dày công xây dựng.

Continue reading →

Chuyển đổi sang hệ thống đào tạo tín chỉ tại Việt Nam: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

TS. NHUT HO – California State University, Northridge

TS. MICHELLE ZJHRA – Georgia Southern University

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt nam đang chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ, và trọng tâm của việc chuyển tiếp này là những thay đổi mang tính tổ chức và văn hóa cần phải được quản lý một cách đúng đắn để giúp các trường đại học trở thành những động cơ hữu hiệu cho việc sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bài viết gồm hai phần này, chúng tôi trình bày những cơ hội và thách thức trong phạm trù tổ chức và văn hóa của sự chuyển tiếp: những cơ hội liên quan đến các vấn đề về việc giảng dạy và học tập, cải tiến chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng của sinh viên, đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của giảng viên; và những thách thức về tổ chức và văn hóa như kế hoạch chiến lược vĩ mô, truyền thống, quan điểm của xã hội, và nguồn lực sẵn có. Phần một của bài viết tập trung vào việc quản lý tiến trình thay đổi dựa trên một phương thức phân tích theo hệ thống, nhấn mạnh việc đánh giá kết quả và sự cải tiến liên tục, và việc áp dụng những thực hành tốt nhất nhằm đưa đến những thay đổi vể mặt tổ chức. Phần hai của bài viết tập trung vào việc áp dụng và thực hiện những thực hành giáo dục tốt nhất gắn liền với mô hình chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ. Những thực hành tốt nhất bao gồm một hệ thống giáo dục tập trung vào việc học tập chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, phương pháp học tập và giảng dạy chủ động, khả năng suy xét thấu đáo, và khả năng đưa các sáng tạo thành sản phẩm có giá trị. Đối với Việt nam, những kỹ năng này rất cần thiết trong việc hình thành những công dân tốt cũng như nguồn lao động có kỹ năng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi phải có sự thay đổi mang tính hệ thống ở nhiều mức độ và phạm vi: sự tham gia của học sinh, phương pháp giảng dạy với mục tiêu tương ứng của nghiên cứu; và khối lượng công việc giảng dạy và học tập cũng như kỳ vọng của sinh viên và giảng viên. Một sự chú trọng rộng suốt trong hệ thống giáo dục trong việc học tập của sinh viên cùng với việc đánh giá liên tục, sẽ đem lại cho Việt nam một hệ thống giáo dục đại học xuất sắc được coi trọng trên thế giới và sẵn sàng đón nhận những thách thức của thế kỷ 21.

Continue reading →

CHUYỂN ĐỔI SANG HỆ THỐNG ĐÀO TẠO TÍN CHỈ TẠI VIỆT NAM: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

TS. NHUT HO – California State University, Northridge

TS. MICHELLE ZJHRA – Georgia Southern University

Tóm tắt

Giáo dục đại học Việt nam đang chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ, và trọng tâm của việc chuyển tiếp này là những thay đổi mang tính tổ chức và văn hóa cần phải được quản lý một cách đúng đắn để giúp các trường đại học trở thành những động cơ hữu hiệu cho việc sáng tạo và tăng trưởng kinh tế. Trong bài viết gồm hai phần này, chúng tôi trình bày những cơ hội và thách thức trong phạm trù tổ chức và văn hóa của sự chuyển tiếp: những cơ hội liên quan đến các vấn đề về việc giảng dạy và học tập, cải tiến chương trình đào tạo, đánh giá kỹ năng của sinh viên, đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo, nâng cao năng lực của giảng viên; và những thách thức về tổ chức và văn hóa như kế hoạch chiến lược vĩ mô, truyền thống, quan điểm của xã hội, và nguồn lực sẵn có. Phần một của bài viết tập trung vào việc quản lý tiến trình thay đổi dựa trên một phương thức phân tích theo hệ thống, nhấn mạnh việc đánh giá kết quả và sự cải tiến liên tục, và việc áp dụng những thực hành tốt nhất nhằm đưa đến những thay đổi vể mặt tổ chức. Phần hai của bài viết tập trung vào việc áp dụng và thực hiện những thực hành giáo dục tốt nhất gắn liền với mô hình chuyển tiếp sang hệ thống tín chỉ. Những thực hành tốt nhất bao gồm một hệ thống giáo dục tập trung vào việc học tập chú trọng vào khả năng giải quyết vấn đề, phương pháp học tập và giảng dạy chủ động, khả năng suy xét thấu đáo, và khả năng đưa các sáng tạo thành sản phẩm có giá trị. Đối với Việt nam, những kỹ năng này rất cần thiết trong việc hình thành những công dân tốt cũng như nguồn lao động có kỹ năng đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế của đất nước. Để đạt được những mục tiêu này đòi hỏi phải có sự thay đổi mang tính hệ thống ở nhiều mức độ và phạm vi: sự tham gia của học sinh, phương pháp giảng dạy với mục tiêu tương ứng của nghiên cứu; và khối lượng công việc giảng dạy và học tập cũng như kỳ vọng của sinh viên và giảng viên. Một sự chú trọng rộng suốt trong hệ thống giáo dục trong việc học tập của sinh viên cùng với việc đánh giá liên tục, sẽ đem lại cho Việt nam một hệ thống giáo dục đại học xuất sắc được coi trọng trên thế giới và sẵn sàng đón nhận những thách thức của thế kỷ 21.

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 52/2009/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 6 NĂM 2009 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VÀ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT QUẢN LÝ, SỬ DỤNG TÀI SẢN NHÀ NƯỚC

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý, sử dụng tài sản nhà nước được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008.

2. Việc quản lý, sử dụng tài sản nhà nước của cơ quan Việt Nam tại nước ngoài và quản lý, sử dụng tài sản nhà nước tại đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện theo quy định riêng của Chính phủ.

Continue reading →

HỌC THEO TÍN CHỈ DỄ VÀ KHÓ Ở ĐÂU?

PGS.TS. PHAN QUANG THẾ

Nếu như trong đào tạo theo Học phần – Niên chế, sinh viên phải học theo đúng kế hoạch học tập cả khóa, kế hoạch học tập từng học kỳ của Nhà trường thì trong đào tạo theo Hệ thống tín chỉ sinh viên hoàn toàn quyết định kế hoạch học tập cả khóa và từng học kỳ cho phù hợp với năng lực học tập và hoàn cảnh cụ thể của mình. Kế hoạch mà Nhà trường đưa ra trong thời khóa biểu của từng học kỳ là kế hoạch gợi ý tiêu chuẩn để sinh viên có thể tốt nghiệp trong thời gian 5 năm đối với các ngành kỹ thuật và 4 năm với các ngành kinh tế. Tuy nhiên, sinh viên có thể tự quyết định kế hoạch học tập để tốt nghiệp sớm hơn hoặc muộn hơn hoặc học lâu hơn để có bằng tốt nghiệp loại khá hoặc giỏi.

Những sinh viên học chăm luôn lo lắng bị cảnh cáo kết quả học tập dẫn tới bị buộc thôi học khi bị cảnh cáo kết quả học tập hai học kỳ liên tiếp. Vậy làm thế nào để tránh được điều này? Sau đây là một số gợi ý cho các em:

DỄ

1. Hiểu các tiêu chí đánh giá kết quả học tập

            Đào tạo theo Hệ thống tín chỉ yêu cầu sinh viên đạt được:

– Số tín chỉ tích lũy tối thiếu của chương trình (150 hoặc 180 đối với khối ngành Kỹ thuật);

Continue reading →

NGHỊ ĐỊNH SỐ 51/2009/NĐ-CP NGÀY 3 THÁNG 6 NĂM 2009 CỦA CHÍNH PHỦ HƯỚNG DẪN THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 19/2008/QH12 NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008 CỦA QUỐC HỘI VỀ VIỆC THÍ ĐIỂM CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Xây dựng,

NGHỊ ĐỊNH:

Chương 1.

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn về giấy tờ chứng minh đối tượng, điều kiện được mua, được thừa kế, được tặng cho và sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài; trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở cho tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; về xử lý vi phạm và trách nhiệm của các cơ quan có liên quan trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 19/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội về việc thí điểm cho tổ chức, cá nhân nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam (sau đây gọi chung là Nghị quyết số 19/2008/QH12).

Continue reading →

TÁC ĐỘNG KHÁCH QUAN CỦA TIÊU CHÍ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

PGS.TS. VĂN ĐỨC THANH – Phó Tổng Biên tập Tạp chí Giáo dục lý luận chính trị quân sự

Tác động của tiêu chí Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong đời sống xã hội nước ta được biểu hiện đa dạng trên rất nhiều nội dung và ở mọi phương diện, lĩnh vực xã hội. Trong đó, những nội dung quan trọng cần khẳng định trước hết chính là phương thức mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa giải quyết các mối liên hệ biện chứng giữa tập trung và dân chủ, giữa chính trị và nhân văn, giữa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa với vấn đề phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và phát huy đại đoàn kết dân tộc.

Tập trung và dân chủ có mối liên hệ biện chứng với việc tổ chức nhà nước và thực hiện các chức năng của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Tập trung biểu thị xu thế thống nhất mọi phương thức tổ chức và hoạt động của các định chế xã hội. Đặc biệt, với định chế xã hội – nhà nước, tập trung bao giờ cũng dẫn đến thống nhất quyền lực và là cơ sở cho quá trình thống nhất quyền lực, thường là theo hệ thống "dọc" mà cấp dưới phải phục tùng cấp trên, đồng thời cấp trên phải có trách nhiệm đầy đủ với cấp dưới. Dân chủ vừa biểu thị xu thế tạo lập và mở rộng cơ sở xã hội cho sự phân công lao động quyền lực, vừa là con đường tất yếu dẫn đến quá trình phân công quyền lực. Khác với sự phân cấp quản lý nhà nước, sự phân công quyền lực nhà nước bao giờ cũng theo hệ thống "ngang", trong đó các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp vừa có sự phân định rõ ràng, vừa có sự kết hợp biện chứng với nhau.

Continue reading →