CHƯA YÊN TÂM VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TBKTSG – Trong phần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội vào cuối tuần trước, các thành viên Chính phủ đã dành nhiều thời gian để làm rõ mục tiêu, phân tích tính hiệu quả của chương trình kích cầu và các giải pháp ngăn chặn nguy cơ tái lạm phát. Tuy nhiên, một số đại biểu chưa thể yên tâm khi các doanh nghiệp nhà nước, khu vực hiện đang nắm giữ phần lớn tài sản và đóng góp tới 40% GDP của quốc gia, vẫn chưa thực sự hoạt động có hiệu quả.

Gói kích cầu của Việt Nam có tổng giá trị 145.000 tỉ đồng, trong đó 17.000 tỉ dành hỗ trợ lãi suất tín dụng cho doanh nghiệp và phần để tăng đầu tư công chiếm 90.000 tỉ đồng. Chắc chắn, các doanh nghiệp nhà nước và công ty mà Nhà nước nắm cổ phần chi phối sẽ được trao vai trò quan trọng trong việc thực hiện chương trình đầu tư kích cầu của Chính phủ. Do vậy, kết quả kinh doanh của nhóm doanh nghiệp này sẽ có ảnh hưởng to lớn đến hiệu quả của chương trình cũng như khả năng phục hồi của nền kinh tế.

Theo bà Phạm Thị Loan, đại biểu Quốc hội thuộc đoàn Hà Nội, khối doanh nghiệp nhà nước nắm giữ trên 400.000 tỉ đồng vốn nhà nước nhưng năm 2008 chỉ nộp cho ngân sách 52.000 tỉ đồng, trong khi khu vực tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đóng góp tới 65.000 tỉ đồng.

Continue reading →

GIAO DỊCH BẢO ĐẢM: NHỮNG KẼ HỞ VÀ RỦI RO

TS. NGUYỄN QUỐC VINH – Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp

Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29-12-2006 hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự 2005 về các giao dịch bảo đảm (Nghị định 163) đã ban hành và có hiệu lực được hơn hai năm. Bài viết này phân tích một số quy định chưa hợp lý hoặc còn thiếu sót của Nghị định 163 nhìn từ góc độ vận dụng trên thực tiễn hoặc khi đối chiếu với các quy định của một số văn bản quy phạm pháp luật khác như Luật Nhà ở 2005. 

Về thỏa thuận thứ tự ưu tiên thanh toán

Khoản 2 điều 6 Nghị định 163 quy định rằng: “Các bên cùng nhận bảo đảm bằng một tài sản có quyền thỏa thuận về việc thay đổi thứ tự ưu tiên thanh toán cho nhau. Bên thế quyền ưu tiên thanh toán chỉ được ưu tiên thanh toán trong phạm vi bảo đảm của bên mà mình thế quyền”. Ở đây chúng ta có thể chia quy định này thành hai vế. Vế thứ nhất cho phép các bên liên quan thỏa thuận thay thế thứ tự ưu tiên khi tài sản bảo đảm được xử lý (mặc dù bên được thế quyền ưu tiên đăng ký giao dịch bảo đảm sau bên bị thế quyền). Vế thứ hai quy định rằng phạm vi được ưu tiên thanh toán chỉ “trong phạm vi bảo đảm” của bên bị thế quyền.

Theo vế thứ nhất, quy định này có nghĩa là nếu một tài sản được dùng bảo đảm cho hai hoặc nhiều nghĩa vụ(1) thì các bên được bảo đảm có quyền thỏa thuận về thứ tự được ưu tiên thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý. Trên thực tế, thỏa thuận về thứ tự thanh toán khi tài sản bảo đảm được xử lý là khá phổ biến, đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng.

Continue reading →

VIỆC ÁP DỤNG HỌC CHẾ TÍN CHỈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

GS. LÂM QUANG THIỆP – Đại học Quốc gia Hà Nội

1. Vài nét lịch sử về học chế tín chỉ

1.1. Thế giới

Xuất phát từ đòi hỏi quy trình đào tạo phải tổ chức sao cho mỗi sinh viên (SV) có thể tìm được cách học thích hợp nhất cho mình, đồng thời trường đại học phải nhanh chóng thích nghi và đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, vào năm 1872 Viện Đại học Harvard đã quyết định thay thế hệ thống chương trình đào tạo theo niên chế cứng nhắc bằng hệ thống chương trình mềm dẻo cấu thành bởi các môđun mà mỗi SV có thể lựa chọn một cách rộng rãi. Có thể xem sự kiện đó là điểm mốc khai sinh học chế tín chỉ.(1)(3)(4)

Đến đầu thế kỷ 20 hệ thống tín chỉ (TC) được áp dụng rộng rãi hầu như trong mọi trường đại học Hoa Kỳ. Tiếp sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng hệ thống TC trong toàn bộ hoặc một bộ phận của trường đại học của mình: các nước Bắc Mỹ, Nhật Bản, Philippin, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaisia, Indonesia, ấn Độ, Senegal, Mozambic, Nigeria, Uganda, Camơrun… Tại Trung Quốc từ cuối thập niên 80 đến nay hệ thống TC cũng lần lượt được áp dụng ở nhiều trường đại học (3). Vào năm 1999, 29 bộ trưởng đặc trách giáo dục đại học ở các nước trong Liên minh châu Âu đã ký Tuyên ngôn Boglona nhằm hình thành Không gian Giáo dục đại học Châu Âu (European Higher Education Area) thống nhất vào năm 2010, một trong các nội dung quan trọng của Tuyên ngôn đó là triển khai áp dụng học chế TC (European Credit Transfer System -ECTS) (5) trong toàn hệ thống GDĐH để tạo thuận lợi cho việc cơ động hóa, liên thông hoạt động học tập của SV trong khu vực châu Âu và trên thế giới.

Continue reading →

SẼ CÓ QUI ĐỊNH VỀ NĂM NHÓM ĐỐI TƯỢNG CÔNG CHỨC

TTXVN – Bộ Nội vụ vừa hoàn chỉnh Dự thảo Nghị định Quy định những người là công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập.

Theo Dự thảo Nghị định này, phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng là công chức trong cơ quan của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập).

Dự thảo Nghị định quy định 5 nhóm đối tượng công chức gồm:

Thứ nhất, công chức trong các cơ quan của Đảng làm việc trong các cơ quan, tổ chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cơ quan chuyên trách Đảng ủy cơ sở và cấp trên cơ sở trong các cơ quan, tổ chức từ cấp huyện trở lên.

Continue reading →

XU HƯỚNG TOÀN CẦU ĐẾN NĂM 2025 DƯỚI GÓC NHÌN CỦA CÁC NHÀ DỰ BÁO MỸ

NGUYỄN NHÂM – LÊ THÀNH

Dưới tiêu đề: “Xu hướng toàn cầu 2025: Một thế giới đã thay đổi” là bản báo cáo của Trung tâm nghiên cứu chiến lược trực thuộc Chính phủ Mỹ (NIC) ngày 21/11/2008, đệ trình lên Tổng thống và Giám đốc Tình báo Quốc gia, các cơ quan hoạch định chính sách vĩ mô của Mỹ. Đây được coi là “bảng chỉ dẫn” cho Chính quyền của Tổng thống Ba-rắc Ô-ba-ma. Báo cáo đã đưa ra những quan điểm về tương lai của thế giới đến năm 2025.

Thế giới đa cực hình thành, vai trò của Mỹ thuyên giảm

Báo cáo khẳng định, năm 2025, Mỹ vẫn sẽ là tác nhân đơn độc quan trọng nhất nhưng không còn giữ được vị trí thống trị thế giới như trước. Tuy Mỹ vẫn duy trì lợi thế quân sự đáng kể nhưng những bước tiến về khoa học và công nghệ, việc các nước khác sử dụng “chiến thuật chiến tranh phi truyền thống”, tình trạng phổ biến vũ khí chính xác tầm xa và ngày càng gia tăng các cuộc tiến công mạng “sẽ hạn chế đáng kể quyền tự do hành động của Mỹ”.

“Hệ thống đa cực toàn cầu” sẽ nổi lên, đặc biệt đánh dấu bằng sự trỗi dậy của các nước: Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc cùng một số nước khác (BRIC). Tuy nhiên, Trung Quốc và Ấn Độ dường như tập trung nhiều vào việc phát triển trong nước hơn là thay đổi hệ thống quốc tế. Báo cáo cho rằng, không một nước nào trong số các nước BRIC có thể thách thức được vị trí hiện nay của Mỹ như theo cách mà người Đức và Nhật đã làm trong thế kỷ XIX và XX. Vì vậy, hệ thống quốc tế được thiết lập sau Thế chiến thứ 2 sẽ “không thể hiện diện” vào năm 2025. Tuy nhiên, hệ thống đa cực đang nổi lên sẽ có xu hướng không ổn định do Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản tranh giành ảnh hưởng, thị trường và nguồn năng lượng. Điều này đồng nghĩa với việc vai trò hiện nay của Mỹ như một tác nhân cân bằng trong khu vực sẽ có tầm quan trọng lớn hơn hiện nay, kể cả khi sức mạnh của Mỹ bị giảm sút.

Continue reading →

HỆ THỐNG QUẢN LÝ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC VIỆT NAM

I. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1. Cán bộ, công chức:

       – Là công dân Việt Nam,

       – Trong biên chế,

      – Hưởng lương từ ngân sách nhà nước; ( Riêng cán bộ, công chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều 1 được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp theo quy định của pháp luật).

Có 8 nhóm cán bộ, công chức gồm:

          a) Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh); ở quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện);

          b) Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việctrong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;

Continue reading →

MẤY VẤN ĐỀ VỀ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

TS. PHẠM KHÔI NGUYÊN

Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, các chính sách thương mại, tài nguyên và môi trường có vai trò hỗ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực sự nó đang nỗ lực giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Do đó, một quốc gia để đạt được mục tiêu trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, bền vững cần khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên. Trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, các nước đang phát triển rất quan tâm tới việc chống lại và loại bỏ khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm nhập khẩu vào nước họ mà không tuân thủ các quy trình sản xuất, các sản phẩm không phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường.

Khu vực hoá, toàn cầu hoá kinh tế là xu thế khách quan, bao trùm hầu hết các lĩnh vực và lôi cuốn nhiều nước tham gia. Trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, có nhiều vấn đề phức tạp được đặt ra đối với lĩnh vực tài nguyên và môi trường.

1. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường của Việt Nam

Trong thời gian qua, hoạt động hợp tác về tài nguyên và môi trường cơ bản đã duy trì được quan hệ với các đối tác sẵn có, đẩy mạnh các hoạt động hợp tác quốc tế đa phương, song phương: tích cực tham gia các chương trình hợp tác, các công ước quốc tế liên quan đến các lĩnh vực địa chính, tài nguyên nước, khoáng sản, khí tượng – thuỷ văn, bảo vệ môi trường.

Continue reading →

MỆNH LỆNH HÀNH CHÍNH “CHỎI” QUAN HỆ DÂN SỰ

VŨ NGUYỄN

Trước thực trạng mua bán suất tái định cư (TĐC) tràn lan trên địa bàn thành phố trong thời gian qua, sở Xây dựng vừa trình UBND thành phố dự thảo về chấn chỉnh, xử lý việc này. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng, việc dùng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào quan hệ dân sự là trái với quy định.

Tinh thần chính của dự thảo là thành phố sẽ cấm mọi trường hợp mua bán, sang nhượng, mua bán suất TĐC, căn hộ, nền đất TĐC chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất.

70 – 80% hộ tái định cư bán suất…

Theo sở Xây dựng, tỷ lệ bán suất TĐC trên địa bàn thành phố có nơi lên đến 70 – 80%. Kiểm tra thực tế, nhiều nhà ở, nền đất TĐC cư chưa được cấp giấy chủ quyền vẫn được người dân chuyển nhượng với nhiều hình thức như uỷ quyền có công chứng để bên được uỷ quyền (thực chất là bên mua) đứng ra làm thủ tục mua nhà trả góp, đóng tiền, nhận nhà, đất… Có nhiều trường hợp hoặc mua bán suất TĐC bằng giấy tay. Điển hình, tại quận 2, lãnh đạo địa phương cho biết, rất nhiều người dân bị giải toả tại dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm đã bán lại suất TĐC, không chỉ gây khó khăn cho công tác giải toả đền bù, bố trí TĐC mà còn đẩy giá căn hộ TĐC lên rất cao.

Continue reading →

BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

PHẠM PHƯƠNG ĐÔNG

Trong hai mươi năm đổi mới, mở cửa, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, mức sống của người dân cải thiện rõ rệt, theo đó, việc đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng cũng được nâng lên một bước. Trong lĩnh vực này, Nhà nước ta đã có những điều chỉnh kịp thời trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm thiết lập các cơ chế giám sát xã hội khác nhau từ cấp trung ương xuống địa phương để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam.

1. Những thành tựu đạt được

– Bổ sung hoàn chỉnh luật pháp bảo vệ người tiêu dùng và quyền lợi người tiêu dùng

Cũng như nhiều nước trên thế giới, luật pháp Việt Nam là một trong những công cụ, phương tiện chủ yếu bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp quy liên quan đến việc bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” đã được ban hành (số 13/1999/PL-UBTVQH10, ngày 27-4-1999). Ngoài ra, liên quan đến chất lượng sản phẩm, Nhà nước quản lý bằng “Pháp lệnh chất lượng hàng hoá” (số 18/1999/PL-UBTVQH10). Các cơ quan quản lý nhà nước và bảo vệ pháp luật như Bộ Thương mại, Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài chính đã phối hợp ra Thông tư liên tịch số 10/2000/TTLT, ngày 27-04-2000 nhằm chống lại các hoạt động làm, buôn bán, vận chuyển, tiêu thụ hàng giả, góp phần quan trọng bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nước ta. Với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, môi trường cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trở nên bình đẳng hơn.

Continue reading →

HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ ĐỔI MỚI CƠ CHẾ THỰC THI, BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

LÊ XUÂN THẢO

Theo đánh giá của các đối tác kinh tế quan trọng, Việt Nam đã và đang có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng vấn đề thực thi đang cần một lộ trình và giải pháp phù hợp.

1- Sự cần thiết của việc bảo hộ quốc tế các quyền sở hữu trí tuệ trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế

Ngày 11-1-2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Điều này mở ra cơ hội to lớn trong việc phát triển kinh tế đất nước nhưng chúng ta phải đối mặt với nhiều thách thức đặc biệt là tuân thủ các cam kết quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Việc bảo hộ các quyền sở hữu trí tuệ trước hết là do nhu cầu của sự phát triển và giao lưu quốc tế, đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá về kinh tế, thương mại diễn ra ngày càng sôi động. Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu trí tuệ là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan, không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng: mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế và không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ. Điều này, ngày càng gắn chặt với quan hệ thương mại song phương, khu vực và toàn cầu. Việc gắn bảo hộ sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn về sở hữu trí tuệ, mặt khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoa học công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực hay toàn cầu phải thực thi các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ.

Continue reading →

MUỐN BỘ MÁY CHUYÊN NGHIỆP PHẢI CÓ CÔNG CHỨC CÓ TRÁCH NHIỆM

DIỆP VĂN SƠN

Nhân đọc bài “Cần một bộ máy nhà nước chuyên nghiệp” (TBKTSG ra ngày 4-6-2009) chúng tôi xin góp thêm một số ý kiến. Thiết nghĩ bộ máy nhà nước chuyên nghiệp ngoài việc thiết kế tổ chức hợp lý, khoa học, trong một khuôn khổ thể chế chặt chẽ, thông suốt… thì quan trọng nhất là phải có một đội ngũ công chức chuyên nghiệp, có trách nhiệm. Thế nhưng qua khảo sát từ thực trạng thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ công chức hiện nay, rất dễ nhận thấy đội ngũ còn nhiều bất cập, được biểu hiện trong các mặt sau:

Thứ nhất, thiếu kiến thức và hiểu biết về những vấn đề thuộc pháp luật. Do giai đoạn chuyển đổi lâu dài hướng tới một cơ chế mới, đất nước ta chưa xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và phù hợp. Các quan hệ xã hội được giải quyết trên cơ sở những quy tắc chính trị, đạo đức và các văn bản dưới luật đã dẫn tới những lỗ hổng về kiến thức và hiểu biết về những lĩnh vực đó của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhà nước. Điều đó đã gây ra không ít khó khăn đối với việc quản lý và kiểm soát các hoạt động kinh tế – xã hội một cách có hiệu lực và hiệu quả. Kết quả là sự thiếu hiểu biết về pháp luật, thiếu kỷ cương và nề nếp đã ảnh hưởng xấu tới quá trình phát triển.

Continue reading →

ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP THU HÚT QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRONG THỜI GIAN TỚI

KINH TẾ VÀ DỰ BÁO – Trước các khó khăn của tình hình suy thoái kinh tế thế giới hiện nay, nhiệm vụ giữ vững tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, đảm bảo cuộc sống của nhân dân được đặt ra hết sức nặng nề. Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cần thống nhất thực hiện linh hoạt, kịp thời và hiệu quả các giải pháp điều hành đã được Chính phủ thống nhất thông qua và ban hành. Huy động tối đa mọi nguồn lực của mọi thành phần kinh tế, trong đó có sự đóng góp quan trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN) vào đầu tư, kích cầu nền kinh tế, tạo thu nhập, việc làm cho người lao động, tăng thu cho ngân sách nhà nước. Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 07/4/09 về định hướng, giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới.

Định hướng, yêu cầu thu hút và quản lý ĐTNN

Nâng cao nhận thức đối với chủ trương tăng cường thu hút và quản lý vốn ĐTNN đã được khẳng định tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X là: “Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm (2006 – 2010). Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút ĐTNN, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài”.

Continue reading →

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG QUẢN LÝ ĐỘC QUYỀN: BẦU SỐ KIỆN CA SĨ

HỒNG TÚ

TAND quận 10 (TP.HCM) vừa thụ lý vụ Công ty cổ phần Thương mại-dịch vụ-văn hóa Thiên Thi (gọi tắt là Thiên Thi) khởi kiện ca sĩ Trần Nguyên Cát Vũ yêu cầu ca sĩ này tiếp tục thực hiện hợp đồng hai bên đã ký. Thiên Thi cũng yêu cầu Cát Vũ không được ký hợp đồng biểu diễn với các công ty khác và phải bồi thường cho Thiên Thi gần 40 triệu đồng vì đã vắng mặt không có lý do chính đáng trong một sô diễn trước đó.

Trống đánh xuôi, kèn thổi ngược

Năm 2006, Thiên Thi và Cát Vũ đã ký hai hợp đồng kinh tế với nội dung Thiên Thi là công ty quản lý độc quyền, có bổn phận đào tạo chuyên môn, chức danh, kỹ thuật biểu diễn cho Cát Vũ. Về kinh phí, Cát Vũ và Thiên Thi cùng đóng góp mỗi bên 50% chi phí hoạt động, đồng thời chia đôi tất cả lợi nhuận thu được. Ngoài ra, Thiên Thi sẽ đại diện cho Cát Vũ trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng.

Sau hơn hai năm hợp tác, đến lúc “cơm không lành, canh không ngọt”, cả Thiên Thi lẫn Cát Vũ đều đổ lỗi cho nhau đã vi phạm hợp đồng, gây nên tình trạng căng thẳng hiện nay.

Continue reading →

HỌC PHÍ

HUY ĐỨC

Quốc hội chưa quyết định, nhưng thảo luận trên hội trường cho thấy, có rất nhiều ý kiến không đồng tình với đề án học phí của bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân. Đại biểu Đặng Như Lợi (Cà Mau) phát hiện: “Đề án có tên là đổi mới cơ chế tài chính trong giáo dục nhưng nói một hồi rồi cũng chỉ để tăng học phí”.

Tuy “khung học phí 10 năm không thay đổi” (lý do để bộ đề nghị tăng) nhưng, ngân sách chi cho giáo dục năm 2008 đã tăng hơn 40 lần so với năm 1990. Theo tính toán của GS Nguyễn Xuân Hãn, với mức chi cho giáo dục lên tới 4,7 tỉ USD (năm 2008), lương trung bình của giáo viên phải là 3,6 triệu đồng/tháng; trong khi theo bộ thì mức lương trung bình của giáo viên hiện nay chỉ là 2,058 triệu đồng. Liệu có phải đã có một phần lớn từ khoản ngân sách này đã không được chi cho giáo dục.

Chưa có ai trả lời được câu hỏi nói trên của GS Nguyễn Xuân Hãn. Ngay cả “Ngành cũng không có điều kiện đánh giá hiệu quả chi của Nhà nước cho giáo dục”. Một chính sách mà không có đủ các dữ liệu để phân tích toàn cục, thì cho dù được Quốc hội thông qua cũng khó lòng thuyết phục phụ huynh và thuyết phục người dân đóng thuế.

Continue reading →

LÃI SUẤT CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CHỈ THUA . . . TÍN DỤNG ĐEN

TRẦN THANH

Dù Ngân hàng Nhà nước vẫn giữ nguyên mức lãi suất cơ bản đồng Việt Nam là 7%/năm nhưng hiện nay nhiều ngân hàng thương mại lại cho vay tiêu dùng cá nhân với lãi suất quá cao, có ngân hàng nâng lên 26% năm (bằng 371,4% so với lãi suất cơ bản); bên cạnh đó các điểm cầm đồ cũng nâng lãi suất cho vay lên 60% năm. Nhiều gia đình lâm vào cảnh khó khăn về mặt tài chính tạm thời buộc phải vay tiền ngân hàng với lãi suất “cắt cổ”, chỉ thua tín dụng đen, tiệm cầm đồ chút ít.

Lãi suất “cắt cổ!”

Tôi bước vào Ngân hàng HSBC tại góc đường Nguyễn Du – Đồng Khởi, quận 1, TPHCM. Dòng chữ khá ấn tượng “Ngân hàng toàn cầu am hiểu địa phương” và gam màu đỏ tươi từ bàn ghế cho đến đồng phục nhân viên làm cho khách đến cảm thấy thân thiện hẳn.

Tôi đang đứng lóng ngóng trước dãy người đang xếp hàng chờ giao dịch thì một cô nhân viên trẻ, đẹp tiến lại chào và hỏi tôi cần gì? Tôi bảo: “Cần vay tiền để tiêu dùng cá nhân”. Cô nhân viên bảo tôi lên tầng lầu có nhân viên tư vấn đang trực.

Cô nhân viên tư vấn cho biết, HSBC có thể cho vay gấp 10 lần mức lương tháng, nếu thu nhập 10 triệu đồng thì có thể vay đến 100 triệu đồng, thời hạn vay tối đa 36 tháng, lãi suất 24%/năm. Thấy tôi kêu lãi suất cao, cô ta liền nói: “Ngân hàng tính trên số dư nợ giảm dần nên anh thấy cao, còn tính theo số dư nợ ban đầu cũng tầm 14%/năm”.

Continue reading →

GIỮ VỮNG THƯƠNG HIỆU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG BỐI CẢNH SUY GIẢM KINH TẾ

PGS. TS. NGUYỄN ĐÌNH TỰ

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu từ năm 2008 bắt nguồn từ Mỹ, sau đó lan nhanh sang các nước Châu Âu, rồi đến Châu Á. Những nước có nền kinh tế phát triển nhất cũng đều bị ảnh hưởng nặng nề như Đức, Pháp, Anh, Ý rồi đến Nhật Bản, Trung Quốc. Những nước nhỏ và đang phát triển cũng bị ảnh hưởng dây chuyền do hệ lụy từ những nước lớn như Indonesia, Thái Lan, Việt Nam… Một đặc điểm nữa là khủng hoảng kinh tế lần này bắt nguồn tự sự đổ vỡ của ngân hàng và các định chế tài chính lan sang các lĩnh vực khác…

Những ngân hàng có thương hiệu nổi tiếng hàng trăm năm như Lehman Brothers – Ngân hàng đầu tư lớn thứ năm của Mỹ; các tập đoàn tài chính hàng đầu tại Wall Street như Morgan Stanley, Merrill Lynch, Goldman Sachs trước đó ít lâu còn hoạt động hăng hái nhất cũng bị tác động mạnh, thua lỗ lớn và Chính phủ phải can thiệp; CitiGroup là ngân hàng hàng đầu của Mỹ cũng gặp khó khăn, phải cắt giảm nhân viên; Tập đoàn tài chính – bảo hiểm hàng đầu của Mỹ như AIG cũng trong tình trạng tương tự, Chính phủ Mỹ phải hỗ trợ hàng trăm triệu USD. Một số ngân hàng ở Anh, Thụy Sỹ, Tây Ban Nha (UBS, Northern Rock, Credit Suisse) cũng chao đảo. Tương tự, những doanh nghiệp lớn cũng bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng có nguy cơ đổ vỡ, Chính phủ phải hỗ trợ như một số công ty ô- tô của Mỹ và Nhật.

Continue reading →

CƠ SỞ HƯỚNG TỚI XÂY DỰNG KHUNG PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM

NGUYỄN THỊ VY

Sự bùng nổ của công nghệ thông tin đặt ra những vận hội và thách thức mới, làm thay đổi sâu sắc toàn bộ đời sống kinh tế- xã hội của thế giới và nước ta. Những lợi thế không thể phủ nhận của thương mại điện tử đòi hỏi phải có sự thích ứng nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Tuy nhiên, những rủi ro có thể gặp phải trong quá trình giao lưu thương mại không chỉ được khắc phục bằng công nghệ, giải pháp kỹ thuật, mà đòi hỏi cần phải có một khung pháp lý đầy đủ. Kinh nghiệm cho thấy, để thúc đẩy thương mại điện tử, Nhà nước phải giữ vai trò tiên phong trên cả hai lĩnh vực: cung ứng dịch vụ điện tử và xây dựng hệ thống văn bản đầy đủ, thống nhất và cụ thể để điều chỉnh quan hệ thương mại điện tử. Nếu thiếu các quy phạm pháp luật, các doanh nghiệp, người tiêu dùng phải gánh chịu nhiều rủi ro và thiếu sự an toàn trong giao dịch, làm cho những ưu thế rõ nét về thời gian, chi phí của thương mại điện tử không được khẳng định.

Để xây dựng khung pháp luật thống nhất cho thương mại điện tử, chúng ta cần nghiên cứu và tìm ra các đặc trưng của thương mại điện tử. So với thương mại truyền thống, thương mại điện tử có một số điểm khác biệt cơ bản:

Continue reading →

SỞ HỮU TRÍ TUỆ: MỘT TÀI SẢN KINH DOANH QUÍ BÁU

JEANNE HOLDEN

Tài sản trí tuệ là tài sản quý của mỗi doanh nhân, bao gồm những sản phẩm trí tuệ có giá trị thương mại và được cấp quyền sở hữu hợp pháp của chủ doanh nghiệp và đội ngũ nhân viên. Ví dụ về sản phẩm trí tuệ bao gồm sản phẩm mới và tên sản phẩm, phương pháp sản xuất mới, quy trình sản xuất mới, chương trình khuyến mại mới, hoặc một kiểu dáng mới.

Hàng rào hay những chiếc khóa không thể bảo vệ được những tài sản vô hình. Do đó, bằng sáng chế, bản quyền và nhãn hiệu là công cụ để ngăn chặn các đối thủ cạnh tranh trục lợi từ những ý tưởng của cá nhân hoặc doanh nghiệp.

Bảo vệ tài sản trí tuệ là quyết định rất thực tế của doanh nghiệp. Thời gian và tiền bạc bỏ ra để đầu tư hoàn thiện một ý tưởng có thể sẽ bằng không nếu những đối tượng khác bắt chước. Đối thủ cạnh tranh có thể đặt mức giá thấp hơn vì họ không phải trả các chi phí đầu tư ban đầu. Mục đích của luật sở hữu trí tuệ là khuyến khích đổi mới sáng tạo bằng cách dành cho những người sáng chế khoảng thời gian nhất định để kiếm lời từ những ý tưởng mới của họ và hoàn vốn đầu tư phát triển.

Quyền sở hữu trí tuệ có thể được mua, bán, cấp phép hoặc cho biếu tự do. Một số doanh nghiệp có thể kiếm hàng triệu đô-la từ việc cấp phép hoặc bán các bằng sáng chế hoặc nhãn hiệu của họ.

Continue reading →

MẤY VẤN ĐỀ VỀ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH LAO ĐỘNG TRƯỚC XU THẾ TOÀN CẦU HÓA KINH TẾ

TS. LÊ VINH DANH -  Đại học bán công Tôn Đức Thắng, thành phố Hồ Chí Minh

Tiến trình toàn cầu hóa kinh tế đang là một xu thế tất yếu không thể đảo ngược. Bên cạnh những thời cơ mới do toàn cầu hóa kinh tế đem lại, đến nay vẫn còn quá nhiều lo lắng về các tác động tiêu cực của nó, nhất là trong phạm vi việc làm đối với người lao động và vấn đề điều chỉnh chính sách lao động hiện nay ở nước ta. Nhiều kết quả nghiên cứu đều cho rằng, dù mặt tích cực do quá trình toàn cầu hóa kinh tế đem lại là rất lớn, nhưng những mặt tiêu cực, thách thức cũng không nhỏ.

Vấn đề là ở chỗ, biết tận dụng tốt những thời cơ mới và hạn chế tối đa những thách thức thì sẽ đem lại nhiều thành công cả về phương diện vĩ mô nền kinh tế, cũng như vi mô và ngay cả đối với bản thân người lao động. Vậy, cần có những điều chỉnh gì cả về thái độ của người lao động và chính sách lao động của Nhà nước để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực.

1 – Những lo lắng về tác động tiêu cực của tiến trình toàn cầu hóa kinh tế

Khi xuất hiện lần đầu tiên năm 1962, thuật ngữ "toàn cầu hóa" mang nhiều ý nghĩa rộng hơn những nội hàm chỉ về kinh tế. Chính sự bùng nổ hàng loạt phát hiện trong khoa học và công nghệ là nguyên nhân thúc đẩy trái đất của chúng ta trở nên gần gũi, liên kết thành một khối hơn bao giờ hết so với trước đây. Nếu khoảng cách địa lý, không gian, thời gian từng củng cố tinh thần cục bộ, lãnh thổ và quốc gia, thì việc thu hẹp các khoảng cách nói trên là cơ sở để thế giới trở thành một chỉnh thể và khái niệm toàn cầu như một chỉnh thể trở nên có thể nhận thức được thuận lợi hơn bao giờ hết.

Continue reading →