Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
THS.LS. LÊ MINH HẢI – Trưởng VPLS Royal
Trong tố tụng dân sự, quyền tự định đoạt biểu hiện ở khả năng khi tham gia tố tụng, các đương sự tự do định đoạt các quyền, phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trước các xâm hại. Đó cũng là quan niệm chung nhất được pháp luật tố tụng dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới thừa nhận, áp dụng và trở thành một nguyên tắc tố tụng cơ bản. Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự đã khái quát:
Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó; Trong quá trình giải quyết vụ viêc dân sự, các dân sự có quyên chấm dứt, thay đổi yêu câu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Từ hành vi khởi kiện, quyền tự định đoạt của đương sự được thể hiện qua các nội dung như quyền khác như: quyền thay đổi, bổ sung hoặc rút các yêu cầu; quyền hoà giải, thương lượng; quyền đưa ra chứng cứ và chứng minh; quyền kháng cáo. Như vậy, trên phương diện pháp lý chung nhất, quyền tự định đoạt của đương sự bao hàm tất cả các nội dung quyền trên. Nhưng trên thực tế cho thấy, trong quá trình tố tụng, đặc biệt là thực tiễn hoạt động xét xử ở nước ta hiện nay, việc áp dụng pháp luật của toà án tại các địa phương ở các cấp khác nhau là chưa thống nhất, thậm chí là trái ngược nhau về quan điểm xét xử. Trong bài viết này, chúng tôi xin đưa ra một số quan điểm về những nội dung còn tồn tại như sau:
Continue reading →
Filed under: TTDS - Lý luận chung | Leave a comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
LÊ QUYẾT THẮNG – Trưởng ban Kiểm tra, BHXH Việt Nam
Luật BHXH được Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa khoá XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006 và có hiệu lực từ 01/01/2007. Theo quy định của Luật BHXH, các hành vi vi phạm trong thực hiện chính sách BHXH đă rõ ràng, cụ thể tại Điều 134, Điều 135 gồm các hành vi vi phạm pháp luật về đóng BHXH, các hành vi vi phạm về thủ tục thực hiện BHXH như: không đóng, đóng không đúng thời gian quy định, đóng không đúng mức quy định, đóng không đủ số người thuộc diện tham gia BHXH; cố tì́nh gây khó khăn hoặc cản trở việc hưởng các chế độ BHXH của người lao động …
Ngày 16/8/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 135/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH. Theo đó đă phân loại, quy định cụ thể mức phạt tiền tối đa đối với các hành vi trên là 20.000.000 đồng. Ngày 18/2/2008, Bộ Lao động-Thương binh và Xă hội, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đă có Thông tư liên tịch 03/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC-NHNN hướng dẫn thủ tục buộc trích tiền từ tài khoản tiền gửi của người sử dụng lao động để nộp tiền BHXH chưa đóng, chậm đóng và tiền lăi phát sinh.
Như vậy, chế tài xử lý vi phạm pháp luật BHXH nói chung và về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực BHXH bắt buộc nói riêng đă tương đối đầy đủ nhưng với những quy định như hiện nay cho thấy: mức xử phạt vi phạm hành chính còn thấp, chưa đủ sức răn đe, tính khả thi của biện pháp buộc trích tiền nộp chậm và tiền lăi phát sinh không cao. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn tránh và nợ đọng BHXH tại các doanh nghiệp không có dấu hiệu giảm.
Continue reading →
Filed under: PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH, TTDS - Các giai đoạn tố tụng | 2 Comments »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
BÙI NGUYỄN
1. Thấy gì từ thực tế?
Sau 5 năm thực hiện, cùng với sự khởi sắc trong hoạt động của Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật – Bộ Tư pháp, có thể nói Nghị định 135/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 về kiểm tra xử lý văn bản quy phạm pháp luật đã hoàn thành sứ mệnh của mình với nhiều “tiếng còi” chính xác điểm mặt, chỉ tên các VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật, gây thiệt hại cho đời sống, người dân. Tuy nhiên, cùng từ những hoạt động hiệu quả của Nghị định 135, có thể thấy còn khá nhiều vấn đề xuất phát từ thực tiễn của công tác kiểm tra văn bản.
Bạt ngàn “sản phẩm lỗi”
Theo thống kê của Bộ Tư pháp tại Hội nghị tổng kết công tác năm 2008, trong năm 2008 toàn ngành Tư pháp đã kiểm tra được 38.083 văn bản, trong đó phát hiện 8.752 văn bản có sai sót; đã kiến nghị xử lý 4.565 văn bản. Riêng Cục Kiểm tra văn bản QPPL – Bộ Tư pháp đã tiến hành kiểm tra 1.968 văn bản theo thẩm quyền (gồm 865 văn bản của cấp Bộ và 1.283 văn bản của địa phương), bước đầu phát hiện 490 văn bản có sai sót về nội dung và hình thức. Trở lại năm 2007, qua kiểm tra 1.506 văn bản pháp luật đã ban hành của cấp Bộ và địa phương trong năm này, đã phát hiện 320 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật. Như vậy, khoảng từ 20-25% số văn bản được kiểm tra có dấu hiệu vi phạm. Các văn bản chủ yếu sai về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày, một số văn bản có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung hoặc thẩm quyền…
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
LÊ TRỌNG NGHĨA
Báo Người Đại biểu nhân dân số ra ngày 9.5.2009 có bài: “Hà Nội: Thu hồi đất của một hộ để bán cho hộ khác” phản ánh về vụ gia đình ông Lê Phúc Thủy ở 123 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên, Hà Nội bị đe dọa cưỡng chế bàn giao mặt bằng mảnh đất đang sinh sống hợp pháp để quận bán đấu giá cho hộ khác làm nhà ở. Chuyện tưởng như bịa này lại là sự thật đã diễn ra nhưng sai phạm vẫn được bảo lưu.
Trên một bảo đằng, dưới làm một nẻo
Như chúng tôi đã phản ánh, gia đình ông Thủy ở trên đất 123 Nguyễn Văn Cừ từ trước ngày 15.10.1993, có hộ khẩu thường trú, có tên trong sổ địa chính, đóng thuế đất liên tục từ 1992 đến nay… nên theo Điều 50 Luật Đất đai 2003, đây là sử dụng đất hợp pháp. UBND quận Long Biên ra quyết định cưỡng chế bàn giao mặt bằng cho người khác là không đúng pháp luật.
Sau khi gia đình ông Lê Phúc Thủy khiếu nại quyết liệt đến các cấp lãnh đạo và các cơ quan báo chí, UBND quận Long Biên đã mời đương sự đến để trao đổi trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại. Ngày 3.6 vừa qua, UBND TP Hà Nội cũng đã ra Văn bản số 5008/ UBND-TNMT giao Thanh tra TP Hà Nội xem xét để từ đó tổng hợp, đề xuất báo cáo UBND thành phố.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Tình huống thực tiễn | 1 Comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
PHONG ĐIỀN
Lúc mua bảo hiểm ai cũng tưởng sẽ dễ dàng được bồi thường nếu xảy ra tai nạn nhưng khi đi đòi tiền bảo hiểm mới thấy… oải!
Quanh chuyện yêu cầu các đơn vị bảo hiểm bồi thường trong các vụ tai nạn giao thông lâu nay có không ít phiền toái. Hành trình đòi chi trả bảo hiểm xe máy của chị Nguyễn Thị Nương (xã Biển Bạch Đông, huyện Thới Bình, Cà Mau) là một câu chuyện dài đầy mệt mỏi mà phóng viên Pháp Luật TP.HCM vô tình ghi nhận được.
Mua bảo hiểm nơi này, chi trả nơi khác
Tháng 1-2009, chị Nương và chị ruột là Nguyễn Lệ Hoa đi xe máy đến địa phận xã Ninh Gia (huyện Đức Trọng, Lâm Đồng) thì bất ngờ bị hai chiếc xe tải lấn đường khiến chị Nương lạc tay lái ngã xuống đường. Khi tỉnh dậy, thấy chị Hoa nằm bất động bên cạnh, chị Nương gắng gượng gọi người dân đưa đi cấp cứu ở Trung tâm Y tế huyện Đức Trọng. Hai ngày sau, chị Hoa được chuyển lên Bệnh viện đa khoa Đà Lạt cấp cứu thì tử vong do chấn thương quá nặng. Chị Nương đành mang thi hài chị Hoa về quê ở Cà Mau lo ma chay, chôn cất.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, LDS - Hợp đồng | Leave a comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
LS. PHAN TRUNG HOÀI
Trong phiên toà do Toà án nhân dân TPHCM đang xét xử vụ án điện kế điện tử, đã bất ngờ phát hiện bản kết luận giám định của Hội đồng Giám định tư pháp đã được đóng dấu "mật"!
Theo quy định của pháp luật, mỗi ngành, mỗi lĩnh vực trong quản lý nhà nước đều có chế độ quản lý tài liệu, thông tin làm sao đảm bảo hiệu quả trong quản lý nhưng không xâm hại đến quyền tiếp cận thông tin một cách công khai, minh bạch của các đối tượng quản lý.
Vì thế mới sinh ra việc chế định danh mục các tài liệu có độ "mật", "tối mật", "tuyệt mật" do Thủ tướng Chính phủ, thủ trưởng bộ, ngành và Bộ trưởng Bộ Công an ban hành, mà nếu ai vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật.
Không chỉ ở nhiều nước có trình độ phát triển cao, chính quyền quy định cả thời hạn và cơ chế "giải mật", cho phép công bố cả những điều tuyệt mật, mang tính nhạy cảm để bàn dân thiên hạ biết, mà ngay ở nước ta, vừa rồi Cục Lưu trữ Quốc gia thuộc Bộ Nội vụ cũng đã tổ chức công bố một số thông tin, tư liệu để người dân hiểu rõ thêm về một sự kiện của một giai đoạn lịch sử…
Vậy mà trong phiên toà do Toà án nhân dân TPHCM đang xét xử vụ án điện kế điện tử, trong phần thẩm vấn của luật sư, đã bất ngờ phát hiện bản kết luận giám định của Hội đồng Giám định tư pháp theo vụ việc do Bộ Công thương thành lập, đã được đóng dấu "mật"!
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
GS. NGUYỄN XUÂN THU (Australia)
Ước mong của người viết là nhắn gửi một thông điệp đến các nhà lãnh đạo và quản lý giáo dục Việt Nam kể cả những ai quan tâm đến tiền đồ giáo dục của đất nước rằng, muốn đạt được mục tiêu cao nhất trong giáo dục đào tạo, chúng ta phải đào tạo cho được các thế hệ người lao động có ba yếu tố.
Đó là kỹ năng tri thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp và kỹ năng văn hoá doanh nghiệp nhào quyện trong người đi học phải được đào tạo trước khi họ rời khỏi ghế nhà trường.
Trước hết, bất cứ người lao động ở nước nào cũng có những điểm mạnh và điểm yếu. Thế mạnh của lao động người Việt ở nước ngoài được thừa nhận là thân thiện, nhanh nhẹn, chịu khó, cần cù, ít tranh cãi với chủ lao động, có khuynh hướng không muốn thay đổi chỗ làm thường xuyên.
So với người lao động đến từ các nước khác, người lao động Việt Nam thường bộc lộ những yếu kém như thiếu kỷ luật trong lao động, thiếu tự giác, ít sáng kiến, ít nghĩ đến lợi ích chung của cơ quan, ít trật tự ngăn nắp trên công trường, ít để ý đến các bản hướng dẫn kỹ thuật mang tính nguyên tắc, chưa quan tâm đúng mức đối với an toàn lao động, chưa quen với tác phong công nghiệp, ít thích hội nhập với các cộng đồng chung quanh và người bản xứ. Nói chung, người Việt đi lao động ở nước ngoài chưa xây dựng được một thương hiệu lao động nổi bật đáng được giới sử dụng lao động quý trọng.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm đào tạo | Leave a comment »
Posted on 15/06/2009 by Civillawinfor
DOÃN ĐÌNH HUỀ
I- Thực trạng về mối quan hệ Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội.
Lâu nay, ở nước ta Đảng giữ vai trò lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước nhân dân về vận mệnh đất nước. Đảng đã lãnh đạo bằng cơ chế: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Cơ chế này đã tạo niềm tin trong nhân dân và sự nghiệp cách mạng của Đảng đã được thăng hoa và bền vững. Sở dĩ có cơ chế này là do Đảng ta đã vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác – Lê-nin một cách sáng tạo vào thực tiễn ở Việt Nam. Nhận thức được vai trò tích cực của chính trị, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tổ chức chính tri – xã hội trong việc giành, giữ và sử dụng chính quyền nhà nước. Do vậy, nói đến chính trị là nói đến chính quyền Nhà nước, đến chế độ xã hội, đến sự sống còn của chế độ xã hội đó. V.I. Lê-nin chỉ rõ: Nếu không có một chính đảng, thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ nền thống trị của mình và do đó không thể hoàn thành nhiệm vụ kinh tế của mình. Thực tế cho thấy nếu một đảng cầm quyền không biết sử dụng hệ thống chính trị thì chỉ có thất bại trên đấu trường chính trị. Bởi vì, chính trị là tham gia Nhà nước, là chỉ đạo Nhà nước, là xác định những hình thức, những nhiệm vụ và nội dung hoạt động của Nhà nước. Tất cả các vấn đề cơ cấu của Nhà nước, quản lý đất nước, lãnh đạo giai cấp, … đều thuộc phạm vi chính trị. Điều cần lưu ý là chính trị là biểu hiện lợi ích căn bản của các giai cấp và quan hệ lẫn nhau giữa các giai cấp đó. Nó cũng biểu hiện lợi ích giữa các dân tộc và giữa các nước, quan hệ giữa các giai cấp và do đó chính trị của giai cấp ấy sinh ra từ địa vị kinh tế của họ. Vì vậy, Lê-nin đã khẳng định bằng luận điểm nổi tiếng là: “Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế”(1). Tất cả các tổ chức chính trị, các hình thức Nhà nước thay đổi và phát triển trên cơ sở sự thay đổi và phát triển nền kinh tế – xã hội. Điều cần lưu ý là những tư tưởng lý luận xã hội, những tổ chức chính trị sinh ra trên cơ sở phát triển kinh tế. Nếu những tư tưởng, lý luận của tổ chức đó tiến bộ thì nó tạo điều kiện cần thiết cho việc phát triển xã hội đi lên, còn nếu không sẽ ngược lại làm kìm hãm sự phát triển xã hội, dẫn đến suy vong. Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
NGUYỄN QUANG THÂN
Có những chuyện xẩy ra, có vẻ như là chuyện nhỏ, dễ dàng bỏ qua. Nhưng thực ra thì những chuyện đó chẳng nhỏ chút nào. Chuyện của năm cũ nhưng xem ra còn mới trong năm mới, vì nó báo hiệu sự lên ngôi để tác oai tác phách của đồng tiền.
Những ai có lương tri đều thấy nhức nhối khi nghe tin Cty Thuận Thảo ở Tuy Hoà, một Cty TNHH làm du lịch đang đêm ngang nhiên cho 50 công nhân và xe tải đào bứng và vận chuyển nhiều cây bàng biển lâu năm dọc đường Trần Phú về khu resort cao cấp “của nhà mình” nằm gần đó. Một vụ ăn cướp trắng trợn ngang nhiên lấy của công làm của tư. Chuyện tưởng như đùa, không ai nghĩ lại có thể xảy ra trong một xã hội có chính quyền, có luật pháp. Lý do mà bà giám đốc Thuận Thảo nêu ra cũng rất hồn nhiên: Cty Thuận Thảo cần có cây xanh lâu năm mang về khu rờ-xọt để “phục vụ nhân dân” dịp Tết!
Chính xác hơn, Thuận Thảo cần cây xanh để thu hút khách hàng, làm ra lợi nhuận. Cần thì bứng chứ sao! Cái lý do “phục vụ nhân dân” nghe cũng giả dối làm sao! Giả dối vì, nhân dân Tuy Hoà bao năm nay được đi dưới bóng dâm của những cây bàng biển, từ nay phải trả tiền mới được Thuận Thảo “phục vụ”, không phải thênh thang trên đường mang tên Trần Phú mà trong khu nghỉ ngơi của Cty Thuận Thảo. Mọi người đều biết rằng, cái giá để được vào khu rờ-xọt thường không rẻ chút nào, chắc dân nghèo không mấy người tới được!
Continue reading →
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
M. SCOTT PECK
Bây giờ thì chúng ta đã tới được điểm chúng ta có thể hiểu bản chất của quyền lực. Đây là một vấn đề bị hiểu sai rất nhiều. Một lý do của sự hiểu sai này là có hai loại quyền lực – chính trị và tinh thần. Huyền thoại tôn giáo đã khổ sở vạch ra sự khác biệt giữa hai loại này. Chẳng hạn, trước khi Đức Phật sinh ra, các thầy bói đã cho thân phụ ngài biết rằng Đức Phật lớn lên hoặc sẽ trở thành vị vua quyền lực nhất thế gian hoặc sẽ là một người nghèo nhưng cũng là người lãnh đạo tinh thần vĩ đại nhất mà thế gian chưa từng biết đến. Một trong hai nhưng không phải cả hai. Còn Đức Kitô thì được Satan cho “tất cả các vương quốc trần gian và vinh quang của chúng”. Nhưng Người đã từ chối sự chọn lựa này để chết, một cái chết xem chừng bất lực, trên cây thập giá.
Quyền lực chính trị là cái khả năng ép buộc người khác, công khai hoặc kín đáo, để thực hiện ý muốn của mình. Cái khả năng này cư ngụ ở một chức vị, như ở ngôi vua hay chức tổng thống, hoặc ở nơi tiền bạc. Nó không nằm trong con người chiếm giữ chức vị đó hoặc sở hữu số tiền bạc đó. Vì vậy quyền lực chính trị không có liên hệ gì với sự thiệt hoặc sự khôn ngoan. Có những kẻ rất ngu đần và rất xấu xa đã từng làm vua trên cõi đời này. Nhưng quyền lực tinh thần thì nằm hoàn toàn trong cá nhân con người và không liên hệ gì đến khả năng ép buộc người khác. Người có quyền lực tinh thần to lớn có thể giàu có và đôi khi còn nắm giữ những địa vị chính trị của giới lãnh đạo. Nhưng họ cũng có thể là nghèo khó và không có một quyền thế chính trị nào. Vậy thì khả năng của quyền lực tinh thần là gì nếu không phải là khả năng ép buộc? Đó là khả năng đưa ra những quyết định với nhận thức tối đa. Đó là ý thức.
Continue reading →
Filed under: Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
QUỲNH ĐAN (Theo Forbes)
Bảy nguyên tắc cơ bản không thể bỏ qua nếu muốn thành công khi nói trước công chúng. Nhìn thấy người này diễn thuyết một cách tự tin, người kia trả lời câu hỏi của các nhà báo một cách lưu loát trên truyền hình, chắc hẳn có lúc bạn đã tự hỏi họ có năng khiếu bẩm sinh hay phải luyện tập để làm được như vậy?
Câu trả lời của Richard Zeoli, một chuyên gia trong lĩnh vực này, là: “Năng khiếu, nếu có chỉ là một phần, tất cả đều do khổ luyện mà thành!”.
Trong một bài viết mới đây đăng trên trang web của Forbes, Richard Zeoli đã chỉ ra bảy nguyên tắc cơ bản cần phải tuân thủ nếu muốn thành công khi nói trước công chúng.
Nguyên tắc thứ nhất: Đừng cố gắng trở thành nhà diễn thuyết đại tài
Trong giao tiếp hàng ngày bạn thường nói năng thoải mái, nhẹ nhàng, nhưng khi nói trước đám đông, hình như mọi chuyện trở thành ngược lại. Quá chú ý đến công chúng sẽ làm hại đến khả năng diễn thuyết. Để trở thành một diễn giả thu hút thì hãy chú ý đến những điều bạn nói. Dù cử tọa của bạn là vài ba người hay cả ngàn người, dù bạn đang nói về công việc của mình hay về một bước đột phá trong y khoa thì hãy luôn là chính mình, và thiết lập sự kết nối với cử tọa. Hãy nhớ cử tọa chỉ muốn nghe người nào nói chuyện nhẹ nhàng, cuốn hút. Thế thôi.
Continue reading →
Filed under: Kinh nghiệm học tập | 1 Comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
TS. NGUYỄN VĂN TẠO – Trường BDCB Tài chính – Bộ Tài chính
I. Đánh giá tác động của khủng hoảng tài chính tòan cầu đến Việt Nam
1. Đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế
Tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước ta chậm lại. Kế hoạch đầu năm 2008, tăng trưởng GDP dự kiến từ 8,5 – 9%. Tháng 5 năm 2008 Quốc hội đã điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng GDP xuống 7%, nhưng đến tháng 10 năm 2008 tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tế là 6,52%, dự kiến năm 2008 tốc độ tăng trưởng kinh tế sẽ từ 6,5 đến 6,7%.
2. Đối với hệ thống tài chính – ngân hàng
Mặc dù hiện tại hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam chưa chịu tác động mạnh từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ vì hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu của hội nhập; nhưng trước mắt sẽ có những hạn chế trên một số lĩnh vực như:
– Mức độ liên thông giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam với thị trường tài chính bên ngoài và với ngân hàng Mỹ sẽ gặp khó khăn;
Continue reading →
Filed under: 1. Lý luận chung | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
PGS.TS. VŨ VĂN VIÊN – Phó viện trưởng Viện Triết học
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch sử. Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời nó cũng tác động trở lại đến mọi quá trình kinh tế – xã hội. Cũng chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn là mối quan tâm của các nhà triết học, chính trị, hoạt động xã hội và việc giải quyết vấn đề này như thế nào luôn là một tiêu chí phân biệt giữa các quan điểm khác nhau và có ảnh hưởng quan trọng đến cách giải quyết nhiều vấn đề khác trong việc xác định đường lối chính trị, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội.
Trong thời kỳ trước đổi mới, ở nước ta cũng như các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, chế độ sở hữu dường như đã được giải quyết. Đó là chúng ta đã xây dựng xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Cùng với chế độ công hữu, mô hình kế hoạch hóa tập trung ra đời và thống trị trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở công hữu, lúc đầu đã phát huy tương đối tốt trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, chế độ công hữu với mô hình cũ đã tỏ ra không còn phù hợp, gây nên sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, nên chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới.
Continue reading →
Filed under: Cổ phần hóa, Quyền sở hữu | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
PGS.TS. VŨ VĂN VIÊN – Phó viện trưởng Viện Triết học
Sở hữu luôn là một trong những vấn đề trọng tâm của mọi thời kỳ lịch sử. Nó vừa là kết quả của sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời nó cũng tác động trở lại đến mọi quá trình kinh tế – xã hội. Cũng chính vì vậy, vấn đề sở hữu luôn là mối quan tâm của các nhà triết học, chính trị, hoạt động xã hội và việc giải quyết vấn đề này như thế nào luôn là một tiêu chí phân biệt giữa các quan điểm khác nhau và có ảnh hưởng quan trọng đến cách giải quyết nhiều vấn đề khác trong việc xác định đường lối chính trị, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội.
Trong thời kỳ trước đổi mới, ở nước ta cũng như các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây, chế độ sở hữu dường như đã được giải quyết. Đó là chúng ta đã xây dựng xã hội chủ nghĩa với hai hình thức sở hữu toàn dân và tập thể. Cùng với chế độ công hữu, mô hình kế hoạch hóa tập trung ra đời và thống trị trong suốt quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở công hữu, lúc đầu đã phát huy tương đối tốt trong việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống nhân dân, góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền đất nước. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của tình hình thế giới và trong nước, chế độ công hữu với mô hình cũ đã tỏ ra không còn phù hợp, gây nên sự khủng hoảng kinh tế – xã hội, nên chúng ta tiến hành công cuộc đổi mới.
Continue reading →
Filed under: Cổ phần hóa, Quyền sở hữu | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
DUY CƯỜNG
Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, Peregrine Systems…, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.
Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.
Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.
Dài 66 trang, đạo được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.
Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.
Continue reading →
Filed under: LTM - Đầu tư, Thị trường chứng khoán, Xã hội, nhà nước và pháp luật nước ngoài | Leave a comment »
Posted on 14/06/2009 by Civillawinfor
THÀNH LƯU
Công ty đơn phương đuổi việc bà bầu đang dưỡng thai mà không thông báo trước nên bị tòa bắt bồi thường. TAND quận Thủ Đức (TP.HCM) vừa xử sơ thẩm, tuyên buộc Công ty TNHH K. (Khu chế xuất Linh Trung 1) phải trả cho chị Võ Thị Hải gần 18 triệu đồng trợ cấp thôi việc.
Nghỉ phép dưỡng thai, bị đuổi việc
Theo đơn khởi kiện, chị Hải vào làm công nhân ở Công ty K. từ tháng 3-2004, có ký hợp đồng ngắn hạn một năm. Tháng 8-2006, chị được công ty ký hợp đồng không thời hạn với mức lương gần 1,2 triệu đồng/tháng (không có phụ cấp).
Đến tháng 4-2008, lấy lý do chị Hải tự ý bỏ việc, Công ty K. đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với chị. Tuy nhiên, theo chị Hải, vào thời điểm đó chị đang mang bầu gần bốn tháng, do thai yếu nên có chỉ định của bác sĩ cho phép nghỉ dưỡng thai. Công ty K. đã nại lý do sai sự thật để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái phái luật, không báo trước cho chị biết. Sau khi bị cho thôi việc, chị Hải đã gửi đơn nhờ công đoàn giải quyết nhưng không hề nhận được câu trả lời nào.
Bất bình, chị Hải đã khởi kiện, yêu cầu Công ty K. bồi thường 11,5 tháng lương (tính từ lúc bị chấm dứt hợp đồng lao động đến ngày xét xử sơ thẩm). Ngoài ra, chị còn yêu cầu công ty bồi thường sáu tháng tiền nghỉ thai sản và hỗ trợ giấy tờ để làm thủ tục hưởng chế độ thai sản theo quy định về bảo hiểm xã hội.
Continue reading →
Filed under: CÂU CHUYỆN PHÁP LUẬT, PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH | Leave a comment »
Posted on 13/06/2009 by Civillawinfor
NGUYỄN QUANG THÂN
Đồng thuận của xã hội về một vấn đề quan trọng nào đó không đòi hỏi sự nhất trí 100 phần trăm của mọi thành viên, mọi tầng lớp. Nhưng đồng thuận nào cũng phải quanh hạt nhân CHÂN LÝ – SỰ THẬT. Nếu chân lý được nhận nhầm, xã hội phải gánh chịu hậu quả và phải sửa sai. Đồng thuận trên cơ sở chân lý là điều kiện không thể thiếu để một quốc gia, một dân tộc phát triển bền vững.
Lịch sử dân tộc đã hơn một lần cho ta kinh nghiệm hào hùng về sự đồng thuận. Hội nghị Diên Hồng đời Trần là biểu hiện đồng thuận của toàn dân, nhờ vậy mà chúng ta đã ba lần đánh đuổi được đội quân xâm lược hùng hậu nhất thế giới thời đó. Cách mạng tháng Tám là sự đồng thuận không tỳ vết khi “toàn dân đứng đều lên một ngày” giành nền độc lập sau tám mươi năm nô lệ. Trong ký ức không thể tàn phai của rất nhiều người đang sống hôm nay, cuộc cách mạng đẹp đẽ đó đã kết dân tộc thành một khối nam châm với sức quyến rũ thần kỳ. Thời đó, từ anh phu xe đến ông vua đều chào đón độc lập tự do với niềm vui như nhau là rủ bỏ được cuộc đời nô lệ, làm công dân một nước độc lập.
Continue reading →
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam | Leave a comment »
Posted on 13/06/2009 by Civillawinfor
HUỲNH BỬU SƠN
Các nhà ngân hàng Việt Nam phải nghiêm khắc nhìn lại, giảm bớt tham vọng- và cả những ảo vọng- cá nhân, để có một cái nhìn nghiêm túc hơn. Thực tại sẽ rất khắc nghiệt nếu chúng ta quên đi những bài học căn bản trong điều hành ngân hàng. Không nên lấy ngắn nuôi dài, không nên lấy tiền thực để nuôi các tài sản ảo, không nên cho vay dựa trên các quan hệ thân hữu, không nên mù quáng theo đuổi lợi nhuận…
Những ngân hàng còn sống sót sau thời kỳ khó khăn của những năm 1997 – 2000 bước vào một giai đoạn tăng trưởng chưa từng có trong lịch sử, bắt đầu từ năm 2003, khi hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997 của châu Á đã qua đi và nền kinh tế Việt Nam vượt qua giai đoạn đình trệ của những năm đầu thiên niên kỷ mới, đang thực hiện những bước tăng trưởng ngoạn mục với tốc độ tăng GDP hàng năm xấp xỉ 8%.
Các thành thị phát triển, mức sống người dân tăng lên, thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm đều tăng. Thị trường mới nổi của Việt Nam thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và cả thế giới ngạc nhiên trước sự phát triển nhanh chóng của ngành ngoại thương Việt Nam, mà nổi bật là sự tăng tốc của xuất khẩu. Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới.
Continue reading →
Filed under: LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG | Leave a comment »
Posted on 13/06/2009 by Civillawinfor
KTĐT – Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 quy định xử phạt vi phạm hành chính (VPHC) về bình đẳng giới.
Theo đó, tổ chức, cá nhân vi phạm phải chịu 1 trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền theo các mức từ 200.000 đến 40 triệu đồng.
Nghị định quy định cụ thể các hành vi VPHC về bình đẳng giới và mức phạt tương ứng trong từng lĩnh vực: Chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục và đào tạo; khoa học, công nghệ; văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế và gia đình.
Trong lĩnh vực chính trị, hành vi không cho nam hoặc nữ tự ứng cử, được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND; không thực hiện việc bổ nhiệm nam hoặc nữ vào cương vị quản lý, lãnh đạo hoặc các chức danh chuyên môn vì định kiến giới… sẽ bị phạt tiền từ 3 – 5 triệu đồng.
Trong lĩnh vực lao động, hành vi áp dụng các điều kiện khác nhau trong tuyển dụng lao động nam và nữ đối với cùng công việc mà nam, nữ đều có trình độ và khả năng thực hiện như nhau (trừ trường hợp áp dụng biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới hoặc đối với các nghề nghiệp đặc thù); hành vi sa thải hoặc cho thôi việc người lao động vì lý do giới tính hoặc do việc mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ sẽ bị phạt tiền từ 5 – 10 triệu đồng.
Continue reading →
Filed under: VBPL về Giới và Phát triển | Leave a comment »