TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ Y TẾ: NHẬP VIỆN VÌ GÃY ĐINH VÍT, BỆNH NHÂN BẮT ĐỀN BỆNH VIỆN

KIÊN TRUNG

Phản ánh của bệnh nhân Hoàng Mạnh Hùng (thị xã Hưng Yên), hai đinh vít dùng trong ca phẫu thuật gãy xương đùi trái của bệnh nhân bị gãy trong thời gian hậu phẫu. Bệnh viện Việt Đức nhất định không chịu bồi thường vì tin rằng đinh vít chất lượng.

Chất lượng đinh vít có vấn đề?

Ngày 22/8/2008, bệnh nhân Hoàng Mạnh Hùng (43 tuổi, ở thị xã Hưng Yên) vào cấp cứu đợt một tại Khoa Điều trị tự nguyện (Bệnh viện Việt Đức). Kết quả khám, xét nghiệm, chẩn đoán cho thấy: bệnh nhân Hùng bị gãy hở độ I 1/3 dưới xương đùi trái, được thông qua mổ toàn viện.

Ngày 25/8/2008, bệnh nhân được Thạc sỹ Nguyễn Tiến Sơn mổ kết hợp xương nẹp vít. Trước khi tiến hành phẫu thuật, chị Lưu Thị Hoa (vợ bệnh nhân) đã ký giấy cam đoan mổ và điều trị, sau khi được nghe bác sỹ giải thích về tình trạng bệnh và các nguy cơ rủi ro có thể xảy ra đối với bệnh nhân.

Người được uỷ quyền của bệnh nhân Hoàng Mạnh Hùng, ông Hoàng Xuân Hoà cho rằng, những giấy tờ mà Bệnh viện Việt Đức cung cấp để chứng minh về chất lượng của sản phẩm không liên quan gì đến sự cố của bệnh nhân Hùng.

Continue reading →

TRANH CHẤP BẢN QUYỀN: ỨNG XỬ TÁC QUYỀN THEO KIỂU . . . ĐỔ THỪA

LAM ĐIỀN

Sau khi Tổ chức Dale Carnegie toàn cầu xác định quyển sách Cuộc sống tươi đẹp do Công ty Huy Hoàng liên kết xuất bản là mạo danh (Tuổi Trẻ ngày 8-6 – 2009), giám đốc Công ty Huy Hoàng gửi thư cho Dale Carnegie trình bày: Huy Hoàng đã chuyển ngữ quyển sách này thông qua bản dịch bằng tiếng Trung.

Công ty Trí Việt mua tác quyền từ quyển The five love languages (Năm ngôn ngữ tình yêu,tác giả là Gary Chapman) của NXB Moody – Hoa Kỳ. Thương vụ mua tác quyền quyển sách này được ký kết giữa Trí Việt – First News và NXB Moody từ tháng 8-2008. Ðến quý 2-2009, Trí Việt xuất bản quyển Năm ngôn ngữ tình yêu thì bất ngờ phát hiện trên thị trường cũng vừa xuất hiện quyển sách Năm ngôn ngữ của tình yêu,cũng đề tên tác giả là Gary Chapman, do NXB Thanh Niên cấp phép, Công ty Kim An Ðông liên kết xuất bản.

"Cứu tinh" từ bên thứ ba

"Thoạt đầu, khi Trí Việt gửi công văn thông báo về việc vi phạm bản quyền, đại diện Công ty Kim An Ðông đến xin lỗi và nhận mình vi phạm. Tuy nhiên, sau đó khoảng một tháng họ bất ngờ tuyên bố bản dịch quyển sách Năm ngôn ngữ của tình yêu ấy là có tác quyền", ông Nguyễn Văn Phước – giám đốc Trí Việt – First News – trình bày.

Continue reading →

Ý NGHĨA NGÀY NAY CỦA HỌC THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA C. MÁC

GS.TS. BÙI NGỌC CHƯỞNG – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

1 – Cơ chế bóc lột tư bản chủ nghĩa

C. Mác đã vạch ra rằng, tư bản không hề phát minh ra lao động thặng dư, rằng: "Nơi nào mà một bộ phận xã hội chiếm độc quyền về những tư liệu sản xuất thì nơi đó người lao động, tự do hay không tự do, đều buộc phải thêm vào thời gian lao động cần thiết để nuôi sống bản thân mình một số thời gian lao động dôi ra dùng để sản xuất những tư liệu sinh hoạt cho người chiếm hữu tư liệu sản xuất" (1). Quy luật kẻ chiếm hữu tư liệu sản xuất bóc lột người lao động không có tư liệu sản xuất, được thực hiện dưới những hình thức và cơ chế khác nhau trong những hình thái xã hội khác nhau.

Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, giai cấp nô lệ bị lệ thuộc hoàn toàn về thân thể vào giai cấp chủ nô, thì ngoài việc bị bóc lột lao động thặng dư, nô lệ còn bị chiếm một phần lớn sản phẩm cần thiết của giai cấp nô lệ. Trong chế độ phong kiến, giai cấp nông nô đã có một phần tự do về thân thể đối với giai cấp địa chủ và chế độ bóc lột lao động thặng dư biểu hiện dưới hình thức bóc lột địa tô, lao động thặng dư và lao động cần thiết được phân chia rõ ràng. Bởi vậy, theo C. Mác cơ chế bóc lột thời phong kiến có nhiều tiến bộ hơn chiếm hữu nô lệ.

Continue reading →

PHÁT TRIỂN HỢP TÁC XÃ NÔNG NGHIỆP TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA

GS.TS. HỖ VĂN VĨNH

Đổi mới tư duy lý luận làm cơ sở cho đổi mới cơ chế quản lý kinh tế trong nông nghiệp và kinh tế nông thôn được đánh dấu bằng những mốc lịch sử quan trọng, đó là Chỉ thị 100 CT/TW ngày 13-1-1981 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5-4-1988; sự ra đời của Luật Hợp tác xã được thông qua ngày 20-3-1996 tại Kỳ họp thứ 9 của Quốc hội khóa IX.

Thực hiện đường lối đổi mới hợp tác xã nông nghiệp của Đảng và thi hành Luật Hợp tác xã, tất cả các địa phương đều đã tập trung chỉ đạo chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới cho phù hợp với quy luật kinh tế thị trường và đặc điểm của sản xuất nông nghiệp dựa trên quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của hộ nông dân. Xuất phát từ đặc điểm kinh tế – xã hội của từng địa phương, sự vận dụng sáng tạo đường lối đổi mới hợp tác xã nông nghiệp của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, việc chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp đã diễn ra hết sức đa dạng và phong phú. Đáng chú ý là đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác xã nông nghiệp làm ăn có hiệu quả, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của hộ nông dân trong quá trình chuyển đổi sang sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Có thể khái quát thành hai cách làm chủ yếu: chuyển đổi hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ sang hợp tác xã nông nghiệp kiểu mới; thành lập mới hợp tác xã nông nghiệp.

Continue reading →

BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG, NHÌN TỪ GÓC ĐỘ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

TS. ĐINH THỊ MỸ LOAN – Cục trưởng Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công thương

Vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng gần đây được đề cập khá nhiều và được coi là một trong những vấn đề quan trọng và nóng bỏng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững của đất nước ta.

Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận rằng, cho đến những ngày trước “đổi mới”, hầu như quyền lợi của người tiêu dùng nói chung và bộ máy bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng chưa được chú ý một cách thích đáng, kể cả từ góc độ người sản xuất, kinh doanh hàng hoá và cung ứng dịch vụ lẫn nhận thức của toàn xã hội. Điều này có nguyên nhân sâu xa từ những năm tháng chiến tranh khốc liệt, chúng ta phải tập trung cho sự nghiệp giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc cũng như giai đoạn phục hồi sau đó, mọi nhu cầu tiêu dùng đều ở mức tối thiểu. Chính vì vậy, vấn đề bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng chưa được chú trọng trong thời kỳ này phần nào do những nguyên nhân khách quan nhất định.

Bước vào thời kỳ đổi mới, nước ta đã chuyển mạnh từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Cũng từ đây, quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên là người bỏ tiền ra mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình và tổ chức (được gọi chung là người tiêu dùng) đã được xác lập với vai trò ngày càng được nâng cao của người tiêu dùng.

Continue reading →

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

GS.TS. VÕ THANH THU – Đại học Kinh tế TPHCM

Những đóng góp quan trọng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế

Tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang được đẩy nhanh về quy mô và tốc độ. Thành tựu này có sự đóng góp quan trọng của ngành thương mại, nhất là những hoạt động của Bộ Thương mại. Có thể điểm qua một số thành tựu nổi bật như sau:

– Hàng trăm hiệp định thương mại song phương và đa phương được ký kết tạo điều kiện thuận lợi để đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập nhanh với khu vực và quốc tế.

– Bộ Thương mại trở thành lực lượng nòng cốt trong tham gia thúc đẩy và tư vấn xây dựng hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý mang tính bình đẳng, hội nhập nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh thuận lợi.

– Trước đây, hoạt động thương mại chủ yếu với các nước xã hội chủ nghĩa, đứng đầu là Liên Xô; khoảng trên 15 năm lại đây, doanh nghiệp Việt Nam đã có quan hệ xuất nhập khẩu với gần 220 nước và khu vực lãnh thổ.

Continue reading →

BÀ BỘ TRƯỞNG VÀ TINH THẦN CHẤP PHÁP

NGUYÊN LÊ

Phát biểu trong phiên chất vấn trước Quốc hội với tư cách bộ quản lý ngành lao động, mặc dù câu trước vừa nói pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông, câu sau bà đã “công nhận” vai trò của lực lượng này với lý do nhiều nhà thầu nước ngoài không tuyển được lao động trong nước. Hơn nữa, bà phải biết rõ những nhà thầu nước ngoài mang theo lao động phổ thông đều là nhà thầu Trung Quốc…

Chưa bàn đến chuyện có thật là pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông hay không vì nghị định 34/2008/NĐ–CP của chính phủ về quản lý và tuyển dụng lao động nước ngoài vào nước ta làm việc do bộ bà soạn thảo không phân định rõ ràng. Còn trên thực tế, một số địa phương hiểu là không cấm, nên đã cấp phép, thậm chí có địa phương còn chỉ đạo cấp phép thật nhanh, cấp bao nhiêu tuỳ ý… nhà thầu.

Ở đây, xin bàn về sự “công nhận” của bà. Với tư cách bộ trưởng, hẳn bà phải hành xử theo… luật. Nếu quả thực tin rằng pháp luật cấm lao động phổ thông nước ngoài thì phát ngôn của bà phải trên cơ sở quy định của luật. Giả sử đúng là lao động phổ thông nước ngoài có vai trò nhất định nào đó thì bà cũng không nên công nhận điều đó trước Quốc hội, nơi bà đang phải trả lời chất vấn về trách nhiệm đã để xảy ra tình trạng này. Nó vừa không đúng với tư cách bộ trưởng vừa như một sự nguỵ biện công khai cho việc vi phạm pháp luật (vì bà nói là luật cấm) đang bị dư luận phản ứng mà bà là người phải chịu trách nhiệm.

Continue reading →

HUYỆN CHỨNG DI CHÚC: SAI THẨM QUYỀN

PHAN GIA HI

Chỉ có công chứng viên và UBND cấp xã mới được quyền chứng thực di chúc. Do văn bản chứng thực không phải là một văn bản hành chính đơn thuần nên UBND huyện không được quyền tự hủy bỏ.

Giữa năm 2005, mẹ của ông M. (hơn 90 tuổi, ngụ huyện Vụ Bản, Nam Định) đã đến phòng tư pháp huyện làm di chúc để lại tài sản cho các con. Theo di chúc, bà cụ để lại toàn bộ nhà đất cho tám người con dùng làm nơi thờ cúng tổ tiên kèm theo lưu ý “không được sang nhượng trong bất kỳ hoàn cảnh nào”. Việc trông coi nhà cửa, thu hoạch hoa màu… được giao cho một người con gái trước giờ vẫn phụng dưỡng bà cụ đảm nhận.

Lúc đó, lấy tư cách thừa ủy quyền của chủ tịch UBND huyện, trưởng phòng tư pháp huyện đã đóng dấu, ký tên xác nhận vào bản di chúc trên. Vị này đã có những lời chứng như sau: Mẹ ông M. tự nguyện lập di chúc. Tại thời điểm chứng thực, bà cụ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, nội dung di chúc phù hợp pháp luật, đạo đức. Người lập di chúc đã nghe ông đọc lại bản di chúc, đã đồng ý nội dung và điểm chỉ trước mặt ông… Ngoài ra, UBND huyện cũng nhận lưu giữ di chúc theo yêu cầu của bà cụ.

Continue reading →

BỨC XÚC VẤN ĐỀ VIỆC LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM

TRẦN THỊ NAM

Sáng ngày 11-6 – 2009, Quốc hội bắt đầu các phiên chất vấn. Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân là thành viên Chính phủ đầu tiên trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội. Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết, tại kỳ họp thứ 4, Bộ trưởng nhận được 20 chất vấn của các đại biểu. Sau kỳ họp, Bộ nhận được 39 kiến nghị của cử tri các tỉnh, thành phố và Bộ đã có văn bản gửi cử tri và đồng gửi tới Ban dân nguyện, các đoàn đại biểu Quốc hội có kiến nghị.

Tiếp thu ý kiến, kiến nghị cử tri, sau kỳ họp thứ 4, Bộ đã phối hợp với các đơn vị liên quan tập trung nghiên cứu, rà soát lại hệ thống văn bản liên quan đến lĩnh vực trình lao động-xã hội để trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành. Về những nội dung bức xúc trong vấn đề việc làm, lao động phổ thông nước ngoài tại Việt Nam, đã được Bộ Lao động -     

1- Tình trạng mất việc làm

Do ảnh hưởng của suy giảm kinh tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải thu hẹp sản xuất dẫn đến nhiều người lao động bị mất việc làm, thiếu việc làm. Trong năm 2008, theo báo cáo của 41 tỉnh, thành phố có66.707 người bị mất việc làm, chiếm 16,26% lao động làm việc trong các doanh nghiệp báo cáo trong đó số lao động nữ bị mất việc làm chiếm 25,5%. Một số tỉnh, thành phố có số lao động bị mất việc làm cao là: Thành phố Hồ Chí Minh: 19.041 người, Hà Nội: 9.634 người, Bình Dương: 8.515 người, Đồng Nai: 6.445 người, Bắc Ninh: 3.986 người. Một số tỉnh không thuộc vùng kinh tế trọng điểm, ít doanh nghiệp nhưng có số lao động mất việc làm lớn như: tỉnh An Giang có 2 doanh nghiệp báo cáo đã có 2.692 lao động mất việc làm; Sóc Trăng có 5 doanh nghiệp báo cáo đã có 4.938 lao động bị mất việc làm. 

Continue reading →

TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH trong điều kiện đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading →

TIẾP TỤC THỰC THI LUẬT CẠNH TRANH TRONG ĐIỀU KIỆN ĐẤT NƯỚC CHUYỂN MẠNH SANG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ HỘI NHẠP KINH TẾ QUỐC TẾ

PGS.TS. LÊ DANH VĨNH – Thứ trưởng Bộ Công thương, Chủ tịch Hội đồng Cạnh tranh

1. Bối cảnh ra đời của Luật cạnh tranh

Trước năm 1986, nền kinh tế VN là nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp hoàn toàn xa lạ với khái niệm môi trường cạnh tranh và các hành vi cạnh tranh. Kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu, rộng hơn vào nền kinh tế,  thương mại toàn cầu thì cạnh tranh được thừa nhận là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tiến bộ khoa học công nghệ và xã hội, cạnh tranh công bằng và bình đẳng đóng một vai trò nền tảng trong việc đảm bảo một nền kinh tế thị trường hiệu quả.

Trong bối cảnh đó, ngay từ những năm 2000, Luật cạnh tranh đã được Quốc hội và Chính phủ VN đưa vào chương trình xây dựng pháp luật, đã được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 3 tháng 12 năm 2004, bắt đầu có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Có thể nói Luật cạnh tranh được nhiều nước coi là Hiến pháp của nền kinh tế thị trường, cũng là một bước tiến hết sức quan trọng trên lộ trình tìm kiếm cơ chế quản lý kinh tế thích hợp, hoàn thiện và xây dựng một môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử cũng như đẩy nhanh hội nhập kinh tế quốc tế.

Continue reading →

CỔ PHẦN HÓA CHỈ LÀ MỘT VIỆC

LÊ VĂN TỨ

Cổ phần hóa chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước ở nước ta diễn ra dưới sự chỉ đạo tập trung của Chính phủ. Các chính sách, biện pháp CPH được thể hiện trong các nghị định, quyết định của Chính phủ, các thông tư và văn bản hướng dẫn thi hành của các bộ ngành và địa phương liên quan. Song, thực tế cho thấy quá trình CPH không mấy suôn sẻ, vướng mắc liên tục phát sinh.

Để tháo gỡ vướng mắc, chính sách, biện pháp CPH, và do đó các văn bản liên quan, đã phải liên tục sửa đi đổi lại. Cứ mỗi lần phát sinh vướng mắc, các cơ quan nhà nước liên quan lại phải tham gia giải quyết, dù muốn dù không, cứ bị cuốn vào vòng xoáy CPH và để rồi mang tiếng “can thiệp quá sâu”(!). Cho nên CPH chậm chủ yếu là do cách làm có tính mò mẫm trong điều kiện tư duy về quản lý doanh nghiệp nhà nước thời kinh tế thị trường chưa có những đổi mới căn bản.

Vị trí và nội dung chưa được minh định

Đến nay có lẽ không phải mọi người đều đã coi CPH là một trong những biện pháp để chuyển nền kinh tế tập trung bao cấp thành nền kinh tế thị trường nhiều thành phần. Và tương tự, không phải ai cũng coi nội dung CPH là chuyển đổi sở hữu, chuyển toàn bộ (hay một phần) doanh nghiệp của nhà nước thành của tư nhân, nói ngắn gọn là tư nhân hóa.

Continue reading →

AI NUÔI NHÀ NƯỚC?

TRẦN ĐỨC NGUYÊN

Đánh thuế trực tiếp để người tiêu dùng cảm nhận được đồng tiền thuế của mình là để nuôi Nhà nước và đáp ứng yêu cầu: “Xây dựng một xã hội dân chủ, trong đó cán bộ, đảng viên và công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân”(*).

Trong một dịp đi họp ở Mỹ, tôi đến cửa hàng mua đôi giày da. Sau khi chọn và đi thử một đôi có giá 96 USD, tôi trả tiền bằng tờ bạc 100 USD. Người bán hàng nói còn thiếu, tôi chỉ vào biển ghi giá thì được giải thích là giá này còn phải cộng thêm 10% thuế mà người tiêu dùng đóng cho Nhà nước. Sang Canada, tôi cũng thấy cách tính thuế tương tự đối với hàng hoá và dịch vụ.

Tôi nêu vấn đề với các chuyên gia kinh tế sở tại: Ở Việt Nam, thuế hàng hoá được thu ngay khi hàng xuất xưởng và được gọi là thuế gián thu (thu gián tiếp) vì thu từ doanh nghiệp sản xuất hàng nhưng thực chất tiền thuế ấy đánh vào người tiêu dùng. Thay vì thu rải rác khi có người mua hàng, nay thu gọn một nơi, một lúc khi hàng xuất xưởng chẳng tiện hơn sao?

Người đối thoại với tôi giải thích về cách thu thuế của họ: Trước hết đây là thuế mà người tiêu dùng đóng nên khi nào hàng được tiêu thụ thì mới tính thuế; nếu thu trước từ người sản xuất mà ở khâu bán lẻ, hàng không bán được thì sao? Lẽ thứ hai, chúng tôi muốn người dân biết rõ và luôn luôn nhớ là mình đóng thuế nuôi Nhà nước.

Continue reading →

KHU VỰC KINH TẾ KHÔNG CHÍNH THỨC Ở ĐÔ THỊ – Ý NGHĨA VÀ NHẬN THỨC ĐỐI VỚI KHU VỰC NÀY

THS. DƯ PHƯỚC TÂN

Trong những thập niên qua, một số nước ở khu vực Châu Á đã nhận thức rằng đã có một khoảng cách nhất định giữa chiến lược phát triển kinh tế xã hội được họ đề ra và kết quả thực sự mang lại. Mặc dù Chính phủ ở các nước Châu Á đã cố gắng vạch ra nhiều chiến lược, tập trung vào mục tiêu giảm bớt đói nghèo ở khu vực đô thị, tuy nhiên, kết quả mang lại vẫn không được khả quan.

Nếu như ở thập niên 60 các chiến lược phần lớn tập trung vào việc đầu tư mạnh cho khu vực quốc doanh, nhà nước, tạo ra nhiều việc làm từ khu vực quốc doanh, thì đến thập niên 70 chủ yếu chiến lược đề ra đã nhắm đến chính sách rộng hơn, nhằm tạo ra nhiều việc làm cho xã hội (thâm dụng lao động), cho đến chiến lược phát triển nguồn nhân lực v.v…. Tuy nhiên, những nỗ lực đó vẫn không làm giảm đi mức nghèo khổ ở các thành phố. Cuối cùng, các nhà quản lý đô thị mới khám phá rằng, họ đã bỏ quên đi một khu vực kinh tế, gắn liền trong khu vực kinh  tế ở đô thị, có quy mô hoạt động từ nhỏ đến rất nhỏ, dễ dàng tổ chức hoạt động và hầu như không bắt buộc phải tuân theo các quy định chính quy do Nhà nước đề ra. Chính khu vực kinh tế này thực tế đã thu hút một số lượng khá lớn những người lao động không có việc làm, tạo ra nhiều sản phẩm và dịch vụ cho xã hội với giá cả vừa phải, phù hợp với túi tiền của người lao động nghèo. Khu vực này đã được đặt tên là khu vực không chính thức  (informal sector) và có lẽ đây là tên gọi phổ biến nhất hiện nay. Khu vực này thực chất bao gồm các dạng hoạt động cá thể hoặc tập thể (nhưng không quá 10 người)(1).

Continue reading →

NÂNG CAO VỊ THẾ, NĂNG LỰC CHO PHỤ NỮ NƯỚC TA

NGỌC HỒ

1-Mục tiêu của sự phát triển

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: Nói phụ nữ là nói nửa phần xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa. Giải phóng phụ nữ, nâng cao năng lực và thừa nhận vị thế, vai trò của người phụ nữ, trong xã hội là một mục tiêu quan trọng, một cuộc đấu tranh vô cùng cam go, quyết liệt và dai dẳng diễn ra trong mỗi con người, trong từng gia đình và toàn xã hội. Ngay từ khi mới giành được chính quyền, Đảng và Nhà nước ta đã nhận thức sâu sắc vai trò và vị thế của phụ nữ trong sự phát triển chung của quốc gia, dân tộc. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp lý nhằm cụ thể hoá quyền bình đẳng nam nữ; tạo điều kiện cho phụ nữ ngày càng có nhiều cơ hội và điều kiện tham gia vào các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… Bình đẳng giới trở thành mục tiêu của sự phát triển đồng thời cũng trở thành vấn đề trung tâm của phát triển, và là một trong những mục tiêu tăng trưởng của Quốc gia, xoá đói giảm nghèo và quản lý Nhà nước có hiệu quả. Continue reading →

CHÍNH SÁCH ĐỀN BÙ KHI THU HỒI ĐẤT CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ VIỆT NAM

THS. NGUYỄN THỊ DUNG – Đại học Luật Hà Nội

Phát triển công nghiệp và đô thị là một tiến trình tất yếu trên toàn thế giới. Và, thu hồi đất nông nghiệp là cách thức thường được thực hiện để xây khu công nghiệp và đô thị. Quá trình thu hồi đất đặt ra rất nhiều vấn đề kinh tế – xã hội cần được giải quyết kịp thời và thỏa đáng. Để có thể hài hòa được lợi ích của xã hội, tập thể và cá nhân, mỗi quốc gia có cách làm riêng của mình.

1. Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong khu vực

Ở Trung Quốc, có thể nói, mục tiêu bao trùm lên chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là hạn chế đến mức tối đa việc thu hồi đất, giải tỏa mặt bằng, cũng như số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư. Nếu như việc thu hồi đất là không thể tránh khỏi thì có sự chuẩn bị cẩn thận phương án đền bù, trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà nước, tập thể và cá nhân, đảm bảo cho những người bị thu hồi đất có thể khôi phục lại hoặc cải thiện mức sống so với trước khi bị thu hồi đất.

Theo quy định của pháp luật Trung Quốc, khi Nhà nước thu hồi đất thì người nào sử dụng đất sau đó sẽ có trách nhiệm bồi thường. Người bị thu hồi đất được thanh toán ba loại tiền: tiền bồi thường đất đai, tiền trợ cấp về tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi thường đất đai và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị tổng sản lượng của đất đai những năm trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi thường cho hoa màu, cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.

Continue reading →

CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC và chính trị – kinh tế

PGS. HÀ THÚC MINH

Ai cũng biết đổi mới có nghĩa là chuyển biến từ cái cũ sang cái mới. Chuyển biến hay đổi mới hiện nay không phải chỉ đơn thuần là sự thay đổi thông thường của lịch sử mà chính là sự chuyển hình xã hội (social information) chưa từng có đang trở thành hiện tượng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Lịch sử sẽ bị kéo ở hai đầu nếu như không nhận thức, lý giải đúng đắn đặc điểm của bước chuyển xã hội hiện thời.

Xã hội ở nước ta chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu nhìn rộng hơn thì đó là sự chuyển hóa giữa hai loại hình văn hóa “chính trị – đạo đức” và “chính trị – kinh tế”. Loại hình chính trị – đạo đức là loại hình văn hóa truyền thống tồn tại suốt chiều dài của xã hội phong kiến phương Đông. Đặc điểm của nó là chính trị hay hệ thống chính trị quan hệ mật thiết với đạo đức như hình với bóng. Cho nên có thể nói không có gì là quá đáng nếu cho rằng chính trị ở đây là chính trị – đạo đức và đạo đức cũng là đạo đức – chính trị.

Tại sao như vậy? Một trong những đặc điểm quan trọng của tồn tại xã hội ở phương Đông là quan hệ huyết thống bền chặt cho đến tận ngày nay, trong khi ở phương Tây, quan hệ huyết thống đã bị phai nhạt và “bốc hơi” gần hết sau thời kỳ gọi là “văn hóa phục hưng”. Qua đó, có thể giải thích vì sao loại hình văn hóa chính trị – đạo đức lại có sức sống lâu dài như vậy ở phương Đông. Từ thời cổ đại, cách ngày nay hơn ba nghìn năm, nhà nước hay hệ thống chính trị đã nảy mầm trên mảnh đất chằng chịt quan hệ huyết thống xa gần.

Continue reading →

CHÍNH TRỊ – ĐẠO ĐỨC VÀ CHÍNH TRỊ – KINH TẾ

PGS. HÀ THÚC MINH

Ai cũng biết đổi mới có nghĩa là chuyển biến từ cái cũ sang cái mới. Chuyển biến hay đổi mới hiện nay không phải chỉ đơn thuần là sự thay đổi thông thường của lịch sử mà chính là sự chuyển hình xã hội (social information) chưa từng có đang trở thành hiện tượng được quan tâm nghiên cứu ở nhiều nước, trong đó có nước ta. Lịch sử sẽ bị kéo ở hai đầu nếu như không nhận thức, lý giải đúng đắn đặc điểm của bước chuyển xã hội hiện thời.

Xã hội ở nước ta chuyển từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nếu nhìn rộng hơn thì đó là sự chuyển hóa giữa hai loại hình văn hóa "chính trị – đạo đức" và "chính trị – kinh tế". Loại hình chính trị – đạo đức là loại hình văn hóa truyền thống tồn tại suốt chiều dài của xã hội phong kiến phương Đông. Đặc điểm của nó là chính trị hay hệ thống chính trị quan hệ mật thiết với đạo đức như hình với bóng. Cho nên có thể nói không có gì là quá đáng nếu cho rằng chính trị ở đây là chính trị – đạo đức và đạo đức cũng là đạo đức – chính trị.

Tại sao như vậy? Một trong những đặc điểm quan trọng của tồn tại xã hội ở phương Đông là quan hệ huyết thống bền chặt cho đến tận ngày nay, trong khi ở phương Tây, quan hệ huyết thống đã bị phai nhạt và "bốc hơi" gần hết sau thời kỳ gọi là "văn hóa phục hưng". Qua đó, có thể giải thích vì sao loại hình văn hóa chính trị – đạo đức lại có sức sống lâu dài như vậy ở phương Đông. Từ thời cổ đại, cách ngày nay hơn ba nghìn năm, nhà nước hay hệ thống chính trị đã nảy mầm trên mảnh đất chằng chịt quan hệ huyết thống xa gần.

Continue reading →

Về điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm TRONG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

PHÍ THỊ QUỲNH NGA – Bảo Việt Việt Nam

Bất kể một hợp đồng nào muốn có hiệu lực phải đảm bảo các điều kiện nhất định của pháp luật. Thông thường, người ta quan tâm đến các điều kiện sau: điều kiện về ý chí, chủ thể, nội dung và mục đích giao kết hợp đồng, hình thức hợp đồng. Về mặt lý luận, nội dung của hợp đồng dân sự nói chung và hợp đồng bảo hiểm nói riêng là các điều khoản qua đó xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của các bên giao kết hợp đồng. Tuỳ thuộc vào từng trường hợp mà nội dung của hợp đồng này được xác định theo 1 trong 3 điều khoản đó là: điều khoản cơ bản, điều khoản thông thường và điều khoản tuỳ nghi.

Điều khoản cơ bản là điều khoản ghi nhận nội dung cơ bản chủ yếu của hợp đồng. Vì vậy, về nguyên tắc các bên phải thỏa thuận với nhau về điều khoản này thì hợp đồng mới được coi là đã được giao kết. Cơ sở để xác định điều khoản này là do pháp luật quy định hoặc dựa vào bản chất của hợp đồng.

Điều khoản thông thường là những điều khoản đã được pháp luật quy định trước nên khi giao kết hợp đồng các bên không cần thỏa thuận thì nó vẫn được coi là các bên đã mặc nhiên thỏa thuận và thực hiện nó đúng như pháp luật đã quy định. Khác với điều khoản cơ bản, các điều khoản thông thường không làm ảnh hưởng đến quá trình giao kết hợp đồng.

Continue reading →