NGUYÊN LÊ
Phát biểu trong phiên chất vấn trước Quốc hội với tư cách bộ quản lý ngành lao động, mặc dù câu trước vừa nói pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông, câu sau bà đã “công nhận” vai trò của lực lượng này với lý do nhiều nhà thầu nước ngoài không tuyển được lao động trong nước. Hơn nữa, bà phải biết rõ những nhà thầu nước ngoài mang theo lao động phổ thông đều là nhà thầu Trung Quốc…
Chưa bàn đến chuyện có thật là pháp luật không cho phép nhập lao động phổ thông hay không vì nghị định 34/2008/NĐ–CP của chính phủ về quản lý và tuyển dụng lao động nước ngoài vào nước ta làm việc do bộ bà soạn thảo không phân định rõ ràng. Còn trên thực tế, một số địa phương hiểu là không cấm, nên đã cấp phép, thậm chí có địa phương còn chỉ đạo cấp phép thật nhanh, cấp bao nhiêu tuỳ ý… nhà thầu.
Ở đây, xin bàn về sự “công nhận” của bà. Với tư cách bộ trưởng, hẳn bà phải hành xử theo… luật. Nếu quả thực tin rằng pháp luật cấm lao động phổ thông nước ngoài thì phát ngôn của bà phải trên cơ sở quy định của luật. Giả sử đúng là lao động phổ thông nước ngoài có vai trò nhất định nào đó thì bà cũng không nên công nhận điều đó trước Quốc hội, nơi bà đang phải trả lời chất vấn về trách nhiệm đã để xảy ra tình trạng này. Nó vừa không đúng với tư cách bộ trưởng vừa như một sự nguỵ biện công khai cho việc vi phạm pháp luật (vì bà nói là luật cấm) đang bị dư luận phản ứng mà bà là người phải chịu trách nhiệm.
Một nhà báo đi Anh về kể chuyện anh trao đổi với một viên chức phụ trách quản lý việc nhập cư, lao động của nước này về lệnh trục xuất những công dân Việt Nam nhập cư bất hợp pháp. Anh nhà báo phân bua rằng mặc dù họ nhập cư bất hợp pháp nhưng trong quá trình sinh sống họ có những đóng góp nhất định cho nền kinh tế nước Anh. Viên chức này đã nói rằng mặc dù thế nhưng luật là… luật. Bà đã không có được cái tinh thần pháp luật đó.
Nếu quả thật như bà nói, nhà thầu nước ngoài không tuyển được lao động phổ thông trong nước, thì điều đó cũng thuộc trách nhiệm của bà. Vì sao họ không tuyển được ở một đất nước mỗi năm như năm nay có đến 1,7 triệu người cần việc? Bởi lao động phổ thông thì không cần phải đào tạo gì ghê gớm. Sau khi làm hết cách mà họ vẫn không tuyển được, cần phải tuyển lao động phổ thông nước ngoài thì cách thức phải là bà đề xuất để thay đổi chính sách, thay đổi luật.
Ngay đầu phiên chất vấn, bộ trưởng đã ra sức nói về hội nhập, mở cửa. Xin thưa rằng hội nhập không có gì mâu thuẫn với quản lý lao động nước ngoài cả. Dù hội nhập, nước nào người ta cũng quản lý lao động nước ngoài. Sự khác biệt, ở chỗ, nước này quản chặt, nước kia quản lỏng và nhất là quá trình thực thi.
Bộ trưởng đề nghị Quốc hội cho phép xây dựng một dự thảo luật về lao động nước ngoài vào Việt Nam. Việc này đúng nhưng chưa thể làm ngay và làm tốt được. Đáng lẽ, trước hết, bà phải tổng kết các quy định hiện hành, xem nó như thế nào, từ đó rút kinh nghiệm, sửa đổi hay thay mới. Chỉ thấy bà nhanh chóng nói rằng mình không cấp visa cho khách du lịch, không thấy bà nói gì đến cái nghị định 34 đang gây tranh cãi ở nội dung chính yếu nhất. Nếu như bà đúng, rằng quy định hiện hành không cho phép lao động phổ thông nước ngoài thì việc đáng phải làm là rà soát lại cách hiểu và thực thi của các sở lao động, có thông tư giải thích. Còn không, phải sửa đổi, thay mới. Việc soạn thảo một văn bản không rõ ràng hay việc thực thi không đúng với tinh thần của nó, cả thảy, đều là lỗi của bà, với tư cách là người đứng đầu bộ phụ trách vấn đề lao động.
Quản lý lao động nước ngoài: Chạy theo thực tế đến bao giờ?
Ba giải pháp được bộ trưởng Lao động – thương binh và xã hội Nguyễn Thị Kim Ngân đưa ra tại phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày hôm qua 11.6 về quản lý lao động nước ngoài là: cấp phép cho những lao động đủ điều kiện, tuyên truyền vận động và không gia hạn visa cho số lao động không đủ điều kiện, đồng thời tăng cường quản lý nhập cảnh. Đây được xem như các giải pháp tình thế để hợp pháp hoá hơn 60% lao động nước ngoài đang làm việc không phép tại nước ta hiện nay. Cử tri chưa thoả mãn ở câu trả lời này vì chưa thấy một tầm nhìn với các giải pháp dài hạn nhằm kiểm soát dòng dịch chuyển của lao động nước ngoài vào nước ta.
Nghị định 34 năm 2008 về quản lý và tuyển dụng lao động nước ngoài vào nước ta làm việc chỉ quy định năm đối tượng điều chỉnh, bao gồm những người thực hiện hợp đồng lao động, di chuyển nội bộ trong doanh nghiệp có hiện diện thương mại tại Việt Nam, thực hiện các hợp đồng về kinh tế, thương mại, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khoa học kỹ thuật, văn hoá, thể thao, giáo dục, y tế, nhà cung cấp dịch vụ theo hợp đồng, chào bán dịch vụ, người đại diện cho các tổ chức nước ngoài được phép hoạt động theo quy định pháp luật Việt Nam. Những người này muốn vào nước ta làm việc phải đáp ứng đủ năm yêu cầu bao gồm: đủ 18 tuổi, đủ sức khoẻ, là người quản lý hoặc chuyên gia, không có tiền án tiền sự và phải được cấp phép lao động.
Như vậy khi các dòng dịch chuyển của người nước ngoài chưa được phân loại rõ ràng thì chính sách đối với từng đối tượng cũng vì thế mà rất mù mờ. Nghị định 34 làm, “túm” tất cả các đối tượng vào một “giỏ” và đưa ra một chính sách chung cho dù nó không phù hợp.
Nghị định 34 không có bất cứ một chính kiến nào về vấn đề lao động phổ thông nước ngoài nhập cảnh vào nước ta làm việc. Cách mà bộ Lao động – thương binh và xã hội đưa ra là cấp phép cho họ xem ra khá hợp tình. Nhưng nếu xét trên phương diện quản lý nhà nước thì nếu cứ làm như vậy cơ quan quản lý sẽ tiếp tục chạy đuổi theo thực tế đến bao giờ?
Bộ trưởng Ngân đề nghị Quốc hội cho phép xây dựng một dự thảo luật về lao động nước ngoài vào Việt Nam làm việc. Nhưng nếu với tư duy quản lý lao động nước ngoài như hiện nay thì thêm một bộ luật có thể tình trạng mất kiểm soát với lao động nước ngoài như hiện nay sẽ vẫn không được cải thiện.
Chỉ cần nhìn sang một số nước cùng khu vực như Thái Lan, Singapore, Malaysia xem cách các nước làm thế nào, sẽ thấy các quy định và cung cách quản lý lao động nước ngoài ở nước ta chẳng giống ai.
Tây Giang
SOURCE; BÁO SÀI GÒN TIẾP THỊ
Trích dẫn từ:
http://sgtt.com.vn/detail23.aspx?ColumnId=23&newsid=52809&fld=HTMG/2009/0611/52809
Filed under: CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI, PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ ASXH, Xã hội, nhà nước và pháp luật Việt Nam |














Các quy định của pháp luật được dẫn chiếu trong các bài viết được đăng trên Trang Thông tin này có thể còn hiệu lực, không còn hiệu lực hoặc chỉ là dự thảo quy phạm pháp luật. Rất mong các bạn khi khai thác thông tin cần cẩn trọng với nội dung của từng bài viết - SO SÁNH VÀ PHẢN BIỆN KHOA HỌC LÀ BẢN LĨNH CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC.


Các bạn thân mến, vì lý do thời gian tôi đã và đang chậm hồi đáp nhiều vấn đề được nêu trên trang thông tin. Rất mong các bạn thông cảm vì sự chậm trễ này. Qua đây, hy vọng các bạn cùng trao đổi và chia sẻ kiến thức nhiều hơn nữa vì lợi ích chung của cộng đồng nghiên cứu Luật học.
Civillawinfor đã nhận được sự chấp thuận chính thức của Giáo sư Trần Hữu Dũng, quản trị Tạp chí Thời đại mới, Ban Biên tập Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Viên Triết học Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, trang thông tin chungta.com về việc sử dụng lại các bài viết. Để bảo vệ bản quyền cho cơ quan phát hành và các tác giả, đề nghị các bạn khi khai thác thông tin cần nêu rõ nguồn trích, tên tác giả, không biên tập lại nội dung bài viết. Riêng các bài viết thuộc Tạp chí Thời đại mới, các bạn nghiên cứu bài viết trực tiếp trên trang thông tin, không in bài viết thành văn bản, không phổ biến dưới mục đích thương mại.











Leave a Reply