ĐƯỜNG HƯỚNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI MỸ

TRẦN LÊ ANH – PGS Kinh tế và Quản trị Kinh doanh Đại học Lasell, Mỹ

Trong một hội thảo gần đây, khi được hỏi ông nhận xét thế nào về chính sách thương mại của chính phủ Obama, Giáo sư Greg Mankiw, cựu Chủ tịch Hội đồng Cố vấn kinh tế của Tổng thống George W. Bush, có nói các cố vấn kinh tế của Tổng thống nhìn chung đều ủng hộ chính sách thương mại tự do, nhưng ông Obama thì không rõ ràng lắm.

Ủng hộ thương mại tự do hay bảo hộ thương mại?

Nhận xét trên phần nào nói lên thực trạng không thể tách rời giữa đường hướng chính sách thương mại và môi trường chính trị Mỹ. Động thái của ông Obama “không rõ ràng” không phải là vì ông không hiểu vấn đề mà do ông bị ràng buộc bởi các yếu tố chính trị, phải đáp ứng những mong muốn của các khối cử tri và nhóm lợi ích khác nhau.

Tuy nhiên, chính sách thương mại Mỹ là một sản phẩm chung, được tạo ra thông qua sự tác động qua lại hết sức phức tạp giữa Nhà Trắng, Quốc hội, và các nhóm lợi ích khác nhau trong xã hội. Cho nên mặc dù hiểu rõ lợi ích chung của thương mại tự do, chính phủ Obama buộc phải cân nhắc những khuynh hướng khác để tránh bớt tổn thất vốn liếng chính trị (do mất sự ủng hộ). Nhìn ở phương diện này, những sáng kiến về thương mại tự do của Nhà Trắng sẽ gặp khó khăn trước áp lực mang tính chất bảo hộ thương mại đang gia tăng trong xã hội Mỹ. Continue reading

PHẢI HẠN CHẾ NHỮNG KHE HỞ CỦA PHÁP LUẬT

NGUYỄN TRÍ DŨNG

Để pháp luật được tuân thủ nó phải phản ánh đúng nhu cầu và sự phát triển của cuộc sống và phải khả thi. Các nhà làm luật cần sâu sát hơn với cuộc sống, với thực tiễn, cần tính đến việc làm thế nào để thực thi các quy định do mình xây dựng, đừng để các lỗ hổng pháp luật khiến người dân phải vất vả trước cửa công quyền.

Quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường đặt ra những đòi hỏi cấp bách kiện toàn hệ thống pháp luật điều chỉnh các quan hệ hình thành trong cơ chế này. Mặc dù đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, công tác xây dựng pháp luật thời gian qua của chúng ta vẫn bộc lộ nhiều hạn chế chậm được khắc phục, đặc biệt là trong hai khía cạnh.

Thứ nhất, tình trạng mà các chuyên gia gọi là “luật ống” vẫn không thể khắc phục. Luật có hiệu lực không thể đi vào cuộc sống chừng nào chưa có các văn bản dưới luật hướng dẫn thực hiện. Thứ hai, sáng kiến và bản thân việc xây dựng luật do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện theo một quy trình khá quan liêu nên nội dung luật mang nhiều yếu tố chủ quan, xa rời thực tiễn. Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA VẤN NẠN THAM NHŨNG ĐỐI VỚI MỤC TIÊU ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

PHẠM THỊ TÚY

Tham nhũng là một thách thức mang tính toàn cầu – đó là một nhận định được cả thế giới thừa nhận. Bởi tham nhũng là một trong những trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng và giảm đói nghèo. ở Việt Nam, tham nhũng cũng đã được nhận thức khá sâu sắc rằng đó là một trở lực nghiêm trọng đối với chiến lược phát triển quốc gia, bởi nó làm suy giảm hiệu quả quản lý nhà nước, xói mòn nguyên tắc pháp quyền, cản trở tăng trưởng kinh tế và những nỗ lực xoá đói giảm nghèo, biến dạng điều kiện cạnh tranh trong giao dịch kinh doanh.

Khái quát về vấn nạn tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Như nhiều quốc gia đang phát triển khác, Việt Nam cũng đang phải đối mặt với nhiều vấn đề phát triển, trong đó có vấn nạn tham nhũng. Ở các nước đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng, tham nhũng thường bắt nguồn từ những căn nguyên:

Thứ nhất, những thiếu hụt hoặc bất cập từ sự chưa hoàn thiện của thể chế mà tập trung chủ yếu là cơ chế chính sách và pháp luật.

Đã hơn 20 năm Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, kết quả đạt được thật đáng khích lệ, song những vấn đề còn tồn đọng cũng đáng kể, nổi bật đó là những thiếu hụt, bất cập về cơ chế, chính sách và hệ thống pháp luật. Về cơ bản, những thể chế này đã được hình thành và đang có những tác động nhiều chiều đến sự phát triển của quốc gia, nhưng vẫn thiếu, chậm, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và một số mặt chưa phù hợp, đã gây cản trở sự phát triển. Continue reading

DOANH NHÂN VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP

TS. ĐẶNG NGỌC LỢI – TS. NGUYỄN VĂN HÙNG

Được ví như “nguồn của cải vật chất khổng lồ” đóng góp vào tiềm lực kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế của dân tộc trên trường quốc tế, có thể khẳng định, doanh nhân Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Tuy nhiên, để phát huy hơn nữa sức mạnh và vai trò làm giàu cho đất nước của doanh nhân thời hội nhập thì rất cần một môi trường kinh doanh và hành lang pháp lý thông thoáng nhưng quan trọng hơn cả vẫn là vai trò “bà đỡ” của Nhà nước.

Nguồn của cải, vật chất khổng lồ

Một trong những thành tựu nổi bật nhất trong 20 năm đổi mới vừa qua, đặc biệt trong khoảng năm năm trở lại đây, là sự trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ doanh nhân, doanh nghiệp Việt Nam với khoảng 180.000 doanh nghiệp chính thức hoạt động trong cả nước. So với các nước trong khu vực, Việt Nam còn phải cố gắng rất nhiều để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, nhưng rõ ràng những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội và sự tiến bộ vượt bậc về xuất khẩu của nước nhà trong những năm gần đây đã nói lên sự trưởng thành đáng kể của doanh nghiệp, doanh nhân Việt Nam và khẳng định rõ vai trò của đội quân tiên phong trên mặt trận kinh tế làm giàu cho đất nước, cho xã hội và là nguồn của cải vật chất khổng lồ cần được khai thác. Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: 18 NĂM NGÕ ĐI CHUNG VẪN BỊ BỊT KÍN

GIA VĂN

Sau 18 năm bị gia đình ông Đức bịt ngõ đi chung phải đi nhờ qua nhà hàng xóm, mới đây, ông Nguyễn Duy Năng và ông Nguyễn Trọng Thuỷ (số 11, ngõ 22b, làng Trung Tự cũ, phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội) được người hàng xóm thông báo: Chuẩn bị xây nhà bịt lối đi nhờ của hai gia đình…

Muốn ra khỏi nhà phải… trèo thang!

Cách đây gần 2 năm, VietNamNet đã từng đưa vụ việc Bị bịt cổng, 16 năm ra ngõ qua… sân hàng xóm phản ánh về tình trạng hai gia đình ôngNăng và ông Thuỷ bị bịt cổng đi chung mà chưa được các cơ quan chức năng giải quyết.

Từ đó đến nay, sự việc vẫn bị bỏ mặc, bất chấp gia đình ông Năng và ông Thuỷ vẫn thường xuyên có đơn kêu cứu lên các cơ quan chức năng.

Ngày 27/5/2009, ông Ngô Văn Nhiên, người đã cho hai gia đình ông Năng và ông Thuỷ đi nhờ suốt 19 năm qua thông báo chuẩn bị xây nhà bịt ngõ đi chung nên không thể cho 2 gia đình tiếp tục đi nhờ qua nhà.

Trước thông báo của ông Nhiên, ông Năng và ông Thuỷ không khỏi lo lắng vì nếu xây nhà bịt lối đi nhờ thì hai gia đình sẽ bị cô lập. Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN CÁC TIÊU CHUẨN LAO ĐỘNG QUỐC TẾ CƠ BẢN ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA QUỐC GIA

THS. PHẠM TRỌNG NGHĨA – Bộ Lao động. Thương binh và Xã hội

Pháp luật lao động quốc tế bao gồm một hệ thống tiêu chuẩn lao động được thông qua ở cấp độ quốc tế (1). Theo thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (International Labour Organisation – ILO), các tiêu chuẩn lao động quốc tế được chia thành 22 nhóm khác nhau (2). Trong 22 nhóm tiêu chuẩn đó, có những tiêu chuẩn được công nhận rộng rãi như: (i) gắn chặt với quyền của người lao động; (ii) làm nền tảng cho việc bảo đảm, thực thi các tiêu chuẩn lao động quốc tế khác; (iii) mọi quốc gia thành viên của ILO phải tôn trọng và thúc đẩy thực hiện…

Những tiêu chuẩn lao động quốc tế đó được gọi là những tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản (TCLĐQTCB). Nhân dịp kỷ niệm tròn 90 ngày thành lập Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (4/1919 – 4/2009), Tạp chí NCLP xin giới thiệu bài nghiên cứu đề cập đến các TCLĐQTCB, trong đó tập trung vào các vấn đề: (i) ý tưởng về các TCLĐQTCB; (ii) quan niệm về TCLĐQTCB; (iii) lý giải tại sau những tiêu chuẩn đó lại được coi là tiêu chuẩn “cơ bản”; đồng thời, (iv) đánh giá tác động của việc thực hiện các TCLĐQTCB này đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia trên hai phương diện là khả năng thu hút FDI và khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu; qua đó, (v) đề xuất một số nội dung cần tiếp tục được nghiên cứu trong điều kiện Việt Nam hiện nay.

1. Ý tưởng về TCLĐQTCB Continue reading

Ý KIẾN ĐỐNG GÓP VÀO DỰ THẢO LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TRẦN VIỆT HƯNG – HÒA BÌNH TẠI KỲ HỌP THỨ 5 QUỐC HỘI KHÓA XII

Tôi xin được tham gia một số ý kiến liên quan đến dự thảo Luật bồi thường Nhà nước gồm những nội dung như sau:

Nội dung thứ nhất, về tên gọi, trước đây tôi cũng đã có theo dõi rất kỹ về tên gọi cũng thấy rằng nhiều đại biểu Quốc hội có đến 90% là không đồng ý với tên là Luật bồi thường Nhà nước khi mà Ban soạn thảo đưa ra lần đầu. Bây giờ theo ý kiến của tôi thì hiện nay chúng ta lại thiên về hướng tên gọi, tên dự thảo là Luật bồi thường Nhà nước, nhưng theo tôi đồng tình với một số ý kiến đại biểu và cũng như ý kiến của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đó là nên đặt tên là Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì nó rõ ràng dễ hiểu trong quần chúng nhân dân.

Nội dung thứ hai, về trách nhiệm quản lý về công tác bồi thường thì tôi đồng tình với dự thảo đó là cần phải có một cơ quan giúp cho Chính phủ trong việc quản lý Nhà nước về công tác bồi thường Nhà nước thực hiện nhiệm vụ này. Tất nhiên so sánh nó rất khập khiễng nhưng tôi muốn nói rằng khi chúng ta làm Luật quản lý nợ công thì cũng có 3 đơn vị thực hiện quản lý nợ công và rất nhiều đại biểu Quốc hội có ý kiến là việc này mặc dù các cơ quan đều có trách nhiệm nhưng cần phải có một cơ quan làm đầu mối là giao cho Bộ Tài chính. Tôi nghĩ rằng việc này trách nhiệm là công tác bồi thường quản lý Nhà nước nên có rất nhiều cơ quan trong 3 lĩnh vực và nên giao cho Bộ Tư pháp quản lý giúp cho Chính phủ quản lý thống nhất về bồi thường Nhà nước là hợp lý. Continue reading

NHÌN TỪ NGÀNH LÚA GẠO: ĐỂ TƯ DOANH BÌNH ĐẲNG VỚI QUỐC DOANH TRONG CẠNH TRANH

NGUYỄN VĂN SƠN

Mặc dù có một vài điểm chưa đồng ý về quan niệm “thị trường tự do… là tự do thuận mua vừa bán”, nhưng tôi đồng tình với ông Lê Văn Triết về vai trò của các công ty, các tổng công ty, các tập đoàn quốc doanh (Các bạn tham khảo bài phát biểu của ông Lê Văn Triết ở cuối bài này – Civillawinfor).

Ngày nay, khái niệm kinh tế tự do luôn luôn được đi kèm với vai trò của Chính phủ trong việc bảo vệ nhà sản xuất và người tiêu dùng trong nước thông qua các công cụ thuế, lãi suất, tỷ giá hối đoái… cùng các quy định, luật lệ về tiêu chuẩn hàng hoá, dịch vụ, giá cả. Nếu Chính phủ có “đẻ” ra các công ty, các tổng công ty hay tập đoàn quốc doanh thì cũng – nói cho cùng – là chỉ để làm các nhiệm vụ bảo vệ người tiêu dùng trong nước mà thôi. Các đơn vị quốc doanh nêu trên có nhiệm vụ sản xuất (và kinh doanh) các mặt hàng mang tính chiến lược mà tư doanh chưa muốn làm (vì lợi nhuận thấp, thiếu vốn, chưa nắm vững thị trường, chưa có điều kiện kỹ thuật), không thể làm (vốn quá lớn, có ảnh hưởng đến an ninh quốc gia mà Nhà nước giành độc quyền). Và sau khi sản xuất kinh doanh thành công, các đơn vị quốc doanh nêu trên thường được giải tư (cổ phần hoá) cho tư doanh, nếu không ảnh hưởng đến an ninh quốc gia. Continue reading

ĐẦU TƯ CÓ ĐIỀU KIỆN: QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC, THỰC TIỄN TRIỂN KHAI, VƯỚNG MẮC VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

NGUYỄN ĐÌNH TÀI

Hiện nay pháp luật Việt Nam quy định một số lĩnh vực, ngành nghề đầu tư – kinh doanh có điều kiện (1). Quy định này không phải chỉ riêng Việt Nam mới áp dụng, mà trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều có quy định về điều kiện để đầu tư (2) trong một số lĩnh vực, ngành, nghề mà từng quốc gia đó cho là có những ảnh hưởng quan trọng đến xã hội, kinh tế, an ninh của đất nước. Trong chừng mực nào đó, điều kiện đầu tư hay đầu tư có điều kiện còn được các tổ chức quốc tế đặt ra cho các thành viên trong tổ chức đó phải tuân thủ.

Các quy định hiện hành của Việt Nam về lĩnh vực ĐT có điều kiện

Hiện tại, những lĩnh vực ĐT có điều kiện được quy định trong các văn bản chủ yếu sau:

Điều 29 Luật ĐT 2005 qui định 9 lĩnh vực ĐT có điều kiện áp dụng chung cho cả nhà ĐT nước ngoài và nhà ĐT trong nước: Lĩnh vực tác động đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; Lĩnh vực tài chính, ngân hàng; Lĩnh vực tác động đến sức khỏe cộng đồng; Văn hóa, thông tin, báo chí, xuất bản; Dịch vụ giải trí; Kinh doanh bất động sản; Khảo sát, tìm kiếm, thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên; môi trường sinh thái; Phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; Một số lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật. Continue reading

CÁC QUYỀN XÃ HỘI CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN TỪ HIẾN PHÁP NĂM 1980 ĐẾN HIẾN PHÁP NĂM 1992

TS. NGUYỄN VĂN ĐỘNG* – Đại học Luật Hà Nội

1- Hiến pháp năm 1980 – sự mở đầu cho quá trình hoàn thiện các quyền xã hội cơ bản của công dân ở nước ta

Hiến pháp năm 1980 ra đời trong điều kiện đất nước ta thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc thống nhất về mặt nhà nước và pháp luật đã tạo ra tiền đề chính trị – pháp lý quan trọng nhất để cả nước cùng thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trước hết, Hiến pháp năm 1980 khẳng định lại các quyền xã hội cơ bản trong Hiến pháp năm 1959, nhưng bổ sung, mở rộng nội dung phần lớn các quyền đó cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mới.

Về quyền bảo hiểm xã hội của người lao động (Điều 59). Điểm mới trong điều luật này là Hiến pháp quy định nghĩa vụ của Nhà nước hướng dẫn các hợp tác xã thực hiện từng bước chế độ bảo hiểm đối với xã viên hợp tác xã. Xã viên hợp tác xã cũng được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội ; Continue reading

CẦN CÓ CÁC QUY ĐỊNH CHO DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG VIỆC THỰC HIỆN LUẬT CẠNH TRANH

THS. LÊ VĂN HƯNG – Trưởng Khoa Luật, Đại học kinh tế TPHCM

Cạnh tranh là một hiện tượng gắn liền với kinh tế thị trường. Thực tiễn nhiều nước đã chứng minh, nếu được kiểm soát tốt, cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế, cho công chúng tiêu dùng, vì họ có thể hưởng những dịch vụ với giá rẻ hơn và chất lượng tốt hơn. Có nhiều cách hiểu khác nhau về cạnh tranh, song tựu trung lại, có thể quan niệm : Cạnh tranh là việc các nhà kinh doanh sử dụng những phương thức khác nhau để giành ưu thế thương trường về mình so với các đối thủ khác.

Cạnh tranh là quá trình nhà kinh doanh “giành” lấy khách hàng cho mình bằng cách cung cấp những điều kiện tốt hơn so với đối thủ về giá cả, chất lượng hoặc các dịch vụ hỗ trợ khác. Pháp luật về cạnh tranh xuất hiện từ khá lâu. Công ước Pa-ri (1883) được ghi nhận là văn bản pháp lý đầu tiên đề cập đến khái niệm cạnh tranh thông qua việc quy định những hành vi cạnh tranh bất chính và biện pháp xử lý chúng. Hiện nay, ở hầu khắp các nước có nền kinh tế thị trường đều đã có Luật Cạnh tranh. Các nước có nền kinh tế chuyển đổi như Cộng hòa Liên bang Nga, Trung Quốc,… cũng đã lần lượt ban hành Luật Cạnh tranh. Continue reading

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ THEO HỢP ĐỒNG: BỒI THƯỜNG LẠ KỲ

TRÙNG KHÁNH

Sau 10 năm chờ nhận nhà trúng đấu giá, đương sự chỉ được hoàn trả tiền gốc cộng tiền lãi theo lãi suất ngân hàng. Gần mười năm nay, bà LTA (ngụ phường 4, TP Cà Mau) ăn ngủ không ngon vì bận lo nghĩ về căn nhà đã trúng đấu giá nhưng đến giờ vẫn không thấy “mặt mũi” đâu.

10 năm chưa được giao nhà

Tháng 9-1999, theo thông tin trên báo, bà A. tham gia mua đấu giá một căn nhà tại trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh. Kết quả, bà A. trúng đấu giá với giá trị căn nhà hơn 300 triệu đồng. Hơn một tháng sau, bà đã đóng đủ số tiền trên cho trung tâm theo hợp đồng.

Căn nhà mà bà A. mua vốn thuộc sở hữu của bà H. (tỉnh Cà Mau). Bà H. nợ tiền của một người khác và vụ việc được đưa đến tòa. Tháng 10-1997, TAND thị xã Cà Mau đã ra quyết định hòa giải thành theo hướng bà H. phải trả cho chủ nợ gần 70 triệu đồng. Tháng 4-1998, do đến hạn mà bà H. không tự nguyện thi hành án nên Đội Thi hành án thị xã Cà Mau đã ra quyết định kê biên, bán đấu giá căn nhà của bà H. Continue reading

BÁO CÁO ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG DỰ KIẾN CỦA LUẬT TRỌNG TÀI (Dự thảo 4)

1 – Mục tiêu:

Mục tiêu quan trọng nhất của Luật Trọng tài là tạo một cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án thuận lợi cho các bên, đặc biệt là các bên tham gia các hoạt động thương mại, đầu tư. Trong giao dịch dân sự thường này, nhất là giao dịch kinh tế thương mại, việc phát sinh tranh chấp là không thể tránh khỏi; và giải quyết nhanh chóng, hiệu quả, công bằng các tranh chấp này sẽ góp phần thúc đẩy các hoạt động dân sự, kinh tế, thương mại, đầu tư; tạo sự yên tâm cho các bên ngay từ khi mới hình thành quan hệ dân sự và cả khi có phát sinh tranh chấp.

Do vậy, việc ban hành Luật trọng tài nhằm mục tiêu của luật trọng tài nhằm khuyến khích việc giải quyết tranh chấp thông qua hệ thống trọng tài, qua đó giảm tải công việc cho hệ thống toà án. Luật trọng tài được ban hành dự kiến nhằm giảm tải khoảng 10% số lượng tranh chấp kinh tế cho toà án, chuyển sang giải quyết thông qua hệ thống trọng tài vào năm 2015.[1] Ngoài ra, dự thảo luật còn nhằm góp phần làm phát triển cả về quy mô và chất lượng của hệ thống trọng tài và các trọng tài viên ở Việt Nam.

2. Thực trạng vấn đề của hệ thống trọng tài Việt nam hiện nay và nguyên nhân.

2.1. Thực trạng vấn đề

Vấn đề lớn nhất hiện nay là trọng tài tại Việt Nam rất ít được sử dụng để giải quyết các tranh chấp đầu tư và thương mại; các hợp đồng với các bên nước ngoài nhất là hợp đồng có trị giá lớn hầu như không lựa chọn trọng tài tại Việt Nam để giải quyết tranh chấp. Các tranh chấp ở Việt nam hiện vẫn chủ yếu được giải quyết thông qua hệ thống toà án hoặc trọng tài nước ngoài. Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ: NHỮNG “GÓC KHUẤT” CẦN LÀM SÁNG TỎ

HOÀNG LONG

Cty TNHH TM – DV Mai Anh có trụ sở tại 3 bis Tôn Đức Thắng- P.Bến Nghé – Q1 – TPHCM do ông Hoàng Việt Hùng làm GĐ và bà Bùi Thị Kim Loan làm PGĐ và cty TNHH Việt An có trụ sở tại 223 Lý Tự Trọng – Q1 – TPHCM do ông Hồ Trọng Sơn làm GĐ và ông Hồ Trọng Tích làm PGĐ đã ký kết hợp đồng kinh doanh xăng dầu số 10 ngày 2/2/1998. Theo đó, Cty Việt An góp vốn 2,693 tỷ đồng (tương đương 200.000 USD), hai bên thống nhất sau khi trừ chi phí, lợi nhuận sẽ chia theo tỷ lệ 50/50. Tuy nhiên, quá trình làm ăn bị thua lỗ, trong khi hai bên chưa bàn bạc thanh lý hợp đồng thì ông Sơn đã phát đơn kiện đòi nợ ông Hùng-bà Loan và gửi tới TAND Q2.

Sau khi nhận được đơn của ông Sơn, TAND Q2 có sự phối hợp của CQĐT-VKSND TP. HCM đã ra Quyết định hoà giải số 72 ngày 11/9/2002 buộc ông Hùng, bà Loan phải trả cho ông Sơn hơn 4,5 tỷ đồng bao gồm cả gốc lẫn lãi. Bên cạnh đó, TAND Q2 còn cho kê biên nhà số 3 bis của công ty TNHH TM – DV Mai Anh để phục vụ cho việc thi hành án. 

Cho rằng việc xét xử của TAND Q2 có nhiều khuất tất, bà Loan đã gửi đơn kêu cứu tới TW và các cơ quan chức năng, nhưng vụ việc vẫn chưa được giải quyết dứt điểm. Continue reading

HÀNH PHÁP – LẬP PHÁP: CÒN NẶNG TÍNH “NGƯỜI NHÀ”

VIBONLINE – Tuần đầu tiên của kỳ họp thứ năm, QH khóa XII, vừa kết thúc với một loạt vấn đề được đặt lên bàn nghị sự, thảy đều là các vấn đề được dư luận quan tâm. Rõ ràng là QH đang ngày càng gần với vai trò đại diện cho người dân. Nhưng bên cạnh đó, những ngày họp cũng cho thấy, vẫn còn nhiều điểm phải được “chuyên nghiệp hóa” để có một QH chất lượng hơn.

Đáp ứng mong mỏi của dân

Dường như, trong lịch sử hoạt động của Quốc hội (QH) từ năm 1946 tới nay, không nhiều kỳ họp của QH thu hút sự chú ý của dân chúng như khóa XII này: suốt từ chủ trương sát nhập Hà Nội – Hà Tây tới chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên, mỗi chủ trương được đưa ra trước QH khóa XII đều là một lần được người dân nơi nơi quan tâm đặc biệt, từ quán nước tới công sở.

Chỉ mới tuần đầu tiên, kỳ họp thứ năm của QH khóa XII đã đặt lên bàn nghị sự nóng bỏng nhiều vấn đề, mà nổi lên là chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên của Chính phủ. Continue reading

SINGAPORE VỚI NHỮNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ

LÊ DUY

Singapore là một quốc gia nhỏ bé ở khu vực Đông Nam Á, nằm giữa Malaysia và Indonesia. Tổng diện tích tự nhiên là 682,7 km2, dân số 4,6 triệu người; mật độ dân số cao, nguồn tài nguyên khoáng sản không có, nông nghiệp không phát triển. Nhìn chung, nếu so sánh với các quốc gia khác trong khu vực, Singapore gặp nhiều khó khăn, khó có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, những năm gần đây Singapore có những bước tiến thần kỳ: tốc độ tăng trưởng cao, GDP bình quân đầu người thuộc nhóm đứng hàng đầu thế giới, cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống được đầu tư phát triển hiện đại, môi trường sống sạch sẽ đứng thứ nhất châu Á…

Các ngành sản xuất, kinh doanh phát triển mạnh ở đây là cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, lọc dầu, lắp ráp máy móc tinh vi, sản xuất hàng điện tử, hàng bán dẫn… Ngành thương mại và dịch vụ có nhiều ưu thế, chiếm đến 40% thu nhập quốc dân. Thời gian vừa qua Singapore cũng đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức, hoạt động đào tạo đem lại cho họ một nguồn thu không nhỏ, số lượng sinh viên, học sinh từ nhiều nước trên thế giới đến du học ở đây mỗi năm một tăng. Nhiều cơ sở đào tạo đạt chất lượng rất cao, có trường đại học của Singapore đã lọt vào tốp 50 trường đại học hàng đầu trên thế giới. Continue reading

TÌNH HÌNH BIẾN ĐỔI DÂN SỐ Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA

NGUYỄN VĂN TUÂN

Sau 15 năm (1993-2008) thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá VII về chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình, tình hình dân số nước ta đã có những thay đổi căn bản. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006, Việt Nam có khoảng 84.155.800; năm 2008 con số đó không dưới 86 triệu, là nước đông dân thứ 13 thế giới. Tuy nhiên, cùng với xu hướng biến động của dân số thế giới, dân số Việt Nam cũng đang chịu những tác động lớn trong thay đổi về mức sinh, mức chết, tình trạng già hoá và vấn đề di cư…

Mức sinh, mức chết giảm nhưng có sự khác nhau giữa các vùng

Để đo lường mức sinh, người ta dùng nhiều chỉ tiêu, thông thường nhất là “tỷ suất sinh thô”, tỷ suất này biểu thị số trẻ được sinh ra trong 1 năm, tính trung bình trên 1.000 dân. Tỷ suất sinh thô của Việt Nam năm 1957 là 44%0. Sau 50 năm đẩy mạnh kế hoạch hoá gia đình, tỷ suất này giảm xuống còn 17,2%0 năm 2007. Tuy “tỷ suất sinh thô” giảm nhiều so với dân số lớn nên số trẻ em sinh ra trong một năm hiện nay vẫn tới khoảng 1,5 triệu em. Tỷ suất sinh thô ở Việt Nam giai đoạn 1998-2007 có chiều hướng giảm, song giữa các năm có sự biến động: Năm 1999 tỷ suất sinh thô là 19,9; đến năm 2001 còn 18,6; tuy nhiên đến năm 2002 tỷ suất sinh thô lại tăng lên 19; năm 2003 giảm xuống 17,5; năm 2004 tăng lên 19,2; năm 2005 giảm xuống 18,6 và đến năm 2007 còn 17,2.

Bên cạnh đó, mức sinh rất khác nhau giữa các vùng trong cả nước. Tổng tỷ suất sinh ở Tây Nguyên (3,1 con) cao hơn rất nhiều ở miền Đông Nam bộ (1,7 con). Sự chênh lệch giữa các tỉnh còn lớn hơn: từ 1,5 con ở thành phố Hồ Chí Minh đến 3,9 con ở Kon Tum. Mặt khác, mức sinh cũng có sự khác nhau giữa thành thị và nông thôn nhưng không lớn: 2,3 con và 1,7 con.

Continue reading

QUAN ĐIỂM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ CƠ QUAN THUỘC CHÍNH PHỦ

ĐẶNG TRUNG HÀ – Vụ Pháp luật quốc tế – Bộ Tư pháp

Để đảm bảo tính năng động của hoạt động hành chính đáp ứng các yêu cầu đặt ra của đời sống kinh tế, xã hội, trong cơ cấu của Chính phủ (Nội các) của hầu hết các nước ngoài các Bộ, cơ quan ngang bộ còn tồn tại một số cơ quan trực thuộc (sau đây gọi tắt là các cơ quan thuộc Chính phủ) khác có tính chất dễ điều chỉnh, thay đổi hơn tổ chức chặt chẽ của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ. Các cơ quan này có chức năng hết sức đa dạng, có loại đảm nhiệm chức năng quản lý Nhà nước tương tự như các Bộ, cơ quan ngang Bộ, có loại chỉ đơn thuần là cơ quan hành chính – sự nghiệp, có loại là cơ quan giúp việc cho Chính phủ. Chính vì chức năng đa dạng và phong phú như vậy nên việc tổ chức loại cơ quan này ở các nước rất khác nhau. Đây có thể coi là loại cơ quan có tính đặc thù cao nhất trong các cơ quan trung ương ở các nước, nó đặc biệt phụ thuộc vào cấu trúc Nhà nước, điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội và hoàn cảnh phát triển của từng quốc gia.

I. Cơ cấu, tổ chức Cơ quan thuộc Chính phủ (Nội các) của một số nước trên thế giới.

1. Các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý hành chính Nhà nước.

Các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý hành chính Nhà nước có một số nét tương đồng so với chức năng của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, nó cũng đảm nhiệm việc quản lý trên phạm vi một lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, khác với Bộ thông thường các cơ quan này quản lý một lĩnh vực đặc thù hơn và thường được tổ chức đơn giản hơn so với cơ cấu tổ chức của các Bộ. Ở nhiều nước, cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý hành chính thường chỉ có bộ máy ở trung ương và một vài chi nhánh ở một số địa phương trọng điểm chứ không dàn trải tổ chức tới tất cả các địa phương trong phạm vi cả nước. Điển hình cho loại cơ quan này là trong thể chế hành chính của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa. Hiện tại có 17 cơ quan trực thuộc Quốc Vụ Viện[1] (cơ quan hành chính cao nhất) của Trung Quốc có chức năng quản lý hành chính, bao gồm: Tổng cục Hải quan; Tổng cục Thuế vụ quốc vụ quốc gia; Tổng cục Bảo vệ môi trường quốc gia; Tổng cục Hàng không dân dụng quốc gia; Tổng cục Phát thanh truyền hình Nhà nước; Tổng cục Thể dục thể dục thể thao; Cục Thống kê; Cục Quản lý hành chính công thương quốc gia; Cục Xuất bản tin tức quốc gia (Cục Bản quyền quốc gia); Cục Lâm nghiệp quốc gia; Cục Giám sát chất lượng kỹ thuật quốc gia; Cục Quản lý giám sát chất lượng tân dược; Cục Sở hữu trí tuệ quốc gia; Cục Du lịch quốc gia; Cục Tôn giáo quốc gia; Cục Quản lý sự vụ cơ quan Quốc vụ viện; Phòng tham sự Quốc vụ viện. Các cơ quan này có một số nhiệm vụ, quyền hạn giống với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, tuy không phải tuyệt đối giống nhau. Nhiều cơ quan như Tổng cục Thuế quốc gia, Cục Lâm nghiệp quốc gia… có cơ cấu tổ chức như một Bộ, bao gồm Văn phòng ở Trung ương và các đơn vị trực thuộc ở địa phương. Có thể thấy rằng các cơ quan thuộc Quốc vụ viện của Trung Quốc có mô hình tương tự như ở nước ta. Hiện nay, Trung Quốc đang tiến hành cải cách hành chính và có xu hướng tổ chức lại các bộ, cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Quốc vụ viện. Theo đó, các cơ quan thuộc Quốc vụ viện, đặc biệt là các cơ quan quản lý Nhà nước có xu hướng giảm, nhiều cơ quan được nâng lên thành Bộ hoặc sát nhập vào một Bộ chuyên trách, trách chồng chéo.

Continue reading

TỔNG HỢP VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG VÀ AN SINH XÃ HỘI

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 1994

 Văn bản hướng dẫn

=================================================================

CÁC LUẬT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 1994

  1. Luật 84/2007/QH11 ngày 02-04-2007 Sửa đổi, bổ sung Điều 73 của Bộ luật Lao động
  2. Luật 74/2006/QH11 ngày 29-11-2006 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động
  3. Luật 35/2002/QH10 ngày 02-04-2002 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động

=================================================================

LUẬT NGƯỜI VIỆT NAM ĐI LÀM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI THEO HỢP ĐỒNG NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT DẠY NGHỀ NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT BÌNH ĐẲNG GIỚI NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

1. Nghị định số 70/2008/NĐ-CP  ngày 4/6/2008 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bình đẳng giới

=================================================================

LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI  NĂM 2006

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

LUẬT THI ĐUA, KHEN THƯỞNG  NĂM 2003

Văn bản hướng dẫn

Luật 47/2005/QH11 ngày 14-06-2005 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi đua, Khen thưởng

=================================================================

LUẬT PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY  NĂM 2001

Văn bản hướng dẫn

=================================================================

VĂN BẢN PHÁP LUẬT DÂN SỰ (Nguồn)

=================================================================

VĂN BẢN MỚI CẬP NHẬT

1. Thông tư  số 72/2008/TT – BTC ngày 31/7/2008 Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2008 của Chính phủ về vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng các nguồn đóng góp tự nguyện hỗ trợ nhân dân khắc phục khó khăn do thiên tai, hoả hoạn, sự cố nghiêm trọng, các bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo ;

2. Nghị định số 64/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 5 năm 2008 Điều chỉnh tiền lương, tiền công đã đóng bảo hiểm xã hộiđối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định

(SOURCE: CIVILLAWINFOR TỔNG HỢP)