XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ ĐỘC LẬP TỰ CHỦ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU HOÁ

PHẠM QUỐC TRỤ – Bộ Ngoại giao

Toàn cầu hóa đã trở thành một xu thế lớn của kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế từ vài thập niên trở lại đây. Nó là một xu thế khách quan, có những tác động sâu sắc và toàn diện tới các nước và toàn bộ quan hệ quốc tế. Quá trình này sẽ tiếp tục phát triển và có ảnh hưởng lớn tới tương lai của nhân loại. Đại hội lần thứ IX Đảng ta đã nhận định : Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan, lôi cuốn nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa thúc đẩy hợp tác, vừa tăng sức ép cạnh tranh.

Toàn cầu hóa (kinh tế) là quá trình phát triển ở mức cao của các quan hệ kinh tế quốc tế, được biểu hiện chủ yếu thông qua sự gia tăng mạnh mẽ các dòng lưu chuyển của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và nhân công giữa các nước ; và là sự hình thành, phát triển của các thiết chế, tổ chức quốc tế nhằm điều tiết, quản lý các dòng lưu chuyển quốc tế này. Do vậy, toàn cầu hóa cũng có nghĩa là quá trình xóa bỏ các rào cản đối với sự lưu chuyển tự do của hàng hóa, dịch vụ, vốn, công nghệ và nhân công giữa các nước, làm cho các thị trường quốc gia mất dần biên giới, hình thành những thị trường khu vực chung và tiến tới hình thành một thị trường thống nhất trên toàn cầu. Nhìn ở góc độ phân công lao động thì có thể nói, toàn cầu hóa thực chất là sự phát triển cao và mở rộng quá trình phân công lao động trên phạm vi các khu vực và toàn thế giới.

Để phát triển trong bối cảnh như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một đòi hỏi không thể né tránh đối với các nước. Đây là con đường đi phù hợp với xu thế toàn cầu hóa, cho phép các nước tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi mà quá trình toàn cầu hóa tạo ra để phát triển. Tuy nhiên, toàn cầu hóa cũng gây ra nhiều khó khăn, thách thức lớn cho tất cả các nước, nhất là các nước đang phát triển. Vì lợi ích trước hết của chính mình, hầu hết các nước đều đã và đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng ngoài xu thế này sẽ không những không tận dụng được các cơ hội và điều kiện thuận lợi cho phát triển, mà còn tự tước đi khả năng đối phó với những thách thức do quá trình toàn cầu hóa đặt ra cho tất cả các nước, bất kể có tham gia hay không, thông qua sự hợp tác giữa các thành viên trong những cơ chế liên kết kinh tế rất đa dạng.

Continue reading

ĐÀNH PHẢI KIÊN NHẪN THÔI!

LÝ LAN

Tôi đã trở lại trạm chờ xe buýt đó để chụp một tấm hình, trong trường hợp miêu tả bằng lời của tôi không gợi được trí tưởng tượng của người đọc.

Đây là một đoạn vài chục mét ở góc đường Nguyễn Thị Minh Khai và Cách Mạng Tháng Tám. Trên hình có thể thấy lần lượt: một thùng rác công cộng màu xanh lá cây mới toanh, một gốc cây dầu cổ thụ, vỏ cây mốc thếch nứt nẻ, một trụ sắt sơn màu xanh dương cạnh một chàng trai trẻ, đó là trụ cắm bảng ghi các tuyến xe buýt dừng ở trạm này. Trụ xi măng cạnh đó là cột đèn đường, và cái trụ xanh lơ chống đỡ cái khung kiếng chữ nhật là cột điện thoại công cộng. Tiếp đến là hai gốc cây dầu nữa, một cây bị gắn tấm bảng to thông báo hay tuyên truyền gì đó, cuối cùng là cột đèn giao thông.

Chắc có người đang chau mày nghĩ xem câu đố núp ở chỗ nào. Ôi, có đố điếc gì đâu, tôi chỉ muốn ghi lại một góc đường Sài Gòn quen mà lạ, cũ mà mới.

Quen vì góc đường này tôi đi lại không biết bao nhiêu lần thuở còn là nữ sinh, rồi bẵng đi ba mươi mấy năm trời không có dịp đạp xe thong thả ngang qua ngắm trái dầu bay, bỗng dưng hôm nay tôi nhận ra mình đang đứng chờ xe buýt đúng cái chỗ mà ngày xưa có một người đứng chờ tôi đạp xe ngang qua để chạy theo! Những trụ đèn đường, điện thoại công cộng, trụ bảng xe buýt, kể cả cái thùng rác, đều là những vật mới bổ sung vào ba gốc cây dầu cũ kỹ ngày nào!

Continue reading

MẪU HỢP ĐỒNG – VĂN BẢN

 
 
 
 
 
 
 

HỢP ĐỒNG KINH DOANH

 

Hợp đồng góp vốn

 

HĐ góp vốn bằng QSDD

 

HĐ góp vốn bằng căn hộ, nhà chung cư

 

HĐ góp vốn bằng QSDD và tài sản gắn liền với đất

 

Hợp đồng hợp tác kinh doanh

 

Hợp đồng liên doanh

 

Hợp đồng tài trợ

 

Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần

 

Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần chưa niêm yết

 
 
 
 
 
 
 
 

 

TĂNG CƯỜNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM

PGS.TS. PHẠM QUỐCTRUNG

Ngày nay, tri thức đã trở thành một “nguồn của cải mới”, động lực mới tạo ra sự thịnh vượng trong xã hội. Lợi thế cạnh tranh chủ yếu của mỗi nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào khả năng phát triển và ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất. Xu thế này đã khẳng định tài sản trí tuệ và quyền sở hữu tài sản trí tuệ ngày càng trở nên quan trọng, bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) được xem là một nguyên tắc cơ bản trong sự vận động của nền kinh tế thế giới. Thực tế này cũng đặt ra yêu cầu phải gia tăng mối quan tâm tới vấn đề SHTT cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn cho mỗi quốc gia nếu muốn tồn tại và hội nhập thành công. 

Vai trò và ý nghĩa của SHTT đối với phát triển kinh tế – xã hội

Có thể khái quát vai trò của SHTT đối với phát triển kinh tế – xã hội trên những khía cạnh sau:

Thứ nhất, SHTT là nhân tố đem lại sự tăng trưởng kinh tế ngoạn mục cho chủ thể sở hữu và xã hội

Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công nghiệp phát triển, SHTT được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng của đất nước. Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ đó không những có được tỷ lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần so với các tài sản vô hình khác, mà chính người mua quyền SHTT đó và người xin cấp giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có sự bảo hộ. Việc bảo hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về quyền SHTT, nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp các hiệp định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằng việc thương mại hoá chúng, chính việc thương mại hoá các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủ thể sở hữu cũng như những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế. Ví như với việc mỗi năm có đến hàng trăm các phát minh, sáng chế mới ra đời, NOKIA không chỉ thu được lợi nhuận khổng lồ từ những sản phẩm trí tuệ mới này được cung cấp bởi chính hãng mà còn thu được nhiều tỷ USD từ việc bán bản quyền. Theo tài liệu của Tổ chức SHTT thế giới thì tổng thu nhập từ bản quyền về sáng chế trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ USD năm 1990 lên 110 tỷ USD năm 2000; riêng hãng máy tính IBM (Mỹ) năm 2000 đã thu được 1,7 tỷ USD.

Thứ hai, SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia trong hội nhập

Hiện nay, với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng lực SHTT là một trong những năng lực nội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững. Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càng nhiều quyền SHTT thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao.

Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thị trường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánh giá đúng vị trí quan trọng của SHTT. Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc tế về SHTT nhằm xây dựng hệ thống SHTT có hiệu quả. Điều đó làm cho hoạt động SHTT xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tới chuẩn mực chung của thế giới.

Continue reading

KINH TẾ VIỆT NAM QUA CÁC CHỈ SỐ PHÁT TRIỂN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

GS.TS. NGUYỄN THỊ CÀNH

Kết quả hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng và Nhà nước đã mang lại cho VN nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế, giảm đói nghèo, nâng cao mức sống cho người dân. Chính sách đổi mới cũng đã đưa nền kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới. Trong bối cảnh VN là thành viên của khối ASEAN, tham gia AFTA và APEC, thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại với Mỹ, trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới (WTO), thị trường xuất khẩu của VN ngày càng mở rộng, xu hướng các nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào VN ngày càng tăng qua các kênh đầu tư trực tiếp và gián tiếp…

Tất cả những nhân tố trên đã tạo điều kiện cho kinh tế VN phát triển. Đây cũng là cơ hội tốt để VN thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển đất nước là đến năm 2020 về cơ bản, trở thành một nước công nghiệp. Tuy nhiên, quá trình hội nhập, nền kinh tế VN cũng gặp nhiều khó khăn và thách thức đó là nhiều chỉ số phát triển còn thấp so với yêu cầu, tình hình khủng hoảng tài chính Mỹ và thế giới cũng có tác động tiêu cực đến nền kinh tế VN. Trong giới hạn của bài viết này, tác giả muốn trình bày bốn vấn đề chính đó là: Thứ nhất, tổng quan về nền kinh tế VN qua các chỉ số phát triển. Thứ hai, đánh giá các tác động tích cực của quá trình hội nhập đến phát triển kinh tế VN. Thứ Ba, những hạn chế của nền kinh tế VN và các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính thế giới đến các mục tiêu phát triển. Cuối cùng, kết luận và kiên nghị. Phương pháp phân tích gồm cả định tính mô tả thống kê và định lượng qua các công thức tính toán, mô hình kinh tế lượng. Số liệu sử dụng trong phân tích chủ yếu lấy từ số liệu thứ cấp-số liệu thống kê qua các nguồn như Niên giám thống kê VN, số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), Tổ chức Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP), và Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO).

1. Tổng quan về nền kinh tế VN qua các chỉ số phát triển

Gần 20 năm phát triển (1990-2008) tốc độ tăng trưởng kinh tế của VN liên tục giữ ở mức cao, tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 1990-2008 là 7,56%/năm. Tốc độ tăng kinh tế cao, trong khi tốc độ tăng dân số được kìm hãm, đã dẫn đến mức thu nhập GDP bình quân trên đầu người mỗi năm một tăng. Nếu năm 1990, GDP trên đầu người của VN chỉ khoảng trên 100 USD, thì đến năm 2007, GDP/người đã đạt 835 USD, tăng trên 8 lần. Năm 2008, GDP trên đầu người ước tính đạt khoảng 1.047 USD/người (xem Bảng 1). Với mức thu nhập này, VN lần đầu tiên thoát ra khỏi nhóm nước nghèo (nhóm nước có thu nhập thấp nhất). Theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới, phân nhóm các nước theo mức thu nhập gồm:

Continue reading

THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM VIỆT NAM: LÀM MỚI ĐỂ VƯƠN LÊN

HOÀNG LIÊM – THU TUYẾT

Sau hơn 2 năm gia nhập WTO, thị trường bảo hiểm (BH) Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, các sản phẩm BH ngày càng đa dạng và được nâng chất rõ rệt. Dĩ nhiên, sự cạnh tranh gay gắt đòi hỏi các doanh nghiệp (DN) trong lĩnh vực này luôn hoàn thiện để tồn tại và phát triển.

“Chiếc bánh” thị phần còn lớn

Tính đến cuối năm 2008, nước ta có 26 DNBH phi nhân thọ, 11 DNBH nhân thọ, 1 DN tái BH và 10 DN môi giới BH hoạt động với tổng vốn chủ sở hữu gần 18.000 tỷ đồng.

Đồng thời, trên thị trường hiện có hơn 100 loại sản phẩm BH phi nhân thọ, khoảng 60 sản phẩm BHNT đang được chào bán.

Nếu như năm 2003, doanh thu phí BH toàn thị trường đạt mức 10.390 tỷ đồng thì đến năm 2008, đạt 19.600 tỷ đồng. Năm 2003, doanh thu từ hoạt động tái đầu tư của các DNBH đạt 1.046 tỷ đồng thì đến năm 2008 đạt 6.014 tỷ đồng.

Hoạt động tái BH cũng có những chuyển biến rõ nét theo hướng tích cực với cơ cấu phí nhận tái BH từ thị trường nước ngoài đang có xu hướng tăng lên và cơ cấu phí nhượng tái BH ra nước ngoài đang có xu hướng giảm đi.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, trong năm 2008, các DNBH đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế gần 59.000 tỷ đồng, tăng hơn 10.000 tỷ đồng so với năm 2007. Đồng thời giải quyết bồi thường BH 6.400 tỷ đồng, đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ chức, cá nhân không may gặp rủi ro, hoạn nạn.

Continue reading

CHÍNH SÁCH CÔNG

PGS.TS LÊ CHI MAI

Thuật ngữ "chính sách" được sử dụng rộng răi trên sách báo, trên các phương tiện thông tin đại chúng và trong đời sống xă hội. Hiểu một cách giản đơn, chính sách là chương tŕnh hành động do các nhà lănh đạo hay nhà quản lư đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của ḿnh.

Theo James Anderson: "Chính sách là một quá tŕnh hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm".

Các chính sách có thể được đề ra và thực hiện ở những tầng nấc khác nhau: Chính sách của Liên hiệp quốc, chính sách của một đảng, chính sách của Chính phủ, chính sách của chính quyền địa phương, chính sách của một bộ, chính sách của một tổ chức, đoàn thể, hiệp hội, chính sách của một doanh nghiệp…

Các tổ chức, các doanh nghiệp, các hiệp hội, đoàn thể… có thể đề ra những chính sách riêng biệt để áp dụng trong phạm vị một tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội hay đoàn thể đó. Các chính sách này nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra cho mỗi tổ chức, chúng chỉ có hiệu lực thi hành trong tổ chức đó, v́ vậy, chúng mang tính chất riêng biệt và được coi là những "chính sách tư", tuy trên thực tế khái niệm "chính sách tư" hầu như không được sử dụng.

Những chính sách do các cơ quan hay các cấp chính quyền trong bộ máy nhà nước ban hành nhằm giải quyết những vấn đề có tính cộng đồng được gọi là chính sách công. Khoa học chính sách nghiên cứu các chính sách nói chung, nhưng tập trung chủ yếu vào việc nghiên cứu các chính sách công nhằm mục tiêu nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lư của Nhà nước.

Continue reading

DỊCH VỤ CÔNG

PGS.TS. LÊ CHI MAI

Theo từ điển Le Petit Larousse: "Dịch vụ công là hoạt động v́ lợi ích chung, do một cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm". Định nghĩa này đưa ra cách hiểu chung về dịch vụ công, song ở đây không có sự phân biệt giữa Nhà nước và tư nhân trong việc cung ứng dịch vụ công, do đó không làm rơ được tính chất "công" của dịch vụ này.

Jean-Philippe Brouant và Jacque Ziller: "Một dịch vụ công thường được định nghĩa như một hoạt động do ngành tài chính đảm nhiệm để thỏa măn một nhu cầu về lợi ích chung". Các tác giả này phân tích rằng, ban đầu chỉ có ngành hành chính đảm trách các dịch vụ công. Nhưng các nhiệm vụ về lợi ích chung ngày càng nhiều gấp nội đă dẫn tới việc một số tư nhân cũng tham gia vào việc cung ứng các dịch vụ này. Yếu tố về tổ chức (người trực tiếp cung ứng dịch vụ công) không c̣n là yếu tố quyết định để biết xem một dịch vụ có phải là dịch vụ công hay không. Từ thực tế đó, vấn đế đặt ra không phải ai là người trực tiếp cung ứng một dịch vụ phục vụ lợi ích chung, mà là ở chỗ ai chịu trách nhiệm cuối cùng về việc cung ứng dịch vụ này cho xă hội. Từ đó, các tác giả cho rằng, "một hoạt động lợi ích chung được một pháp nhân công quyền đảm nhiệm được coi là một dịch vụ công" – "đảm nhiệm" ở đây được hiểu như trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ công. Như vậy, một hoạt động v́ lợi ích chung do một tư nhân đảm trách không được xem là một dịch vụ công, trừ phi có sự tác động của Nhà nước đến việc cung ứng dịch vụ đó.

Trong trường hợp này, ngành hành chính luôn giữ quyền cũng như nghĩa vụ kiểm tra và theo dơi. Trên thực tế, không có các tiêu chí pháp lư cố định để xác định trong số các hoạt động v́ lợi ích chung, hoạt động nào có tính chất dịch vụ công. Theo các tác giả, có thể đưa ra các tiêu chí như sau:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: MUA NHÀ 3 NĂM VẪN CHƯA ĐƯỢC Ở

VĂN ĐOÀN

Phía chủ bán lúc nói hợp đồng giả mạo, lúc nói làm sai thủ tục khiến vụ tranh chấp bị đẩy đến nhiều cơ quan khác nhau. Đầu năm 2006, ông Trương Quang Lượng (ngụ xã Phú Sơn, huyện Tân Phú, Đồng Nai) có mua của ông K. một căn nhà với diện tích đất gần 400 m2. Đây là căn nhà mà ông K. đã mua lại của người chủ trước đó. Sau khi hoàn tất các thủ tục mua bán, ông Lượng đã được UBND huyện Tân Phú cấp giấy đỏ.

Rắc rối phát sinh

Đáng nói là nhà, đất trên đã được người chủ đầu cho thuê và nay thì người thuê không chịu giao lại cho ông Lượng. Theo người thuê, người chủ đầu mượn của ông hơn 60 triệu đồng và có viết giấy cam kết nếu không trả được nợ sẽ bán nhà, đất đó cho ông. Nhưng rồi chủ đầu đã không giữ đúng cam kết mà lại bán cho ông K. và ông K. bán cho ông Lượng… Do UBND xã Phú Sơn hòa giải không thành nên vụ tranh chấp được chuyển đến TAND huyện.

Cuối tháng 5-2006, TAND huyện Tân Phú đã thụ lý vụ án. Tòa này xác định ông K. là nguyên đơn, người chủ đầu là bị đơn, người thuê nhà và ông Lượng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Thật bất ngờ là khi được triệu tập đến tòa, người đã bán nhà, đất cho ông K. phủ nhận việc từng mua bán nhà, đất với ông K. và cho rằng hợp đồng trên là giả mạo, đồng thời đề nghị TAND huyện giám định chữ ký trên hợp đồng. Song theo kết quả giám định, chữ ký trên bản hợp đồng đúng là của người chủ trước chứ không phải giả mạo như ông đã nói.

Nhưng rồi ông Lượng chờ quá lâu mà vẫn không thấy tòa xử. Tháng 11-2007, ông Lượng liên hệ với tòa thì được biết do người thuê nhà khiếu nại việc chuyển nhượng nhà, đất giữa ông K. và chủ trước không đúng quy định nên UBND huyện đã yêu cầu tòa tạm ngưng giải quyết để thanh tra.

Continue reading

SỐNG CHUNG VỚI HÀNG TRUNG QUỐC?

KIM HẠNH

Trung Quốc là nhà máy của toàn thế giới và hàng Trung Quốc có mặt khắp các châu lục. Chúng ta chắc chắn sẽ còn sống chung với hàng Trung Quốc và việc hợp tác kinh tế với họ, qua lại với họ về sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là điều không thể tránh khỏi. Song đó là một chiến lược lớn cần đề cập căn cơ, quan niệm tỉnh táo và có tầm nhìn, định hướng lâu dài, hai bên cùng có lợi trên cơ sở tôn trọng nhau chứ không được áp đặt, lấn lướt giành phần khôn, phần lợi về mình.

Một chiến lược giao thương và hợp tác kinh tế với Trung Quốc trong tình hình mới hiện nay cần được bàn luận trong toàn dân để Nhà nước trên cơ sở đó mà có quyết sách hợp lòng dân. Khi có quyết sách hợp lòng dân thì Nhà nước ta mới đủ sức mạnh đàm phán và làm ăn với anh bạn lớn, đủ sức đương đầu vượt qua những lá lay, lấn lướt thường thấy lâu nay.

Riêng về vấn đề “nhà nhà đánh hàng, bán hàng Trung Quốc” hiện đang xảy ra thì theo tôi có hai biện pháp cần quan tâm sớm:

1. Doanh nghiệp Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam cần có đầy đủ thông tin về đối sách Trung Quốc đang sử dụng cho thị trường Việt Nam, về chiến lược lâu dài cũng như các sách lược, các chiêu thức, kỹ xảo của Trung Quốc đang áp dụng cho Việt Nam.

Họ có đội ngũ nghiên cứu giỏi, được trang cấp mọi phương tiện và có nhiều kênh thông tin cấp thời, hiệu quả cho doanh nghiệp. Một công ty dệt may vừa đi mua nguyên phụ liệu ở Trung Quốc kể rằng đã bị nhiều nhà bán lẻ Trung Quốc chặn hỏi, phải chăng Nhà nước Việt Nam đang có chiến dịch đưa hàng dệt may Việt Nam về tranh chỗ của hàng dệt may Trung Quốc ở nông thôn Việt?

Continue reading

THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN VỚI TIỀN TRÚNG THƯỞNG: VẪN CÒN NHIỀU TRANH CÃI

LINH LÂM

Luật Thuế thu nhập cá nhân đã quy định rõ: Thu nhập tính thuế đối với trúng thưởng trong các hình thức cá cược, casino đối với phần vượt trên 10 triệu đồng áp dụng theo biểu thuế suất toàn phần là 10%. Tuy nhiên trên thực tế với những đặc điểm riêng có của trò chơi mà việc quản lý thuế TNCN đối với người trúng thưởng casino và máy chơi bạc tự động đang gặp nhiều vướng mắc.

Theo thông lệ quốc tế thì người thắng bạc không phải chịu thuế TNCN. Chính vì vậy, khi các casino của TP HCM thực hiện khấu trừ thuế TNCN thì người chơi đã tranh cãi, phản ứng gay gắt và rất nhiều khách chơi đã bỏ đi nhiều làm doanh thu tại các CLB giảm sút rõ rệt. Thực tế này đặt ra nhiều vấn đề phải cân nhắc khi triển khai thuế TNCN.

Thứ nhất, Luật Thuế TNCN sử dụng khái niệm “thu nhập trúng thưởng” chung cho tất cả các loại hình: xổ số, khuyến mãi, cuộc thi có thưởng, cá cược và casino. Tuy nhiên trên thực tế, khái niệm “trúng thưởng” không phải lúc nào cũng đúng với bản chất của từng loại hình. Đối với người chơi xổ số với nguyên tắc 1 ngày quay số 1 lần thì có thể phân định được ranh giới được – thua rõ ràng của từng lần mua xổ số. Hơn nữa, giá trị phải bỏ ra để mua xổ số thường rất nhỏ để mong đợi giải thưởng rất lớn, nên khái niệm “trúng thưởng” mới đúng ý nghĩa. Còn đối với việc chơi bạc, người chơi thường phải bỏ ra số tiền rất lớn và hết cuộc chơi thường là thua, mặc dù có thể có vài lần thắng. Nhưng vài lần thắng trong một cuộc chơi thì không thể gọi là “trúng thưởng”. Bởi vậy, nếu áp dụng thu thuế ngay đối với từng lần chơi, tức là phải yêu cầu khách dừng lại để thu thuế thì khách chơi sẽ phản ứng vì chắc gì lần chơi sau họ thắng.

Continue reading

TÍNH NGHIÊM MINH CỦA PHÁP LUẬT

GS. TƯƠNG LAI

Một trong những thành tựu quan trọng nhất của nước ta từ đổi mới là sự vận hành guồng máy xã hội đã từng bước dựa vào pháp luật ghi nhận trình độ văn minh của một xã hội hiện đại mà chúng ta đang xây dựng. Nói “từng bước” là vì tinh thần thượng tôn pháp luật của người cầm quyền cũng như người công dân đang còn có nhiều trở lực. Quả là còn xa để biến một ước vọng tốt đẹp sau đây thành hiện thực: “Có cách gì làm cho người cầm quyền tăng thêm được tri thức về những việc họ phải quản lý và làm cho người thừa hành thêm hứng thú khi họ tuân lệnh”.

Ước vọng đó được đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ XVIII xem ra vẫn đang trên một hành trình quá gập ghềnh. Những bức xúc của công luận về cách hành xử của các cơ quan pháp luật trong một số vụ án cho thấy tính nghiêm minh của pháp luật chưa được thực sự tôn trọng. Nguyên nhân do đâu? Do “tri thức về quản lý” hay là còn do những nguyên nhân nào khác nữa? Trả lời thật tường minh về điều này xem ra không hề đơn giản! Chẳng hạn như, đã có không ít “kịch bản” được dàn dựng xoay quanh một vụ án mà những lời đồn đoán, không biết thực hư, rằng do chúng động chạm quá nhiều. Người ta sợ “rút dây thì động rừng”, cây con dễ chặt nhưng cây lớn khó đốn vì rễ nó chằng chịt, lại chui rất sâu, chỉ riêng cây đổ cũng rúng động một góc rừng! Ấy vậy mà,“trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” vốn là sức mạnh của luật pháp, thể hiện ý chí và khát vọng muôn đời của người dân dưới bất cứ thể chế chính trị nào. Không thực hiện được điều đó thì rồi sẽ còn có nhiều “kịch bản” điêu luyện được dàn dựng để diễn ra nghịch lý của pháp luật từng bị lên án từ xa xưa, nơi “ruồi to chui lọt, ruồi con mắc lưới”.

Để góp phần trao đổi về nỗi bức xúc của công luận, xin không phải nói về những sự kiện cụ thể vì người viết như “ếch ngồi đáy giếng” không thể hiểu tất cả những tình tiết phức tạp của sự kiện và diễn biến, chỉ xin được cung cấp một số hiểu biết chung vềtính nghiêm minh của pháp luật ngõ hầu tham gia một cách gián tiếp tháo gỡ những bức xúc nói trên.

Continue reading

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM QUA CÁC CUỘC ĐIỀU TRA GẦN ĐÂY

GS.TSKH. NGUYỄN QUANG THÁI

Có thể nói, các doanh nghiệp (DN) là một động lực của nền kinh tế, dù đó là doanh nghiệp nhà nước (DNNN), DN ngoài Nhà nước hay DN có vốn đầu tư nước ngoài. Các cuộc điều tra DN gần đây do Tổng Cục Thống kê tiến hành điều tra toàn diện các DN đến năm hết 2006 và một số cuộc điều tra bổ sung 2007 khi Việt Nam đã trở thành nước thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cho thấy một số tín hiệu đáng ghi nhận, có thể từ đó suy nghĩ về kế sách phát triển trong tương lai.

Số lượng DN tăng nhanh

DN Việt Nam đang phát triển nhanh chóng trong quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển. Theo điều tra toàn diện, đến ngày 31/12/2006, tức là khi Việt Nam chuẩn bị gia nhập chính thức WTO, tổng số DN cả nước có đăng ký và thực sự hoạt động, đóng thuế là 131.332 DN, chưa tới 2/3 số DN đã đăng ký. Trong số các DN này, có 3.720 DNNN (cả Trung ương và địa phương), giảm mạnh trong quá trình “cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê” (từ mức 4.597 DN cuối năm 2004). Các DN ngoài Nhà nước đã tăng nhanh từ mức 84.003 DN cuối năm 2004 lên 105.167 DN cuối năm 2005 và 123.392 DN cuối năm 2006 (bình quân tăng hơn 20%/năm, bao gồm các DN tập thể, DN tư nhân, Công ty hợp danh, Công ty TNHH tư nhân, Công ty cổ phần có vốn Nhà nước và Công ty cổ phần không có vốn Nhà nước). Các DN có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục tăng nhanh, từ 3.156 DN cuối năm 2004, lên 3.697 DN cuối năm 2005 và đạt 4.220 DN cuối năm 2006, với tốc độ tăng trưởng đạt bình quân trên 15%/năm.

386722

Continue reading

SỬA LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ ĐỂ HỢP CHUẨN MỰC QUỐC TẾ

XUÂN BÁCH

Bộ luật Dân sự có hiệu lực ngày 1-1-2006, Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực ngày 1-7-2006 đã tạo hành lang pháp lý an toàn khuyến khích các hoạt động sáng tạo và bảo hộ thành quả của lao động sáng tạo. Tuy nhiên, sau hai năm thi hành, Luật Sở hữu trí tuệ đã bộc lộ một số thiếu sót, đặc biệt là những tồn tại liên quan đến các chuẩn mực quốc tế.

Trong phiên họp toàn thể tại hội trường sáng nay, Bộ trưởng Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh (ảnh bên) đã trình bày trước Quốc hội những điểm hạn chế của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành. Theo đánh giá chung của Tờ trình thì sau hai năm thi hành Luật Sở hữu trí tuệ, nhận thức của các đối tượng có quyền và nghĩa vụ liên quan đã được nâng lên một bước thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục và thực thi pháp luật. Tuy nhiên, ý thức chấp hành pháp luật của nhiều tổ chức, cá nhân đang là vấn đề nổi cộm, thách thức đối với hoạt động thực thi, đặc biệt là bên khai thác sử dụng các quyền sở hữu trí tuệ. Nhiều cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp nhà nước chưa gương mẫu chấp hành Luật Sở hữu trí tuệ.

Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh cho rằng về cơ bản, Luật Sở hữu trí tuệ và các văn bản hướng dẫn đã đáp ứng được nhu cầu bảo hộ tại quốc gia và hội nhập quốc tế. Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của WTO vào ngày 11-1-2007. Tuy nhiên, việc bảo hộ chưa đạt kết quả như mong muốn.

Hầu hết các lĩnh vực đều có vi phạm, ở một số lĩnh vực vi phạm nghiêm trọng như: làm hàng nhái, hàng giả, sao chép bản ghi âm, ghi hình, sách, chương trình máy tính; thu nhận tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã mã hóa, môi trường kỹ thuật số (báo điện tử, trang Web, dịch vụ truyền thông). Một số quốc gia, tổ chức, cá nhân nước ngoài đã đề cập đến tình hình vi phạm này và yêu cầu sớm được cải thiện. Theo chuyên gia của WIPO thì việc thực thi có hiệu quả là vấn đề còn hạn chế tại các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Continue reading

CẦN PHÂN ĐỊNH RÕ THẾ NÀO LÀ ĐỀ TÀI KHOA HỌC

GS. HOÀNG TỤY

Tôi cho rằng, việc đầu tiên chúng ta cần phải làm là cần phân định rõ thế nào là nghiên cứu khoa học và thế nào là nghiên cứu nghiệp vụ của bản thân từng cơ quan. Ví như, cái bàn và cái ghế đều quan trọng, chúng ta đều cần cả. Nhưng đáng lẽ cái gọi là cái bàn thì chúng ta lại gọi là cái ghế, rồi chúng ta lại than phiền không có chỗ mà viết dù có đủ sách vở, bút giấy. Tình trạng của chúng ta cũng giống như vậy.

Tôi đã tham gia nhiều hội nghị về các đề tài khoa học cấp Nhà nước của một số ngành. Theo tôi, những cái gọi là đề tài khoa học ấy thực ra thuộc về chức trách, nhiệm vụ của họ. Chẳng hạn, làm giáo dục thế nào cho tốt thì đấy là công việc mà cơ quan lãnh đạo giáo dục cần phải nghiên cứu. Nhưng rồi, việc đó của họ lại thành một đề tài khoa học cấp Nhà nước, được cấp kinh phí, theo tôi dự đoán là khoảng gấp mười, gấp trăm các đề tài nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhiều cơ quan khác cũng có tình trạng đó. Họ đã được Nhà nước cấp cho bao nhiêu phương tiện để làm nhiệm vụ của mình, nhưng rồi họ lại “biến” nhiệm vụ đó thành không biết bao nhiêu đề tài nghiên cứu (vì chúng ta quản lý không minh bạch nên khó mà biết được số lượng thế nào). Chẳng hạn như việc nghiên cứu, giảng dạy và viết sách giáo khoa là việc hết sức quan trọng cho giáo dục. Việc đó cần được Bộ Giáo dục khuyến khích và có kinh phí khuyến khích. Nhưng việc đó là thuộc Bộ Giáo dục. Về phương diện khoa học, không thể coi sách giáo khoa là một công trình khoa học được. Trừ khi trong sách giáo khoa đó có nhiều điểm mới về khoa học thực sự có thể coi là công trình khoa học.
Tôi rất thấy làm lạ khi có nhà báo đưa cho tôi một tập các đề tài khoa học của thành phố Hà Nội, trong đó, nhiều đề tài đọc đầu đề lên đã thấy không đâu trên thế giới này coi là đề tài khoa học. Đấy là ở cấp thành phố. Ở cấp Bộ, tôi chắc cũng có nhiều trường hợp như thế. Tôi dự tính đến 70-80% kinh phí khoa học là để cấp cho các “đề tài” kiểu đó. Còn lại khoảng 20-30% cấp cho đề tài khoa học công nghệ. Bản thân tôi rất coi trọng tất cả các công trình nghiên cứu nghiêm túc ở tất cả các ngành. Tôi không gộp những cái đó vào đây, nhưng quả thật có nhiều công trình không có một giá trị gì cả. Đã vậy lại nhận kinh phí gấp trăm gấp ngàn lần các đề tài khác.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: HỢP ĐỒNG TAY LẠI “MẠNH” HƠN “GIẤY ĐỎ”

VĂN ĐOÀN

Theo viện kiểm sát, tòa sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Chuyện nghe có vẻ trái tai trên đang xảy ra với ông R., ngụ phường Vĩnh Trung, quận Thanh Khê, TP Đà Nẵng.

Tranh chấp 35 m2 đất ngoài hợp đồng

Gửi thư đến Báo Pháp Luật TP.HCM, ông R. cho biết: Tháng 3-1999, ông R. có mua của ông Đ. (ngụ cùng địa phương) một miếng đất ở có diện tích gần 150 m2. Để né bớt tiền thuế, hai bên thỏa thuận không đưa 35 m2 đất phía trước nhà vào hợp đồng mua bán.

Tuy chưa đi công chứng và chưa làm thủ tục sang tên nhưng vì đã giao đủ tiền nên ông R. vẫn được ông Đ. giao đất. Sau đó, ông R. đã cải tạo lại nhà, xây tường xung quanh mà không bị gia đình ông Đ. phản đối. Năm 2000, khi nghe nói quy định thuế đã thay đổi, hai bên làm lại hợp đồng mua bán mới và lần này hai bên chỉ ghi diện tích nhà, không ghi diện tích khuôn viên đất. Đến tháng 12-2000, ông R. được UBND TP Đà Nẵng cấp “giấy đỏ” với gần 150 m2 đất.

Về phía ông Đ., sau khi bán bớt một phần đất thì ông còn lại 175 m2 đất. Năm 2007, ông Đ. và vợ là bà T. được UBND quận Thanh Khê cấp “giấy đỏ” cho phần đất này. Vụ việc tưởng êm xuôi cho đến khi ông Đ. qua đời vào đầu năm 2008. Bấy giờ, bà T. và các con đã dùng hợp đồng tay năm 1999 để khởi kiện ông R. đòi lại 35 m2 đất mà theo họ ông Đ. đã nhận dư.

Ngày 9-1-2009, TAND quận Thanh Khê mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án. Cho rằng hai bên đã mua bán không đầy đủ diện tích, TAND quận này xử buộc ông R. thanh toán cho bà T. 224 triệu đồng là giá trị của 35 m2 đất. Không đồng ý với cách xét xử nói trên, ông R. đã kháng cáo.

Sai hình thức lẫn nội dung

Ngày 12-2, VKSND TP Đà Nẵng cũng đã có văn bản kháng nghị bản án sơ thẩm với lý do TAND quận Thanh Khê có nhiều vi phạm nghiêm trọng trong quá trình tố tụng.

Theo VKSND TP Đà Nẵng, việc các con bà T. viết giấy ủy quyền cho bà T. khởi kiện ông R. nhưng lại không cung cấp giấy báo tử của ông Đ. là không đúng quy định. Chưa hết, án sơ thẩm của TAND quận Thanh Khê còn xác định không rõ ràng tư cách tham gia tố tụng của tám người con của bà T. khi không nêu rõ họ là đồng nguyên đơn.

Đáng nói hơn nữa, bản án sơ thẩm đã căn cứ vào hợp đồng mua bán nhà năm 1999 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. là không có cơ sở. Bởi lẽ hợp đồng đó không có giá trị pháp lý vì không được công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp có thẩm quyền. Hợp đồng chỉ có chữ ký của ông Đ. (đại diện bên bán) và ông R. (đại diện bên mua) mà không có chữ ký của vợ ông Đ. và vợ ông R. Ngoài ra, hợp đồng còn vi phạm quy định về hình thức khi chỉ ghi năm mà không ghi ngày, tháng.

Lại nữa, án sơ thẩm còn bỏ quên một nội dung rất quan trọng, đó là UBND TP Đà Nẵng đã cấp “giấy đỏ” cho gia đình ông R. với diện tích gần 150 m2. Khi cấp “giấy đỏ” này, UBND TP Đà Nẵng đã dựa vào biên bản xác định hiện trạng ranh giới, mốc giới thửa đất được Sở Địa chính-Nhà đất lập năm 2000 thể hiện ông R. đang sử dụng gần 150 m2 đất và không bị tranh chấp. Mặt khác, hồ sơ xin cấp “giấy đỏ” của ông Đ. lập sau đó (năm 2006) cũng thể hiện ông Đ. chỉ còn lại 175 m2 đất và không hề có 35 m2 đất tranh chấp.

Từ các sai phạm nêu trên, VKSND TP Đà Nẵng đã đề nghị TAND TP Đà Nẵng xét xử phúc thẩm vụ án theo hướng sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, bác toàn bộ đơn khởi kiện của bà T.

Tại phiên xử phúc thẩm ngày 29-6, TAND TP Đà Nẵng cho rằng án sơ thẩm đã xử đúng. Bởi lẽ ông R. không xuất trình được chứng cứ thể hiện ông đã trả tiền cho 35 m2 đất nguyên thuộc quyền sử dụng của ông Đ. Tòa phúc thẩm đã bác kháng nghị của VKSND Đà Nẵng và giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Theo VKSND TP Đà Nẵng, án phúc thẩm xử không hợp lý. Vì không có căn cứ để buộc ông R. phải trả lại 35 m2đất khi gia đình ông Đ. đã từ bỏ quyền sử dụng số đất này kể từ khi ký tứ cận cho ông R. làm giấy đỏ.

VKSND TP Đà Nẵng đã gửi văn bản đề nghị VKSND tối cao kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm để hủy cả hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm trên và đình chỉ giải quyết vụ án.

HỮU KHÁ

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/news/ban-doc/view.aspx?news_id=254754

THÔNG TIN CẬP NHẬT:

Ngày 26/6/2009, TAND TP Đà Nẵng đã tiến hành xét xử phúc thẩm và đã  xử buộc ông R. thanh toán cho vợ con ông Đ. 224 triệu đồng là giá trị của 35 m2 đất. Lý do: ông R. không xuất trình được chứng cứ thể hiện ông đã trả tiền mua 35 m2 đất nguyên thuộc quyền sử dụng của ông Đ.

Ngày 11/9/2009, VKSND tối cao đã có văn bản kháng nghị bản án phúc thẩm trên theo trình tự giám đốc thẩm. Theo viện này, khi làm hồ sơ xin cấp giấy đỏ, vợ chồng ông Đ. không kê khai phần đất tranh chấp. Điều này cho thấy ông Đ. đã bán số đất này cho ông R. Ông R. đã sử dụng ổn định, được cấp giấy đỏ nên việc tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm buộc ông R. trả lại cho vợ ông Đ. giá trị 35 m2 đất bằng tiền là chưa đủ căn cứ.

Ngoài ra, tòa phúc thẩm cũng đã vi phạm luật định khi không ra quyết định thành lập hội đồng định giá mà lại dùng kết quả định giá của một công ty bên ngoài với nguyên đơn để buộc ông R. thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn.

HỮU KHÁ – BÁO PLTPHCM

LUẬT PHÁP CÁC NƯỚC: ĐƯỢC CẢI BIÊN TÁC PHẨM NẾU GÂY CƯỜI

NGUYỄN HẢI VÂN (Pháp)

Sửa đổi lời bài hát, biếm họa tranh của các họa sĩ, đóng nhại nhân vật của một tác phẩm sân khấu… là chuyện thường thấy trong sinh hoạt đời thường. Những chế, nhại này xét theo vẻ bề ngoài như là vô thưởng vô phạt, vì chủ yếu cũng chỉ để vui cười. Thông thường, ít ai quan tâm đến khía cạnh pháp lý của hành vi này. Trong chừng mực các quy định pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ của VN, cải biên tác phẩm nghệ thuật chính là đang xâm phạm quyền tác giả, chí ít là quyền về nhân thân của tác giả.

Tạo sự vui vẻ cho công chúng

Pháp luật một số nước trên thế giới cho phép cải biên và có những quy định chặt chẽ cụ thể trong luật hoặc trong án lệ. Xin giới thiệu một ví dụ trong Luật sở hữu trí tuệ của Pháp. Luật này quy định khi một tác phẩm được công bố, tác giả không thể ngăn cấm việc nhại, chế, cải biên tác phẩm đó bởi vì tuân theo quy luật cần thiết, tính đa dạng của sở thích.

Tác phẩm cải biên khác với tác phẩm gốc có thể là do có thêm tính khôi hài hay tính phê phán (trên tinh thần xây dựng). Nếu cải biên dựa trên cơ sở quyền tự do bày tỏ ý kiến mà làm tổn hại, đôi khi nghiêm trọng, đến quyền của tác giả về tài sản cũng như tinh thần (nhân thân) thì vẫn được cho phép như một ngoại lệ.

Khi cải biên, cần tuân thủ một số điều kiện. Ðó là thiện chí tạo sự vui vẻ cho công chúng, do đó tác phẩm cải biên không thể gây buồn phiền. Nói cách khác, mục đích gây cười phải được thể hiện thật rõ ràng và đặc biệt phải tránh xa sự phỉ báng. Nhìn ở góc độ lập pháp, thiện chí này được coi là điều kiện cần để thực hiện cải biên. Xét theo các án lệ, khi mọi hành vi bắt chước các tác phẩm nghệ thuật gây cười được sẽ không bị chế tài. Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ THƯƠNG HIỆU DOANH NGHIỆP

VÕ HƯƠNG

Thời gian trước đây, khi nói về việc xây dựng và phát triển một doanh nghiệp, người ta hay nói đến mục tiêu tiên quyết là lợi nhuận. Nhưng ngày nay đã có nhiều lập luận được đưa ra phản đối lại quan điểm trên. Nhiều chuyên gia cho rằng nguyên nhân để một doanh nghiệp có thể tồn tại hàng trăm năm, nối tiếng ở hàng trăm quốc gia và giữ được lòng mến mộ của hàng triệu khách hàng, đó là Thương hiệu doanh nghiệp và nó đã trở thành một yếu tố cơ bản nhất quyết định sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.

Với Việt Nam, một quốc gia đang phát triển và mới bước vào quá trình hội nhập quốc tế, nhưng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đã nhận ra vai trò của thương hiệu trong sự phát triển của doanh nghiệp. Chính vì lý do đó mà ta có thể tự hào khi nhìn thấy các sản phẩm thương hiệu “cà phê Trung Nguyên” được bày bán nhiều nơi trên thế giới, logo “Vietnam Airline” được nhiều người khách nước ngoài nhận biết, và biểu tượng SSI của Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn được nhiều nhà đầu tư tài chính nước ngoài biết đến,…

Tuy nhiên, ở một bộ phận doanh nghiệp khác của Việt Nam, việc xây dựng và bảo vệ thương hiệu chưa được quan tâm đúng mức trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Bài viết này xin được cung cấp một cái nhìn sâu hơn về thương hiệu doanh nghiệp, qua đó có thể đóng góp thêm ý kiến về việc xây dựng và phát triển thương hiệu trong tổng thể chiến lược phát triển doanh nghiệp.

Các phương thức tiếp cận và định nghĩa về Thương hiệu

Thực tế cho thấy, một thương hiệu mạnh và hiệu quả sẽ làm gia tăng sự nhận biết, lòng trung thành của khách hàng, doanh số bán hàng, ‘giữ chân’ nhân viên, và ngay cả giá trị cổ phiếu công ty.

Tuy nhiên, nhận biết về thương hiệu đến mức độ nào và chuyển nhận biết đó trong những hành động hàng ngày là một vấn đề rất phức tạp. Một thương hiệu hiệu quả và tồn tại lâu dài không phải xây lên từ một sự tình cờ, mà nó có thể là một nhiệm vụ quan trọng và khó khăn nhất đối với các công ty ngày nay. Do đó, thương hiệu cần được tiếp cận một cách công phu và tinh vi. Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA BẤT BÌNH ĐẲNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM

THS. HOÀNG THÚY YẾN

Sử dụng mô hình kinh tế lượng để phân tích tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam là một việc mới mẻ. Kết quả hồi quy sử dụng dữ liệu mảng của 64 tỉnh từ năm 1999-2003, cho thấy bất bình đẳng có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế thông qua cả hai kênh trực tiếp và gián tiếp. Giải pháp gì nhằm giải quyết hữu hiệu mối quan hệ giữa bất bình đẳng và tăng trưởng kinh tế, đó là nội dung chính của bài viết dưới đây.

Theo lý thuyết truyền thống, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội, đặc biệt là hướng tới phân phối thu nhập bình đẳng hơn có thể mâu thuẫn với mục tiêu đảm bảo cho nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn và có tăng trưởng nhanh hơn. Tuy nhiên, có nhiều lý do cho thấy sự phân phối thu nhập bình đẳng hơn ở các nước nghèo như Việt Nam có thể có lợi cho tăng trưởng. Do đó, việc đánh giá đúng đắn tác động của bất bình đẳng đối với tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sẽ giúp cho các nhà quản lý đưa ra các chính sách thích hợp để đảm bảo cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Việt Nam.

Mặc dù, đã có một số nghiên cứu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế, song nghiên cứu này tập trung chủ yếu về tác động của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế sử dụng dữ liệu mảng nhằm làm tăng độ chính xác và bộ số liệu cập nhật theo thời gian nhằm khắc phục những hạn chế của các nghiên cứu trước. Hơn nữa, nghiên cứu này có thể được xem là một nghiên cứu thực chứng nhằm góp phần tìm ra các tác động bao gồm cả trực tiếp và gián tiếp của bất bình đẳng đến tăng trưởng kinh tế. Continue reading