PHÂN TÍCH YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI TRUNG QUỐC VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

GS.TS. VÕ THANH THU & THS. NGUYỄN THỊ DƯỢC

Xây dựng hệ thống phân phối là một vấn đề trọng tâm của các doanh nghiệp khi hoạch định chiến lược xâm nhập thị trường, bởi vì phân phối là một trong những vũ khí cạnh tranh mạnh nhất bảo đảm cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Thị trường VN với mức tăng trưởng GDP năm 2007 là 8,5%/năm, dân số hơn 83 triệu người, đồng thời là một thị trường vừa được mở cửa, hội nhập quốc tế nên được các nhà đầu tư nước ngoài và VN đánh giá là rất tiềm năng.

Hiện đã có rất nhiều nhà đầu tư VN và nước ngoài đang nỗ lực xây dựng hệ thống phân phối tại thị trường VN và đã khá thành công như Unilever, P & G, Abbott, Pepsi Cola, Coca Cola, Shiseido, Debon, Metro Cash & Carry, Fast Food Kentucky, Saigon Coop, Phở 24, Ngân hàng ACB, Sacombank …

Để xây dựng và quản lý thành công một hệ thống phân phối, các doanh nghiệp phải xác định được các yếu tố tác động đến việc xác lập hệ thống phân phối. Mỗi quốc gia với các đặc thù về các điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hoá – xã hội sẽ tạo nên những yếu tố đặc trưng tác động đến quá trình xây dựng và phát triển kênh phân phối.

Trung Quốc là một quốc gia ở bên cạnh VN, có những đặc điểm tương đồng về văn hoá – xã hội truyền thống cũng như một nền kinh tế định hướng XHCN đang trong giai đọan chuyển đổi, cải cách. Việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến họat động phân phối ở Trung Quốc sẽ là bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp khi xây dựng và phát triển hệ thống phân phối ở VN.

MỘT SỐ YẾU TỐ ĐẶC THÙ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG PHÂN PHỐI TẠI TRUNG QUỐC

Xem xét trên quan điểm phân phối thì thị trường Trung Quốc là một mạng lưới phức hợp bao gồm các thị trường địa lý, thị trường sản phẩm, thị trường người tiêu dùng. Các doanh nghiệp phải hiểu rõ các yếu tố này trước khi đưa ra các quyết định về chiến lược phân phối.

Thị trường địa lý:

Lãnh thổ Trung Quốc rất là rộng lớn. Khó có thể đưa một sản phẩm được sản xuất tập trung đến tay của mọi người tiêu dùng ở Trung Quốc vì chi phí cho quá trình phân phối rất cao và làm cho giá cả hàng hoá vượt quá mức giá có thể chấp nhận được của người tiêu dùng. Thực tế là người tiêu dùng Trung Quốc thường mua những sản phẩm được sản xuất ở địa phương, được phân phối mức giá có thể chấp nhận được. Continue reading

MỘT SỐ NGOẠI LỆ TRONG WTO VÀ QUI ĐỊNH CỦA VIỆT NAM

TRẦN THỊ TÚY

Ngoại lệ của WTO được hiểu là trong một số trường hợp cho phép các nước thành viên được làm khác đi so với các nguyên tắc cơ bản của WTO nhưng phải đảm bảo phù hợp với quy định của Tổ chức thương mại thế giới  nhằm bảo đảm chủ quyền, an ninh, đạo đức, sức khoẻ của con nguời, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm, bảo đảm cán cân thanh toán.

Ngoại lệ đã được đặt ra trong quá trình đàm phán và xây dựng các văn kiện của Tổ chức Thương mại Thế giới, đặc biệt được chú trọng trong các lĩnh vực thương mại quốc tế và quy định tại các văn kiện của WTO trong 3 lĩnh vực thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ và sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, còn có các ngoại lệ giành riêng cho các nước đang phát triển.

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1994)

Hiệp định chung về thuế quan và thương mại 1994 dành một số ngoại lệ cho các Thành viên để đáp ứng yêu cầu về đảm bảo an ninh, lợi ích quốc phòng, bảo vệ các giá trị văn hoá, tinh thần của dân tộc, truyền thống lịch sử, bảo vệ sức khoẻ con người, động vật, thực vật và môi trường, di sản quốc gia, tài nguyên quý hiếm, ngăn chặn gian lận thương mại, bảo đảm an ninh tài chính, tiền tệ quốc gia, liên quan đến các sản phẩm lao động của tù nhân, chính sách độc quyền, bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại, duy trì hoà bình và an ninh thế giới, tình hình tài chính đối ngoại và cán cân thanh toán, mua sắm nhằm mục đích cho tiêu dùng của Chính phủ và chi trả các khoản trợ cấp. Đây là những vấn đề cực kỳ quan trọng, ảnh hưởng đến an ninh và sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Các quy định của WTO là bắt buộc nhưng cũng có những ngoại lệ riêng, theo đó các Thành viên có thể áp dụng các biện pháp trái với quy tắc đối xử tối huệ quốc và đối xử quốc gia trong phạm vi cho phép khi thực thi nghĩa vụ của mình.

Continue reading

MỘT Ý TƯỞNG LẬP PHÁP CHƯA TRỌN VẸN

THS. PHẠM TRỌNG CƯỜNG

Trong thể chế tư pháp ở Việt Nam, lý lịch tư pháp (LLTP) là một vấn đề mới mẻ, ít được quan tâm, thậm chí có lúc đã bị quên lãng. Thế nhưng, đây lại là một thiết chế được định hình vững chắc trong hoạt động tư pháp của các quốc gia, trước hết vì những giá trị bổ trợ tư pháp to lớn của nó. Tuy nhiên, thiết kế hệ thống quản lý LLTP như thế nào để đạt được mục đích đó trong bối cảnh CCTP và CCHC? Đây là vấn đề cần được giải trình minh bạch với sự phân tích thấu đáo…

Lý thuyết về mục đích  quản lý LLTP…
      Những thông tin được ghi nhớ về LLTP của một cá nhân có thể coi là bức tranh phản ánh trung thực về  quá khứ của một cá nhân có hay không có tỳ vết. Do đó, khi được quản lý tốt, hệ thống dữ liệu LLTP sẽ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng xác định rõ các đặc điểm nhân thân tư pháp của cá nhân, trợ giúp đắc lực cho các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Đây là ý nghĩa quan trọng hàng đầu biện giải về sự cần thiết của hệ thống quản lý LLTP của bất kỳ quốc gia nào.
      Kinh nghiệm của một số nước cho thấy, nhiệm vụ hàng đầu của hệ thống quản lý LLTP là phục vụ cho hoạt động tố tụng. Lịch sử hình thành thiết chế này trên thế giới đã khẳng định đây là một bước phát triển của lĩnh vực hoạt động tư pháp, bởi mục đích khởi nguyêncủa thiết chế này là nhằm tạo ra một công cụ bổ trợ hữu hiệu phục vụ công tác xét xử. Phiếu LLTP của một bị cáo là căn cứ để cơ quan công tố xem xét, quyết định có cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn (VD: bắt tạm giam, bắt khẩn cấp…) đối với một bị can hay không? Trong giai đoạn xét xử, căn cứ vào Phiếu LLTP, Tòa án xem xét nhân thân của bị cáo, nắm được đầy đủ chính xác các tiền án của bị cáo, trên cơ sở đó cân nhắc các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.

Continue reading

KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Vinaland Invest Corp

Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, hợp đồng thương mại của họ rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống hiếm khi xảy ra. Ví dụ: ông Bill Gate, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Tập đoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh ngày nay ? ” Một ứng viên tiêu biểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, nhưng Bill Gate không nghĩ vậy. Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa và nhận anh ta vào làm việc.

Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa sợ…đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại. Đó cũng chính là lý do tác giả viết bài này.

1. Những điểm chung cần quan tâm khi soạn thảo hợp đồng thương mại

a) Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:

Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết. Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dự liệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán. Nó giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng. Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn.

Continue reading

BÌNH LUẬN VÀ GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI (DỰ THẢO NGÀY 04/11/2008)

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học luật TP.HCM

I. BÌNH LUẬN CHUNG

1. Sự kế thừa

Bản thân Pháp lệnh Trọng tài thương mại (sau đây: PLTTTM hoặc Pháp lệnh) là một sự phát triển vượt bậc so với các quy định tiền thân về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài trong Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết trang chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam[1]. Bởi vì, với PLTTTM, lần đầu tiên Việt Nam có một cơ sở pháp lý thống nhất, tương đối đầy đủ, tương đối chặt chẽ để thực thi một phương thức giải quyết tranh chấp đã được chứng minh tính hiệu quả của nó tại các nước phát triển. Trên cơ sở PLTTTM đã có một số tranh chấp trong hoạt động thương mại được giải quyết tại các trung tâm trọng tài, trong đó đặc biệt tại Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)[2]. Bên cạnh đó có một thực tế không được thể hiện trong các con số thống kê là đã có rất nhiều thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam trong các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Các nhà soạn thảo PLTTTM cũng đã tham khảo Luật mẫu của UNCITRAL và luật nước ngoài, nên bản thân Pháp lệnh này đã đạt được một mức độ tương đồng nhất định với Luật mẫu và luật nước ngoài. Chính vì vậy, thương nhân nước ngoài cũng đã chấp nhận thỏa thuận giải quyết tranh chấp trước trọng tài Việt Nam.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT CÓ MỒ MẢ TRÊN ĐẤT: NGÔI MỘ KHÓ DỜI

HỒ KHẢI HÀ

Hơn hai năm nay, đương sự phải chạy đi chạy lại yêu cầu chính quyền cho dời một ngôi mộ trong đất của mình nhưng vẫn không có kết quả… Theo bà N., trước đây bà được cha mẹ cho một miếng đất ở phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân (TP.HCM). Năm 2000, bà được quận cấp “giấy đỏ”. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình bà nên “giấy đỏ” này ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Chính quyền khó xử lý

Hai năm trước, một người anh của bà N. qua đời. Gia đình người anh đã qua hỏi xin chôn trên đất của bà thì bà không đồng ý. Tuy nhiên, do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên sau đó, gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà N. không hay biết gì.

Đến khi biết chuyện, bà N. đã làm đơn gửi khu phố cùng UBND, HĐND phường Bình Hưng Hòa nhờ can thiệp nhưng chờ mãi mà không thấy hồi âm. Cuối năm 2007, một lần nữa bà gửi đơn đến UBND phường. Lần này, ủy ban mời hai bên đến giải quyết nhưng đến hẹn, phía gia đình người anh đều vắng mặt. Thiếu một bên đương sự, phường cũng chỉ có thể lập biên bản hòa giải không thành rồi dừng lại…

Bà N. tiếp tục làm đơn lên UBND quận Bình Tân. Nơi đây tiếp nhận và gửi công văn yêu cầu phường giải quyết, đồng thời báo cáo với quận. Nhận công văn, phường mời hai bên đến nhưng do phía gia đình người anh lại… vắng mặt nên phường không thể xử lý được gì. Phường đã báo cáo lại sự việc và chờ quận hướng dẫn nhưng đến nay quận cũng chỉ biết… động viên phường tiếp tục xử lý.

Continue reading

"TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC": LUẨN QUẨN VÀ MÂU THUẪN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – CT HĐQT BASICO – Phụ trách Pháp chế Ngân hàng Bảo Việt

Thấy gì và cần gì qua dự thảo nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với tập đoàn kinh tế nhà nước?

Thiếu cơ sở pháp lý

Xem ra vẫn chưa rõ căn cứ pháp lý để ban hành nghị định này. Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 chỉ có khái niệm tổng công ty. Như vậy là không có căn cứ pháp lý từ luật này.
Còn Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã nêu rõ: “Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế.” Như vậy, nếu căn cứ vào luật này, thì nghị định phải quy định về tập đoàn kinh tế nói chung, chứ không chỉ “quan tâm” đến một nửa vấn đề.
Vậy, ban hành nghị định về tập đoàn kinh tế nhà nước là chưa phù hợp với Điều 56, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 149, Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Nhất là trong bối cảnh chuẩn bị xoá sổ Luật Doanh nghiệp Nhà nước từ 1/7/2010 sắp tới để tất cả cùng chung một sân chơi là Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Danh không chính, ngôn chẳng thuận

Chỉ riêng chuyện đặt tên doanh nghiệp liên quan đến chữ tập đoàn cũng đã thấy khó chấp nhận.
Nếu đã không cho đặt tên là tập đoàn, thì cần cấm tiệt, chứ đừng nửa nạc, nửa mỡ kiểu cho phép nhét chữ tập đoàn vào sau chữ công ty. Thế thì chỉ cần viết đúng một lần duy nhất, sẽ nghiễm nhiên được dùng sai cả đời cái từ tập đoàn thay cho từ công ty.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 184/BC-UBTVQH12 NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM 2008 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ GIẢI TRÌNH, TIẾP THU Ý KIẾN CỦA CÁC VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VỀ DỰ KIẾN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2009, BỔ SUNG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH CỦA QUỐC HỘI NHIỆM KỲ KHÓA XII (2007 – 2011)

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Ngày 23 tháng 10 năm 2008, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009. Đoàn thư ký kỳ họp đã tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội. Dưới đây, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011) như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2008

Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội tán thành đánh giá của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về kết quả thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008, những khuyết điểm, hạn chế trong việc thực hiện Chương trình này. Một số ý kiến phân tích, làm rõ nguyên nhân của việc chưa hoàn thành Chương trình, như việc cơ quan chủ trì soạn thảo, tham gia soạn thảo chưa dành thời gian hợp lý và quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng dự án; chất lượng chuẩn bị một số dự án chưa bảo đảm; tiến độ chuẩn bị, việc gửi tài liệu đến đại biểu Quốc hội, cơ quan thẩm tra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn chậm, ảnh hưởng nhiều đến việc thảo luận, cho ý kiến về các dự án; vẫn còn nhiều luật khung; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn chậm, việc triển khai thực hiện luật, pháp lệnh trong thực tế chưa đạt hiệu quả mong muốn. Nhiều ý kiến đề nghị cần đánh giá một cách đầy đủ, sâu sắc và nghiêm túc các khuyết điểm, hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật nói chung và việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 nói riêng để đưa ra các giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong năm 2008, cần thẳng thắn thừa nhận những tồn tại, thiếu sót kéo dài trong công tác xây dựng pháp luật thời gian qua. Việc triển khai thực hiện chương trình còn thiếu kiên quyết; chất lượng, tiến độ chuẩn bị nhiều dự án không đáp ứng yêu cầu; thiếu sự phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa các cơ quan hữu quan trong việc soạn thảo dự án. Tình trạng cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị dự án chưa có định hướng chính sách rõ ràng, chưa lường hết tính chất phức tạp của dự án và những tác động của dự án đến tình hình kinh tế-xã hội của đất nước nếu được ban hành còn phổ biến. Tình trạng cục bộ trong quá trình soạn thảo chưa được khắc phục. Một số nội dung trong các dự án luật, pháp lệnh chưa được nghiên cứu thấu đáo, nên chỉ có thể quy định ở mức độ khung, còn lại giao cho Chính phủ quy định chi tiết, làm cho luật, pháp lệnh được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống. Continue reading

NHÌN LẠI VÀ GÓP THÊM NHỮNG GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VN

GS.TS. NGUYỄN THANH TUYỀN

Bối cảnh diễn tiến lạm phát ở VN có nhiều cách nhìn và nhận định khác nhau. Với cách nhìn xuyên suốt ngay từ khởi đầu về hiện tượng này, tác giả xin bày tỏ các quan điểm sau:

1. Có phải mọi hiện tượng lạm phát đều do nguyên nhân suy thoái kinh tế?

Hiện trạng tăng chỉ số giá cả (CPI) ở VN có mầm mống từ năm 2005 – 2006, khi mà nền kinh tế VN đang trên đã ổn định về cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng. Tình trạng đó kéo dài suốt 2007. Song do hạn chế về khả năng dự báo và sự nhạy bén trong điều hành kinh tế vĩ mô mà lạm phát bùng phát ở “đỉnh điểm” vào cuối quí I/2008 với mức tăng giá tiệm cận tới 20%. Điều này như một cảnh báo về tính bức xúc của việc điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, mà trong đó, chính sách tiền tệ tiêu điểm.

Nhìn từ bối cảnh của lạm phát ở VN (mà trực tiếp là hiện tượng tăng CPI), không thể nói đó là biểu hiện của nền kinh tế suy thoái hay khủng hoảng tiền tệ có tính nguy cấp, mà nó đang diễn ra trong trạng thái kinh tế có những chuyển biến tích cực.

Có thể nói, lạm phát diễn ra theo các chu trình kinh tế, có tính “qui luật”; ví như quá trình kinh tế – XH phát triển theo đường “xoắn ốc”. Điều này cũng đồng nghĩa trong quá trình phát triển, cái cũ được thay thể dần bằng các nhân tố mới, tích cực hơn, phù hợp hơn nhưng cái cũ cũng không tự phủ định ngay mà cần phải có quá trình theo qui luật chuyển hóa lượng thành chất.

Continue reading

BỐN VẤN ĐỀ CĂN BẢN CỦA KINH TẾ VIỆT NAM

lgRestaurant-Economics Đầu tư Chứng khoán – Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.Bất chấp tình hình kinh tế khó khăn, 9 tháng đầu năm 2008 đã có 43.954 doanh nghiệp (DN) đăng ký kinh doanh, tổng vốn đăng ký 335.601 tỷ đồng, tăng 26% về số DN và 27% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007.

Đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, trở thành nguồn tạo công ăn việc làm chủ yếu cho nền kinh tế, trong khi kinh tế nhà nước ngày càng giảm tỷ trọng trong GDP.

Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.

Thứ nhất, mặc dù số lượng và vốn đầu tư của DN tăng đáng kể, song quy mô của DN vẫn còn nhỏ và tăng trưởng chậm. Theo thống kê của CIEM, Việt Nam hiện có tới 80% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, CIEM cho hay, số DN có vốn từ 500 tỷ đồng trở lên chỉ có vài trăm, nên khi thống kê theo tỷ trọng, những DN này không xuất hiện trong bảng đánh giá.

Yếu về quy mô, những chỉ số khác đều cho thấy, DN Việt Nam còn phải phấn đấu nhiều, tăng trưởng tài sản DN đạt tốc độ trung bình 18,2%/năm, tăng trưởng vốn chủ sở hữu khiêm tốn hơn với 14,7%/năm, tăng trưởng về doanh thu đạt 17,5%/năm, còn tăng trưởng về lợi nhuận chỉ đạt 13%/năm.

Continue reading

BÁO CÁO GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN SỐ 177/BC-CP CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI KỲ HỌP THỨ TƯ, QUỐC HỘI KHOÁ XII NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2008

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí, đồng bào,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin cảm ơn Quốc hội đã bày tỏ sự nhất trí với báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2008, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2009; đồng thời, đã góp nhiều ý kiến làm rõ thêm thực trạng của tình hình và đề xuất, gợi mở thêm những giải pháp cụ thể, thiết thực.

Gần một tháng qua, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến rất nhanh và phức tạp, nhiều yếu tố mới tác động bất lợi đến việc thực hiện mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nêu trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp này. Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị và trình Quốc hội xem xét thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009 phù hợp với những biến đổi của tình hình. Các Bộ trưởng, Thành viên Chính phủ cũng đã trả lời (bằng văn bản và trực tiếp) những vấn đề mà các vị đại biểu chất vấn thuộc lĩnh vực mình phụ trách (kể cả những chất vấn gửi đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ). 

Tôi xin trình bày thêm về một số tình hình và những yêu cầu mới cần tập trung chỉ đạo điều hành và một số nội dung mà nhiều vị đại biểu Quốc hội quan tâm, chất vấn.

I. MỘT SỐ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC GẦN ĐÂY

1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và ứng phó của các nước, dự báo tác động đến nước ta

Continue reading

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

GS, TSKH. VŨ MINH GIANG –  Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội

Sở hữu đất đai và tôn giáo là hai vấn đề rất khác nhau. Một nặng tính vật chất, thiên về “đời thường”, một thuộc về “đạo”, hướng về đời sống tinh thần, đậm màu sắc tâm linh, nhưng cả hai lại rất giống nhau ở một điểm cực kỳ nhạy cảm và phức tạp. Chính vì vậy mà khi diễn ra một sự kiện nào đó liên quan trực tiếp đến hai vấn đề này thì tính chất nhạy cảm và phức tạp tất sẽ bội phần tăng lên.

Trong bài viết này, tác giả không có tham vọng trình bày cặn kẽ, thấu đáo và toàn diện về vấn đề này, mà chỉ muốn từ những hiểu biết của mình, nêu ra một số suy nghĩ ban đầu từ góc nhìn lịch sử với hy vọng giúp người đọc có thêm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá một số sự kiện đang diễn ra.

1 – Một số đặc trưng nổi trội của chế độ ruộng đất trong lịch sử

Gần đây, trước thực tế của hiện tượng “đòi đất”, có ý kiến cho rằng Luật Đất đai ở ta đã lạc hậu, cần phải thay đổi. Quả thực luật không phải “nhất thành, bất biến” (hình thành và không biến đổi). Sự ổn định của nó chỉ là tương đối. Khi thực tiễn của lĩnh vực mà luật điều chỉnh phát triển tới mức luật trở thành lực cản, kìm hãm thì chắc chắn luật phải được xem xét để chỉnh sửa, bổ sung, thậm chí thay đổi. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn cần phải được cân nhắc thận trọng, đánh giá một cách toàn diện và phải được tiến hành theo đúng quy trình lập pháp chứ không thể căn cứ vào một số đòi hỏi cụ thể để vội vàng nhận định rằng luật đã “lạc hậu”, phải thay đổi.

Cũng có người đem so với luật của nước ngoài, chủ yếu là của các nước Âu – Mỹ để đi tới nhận định luật đã “lạc hậu”. Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, tiếp thu, học tập lẫn nhau trong lĩnh vực luật pháp là việc thường thấy vì luật pháp là một bộ phận của văn hóa với đặc trưng quan trọng là giao lưu, tiếp biến. Tuy nhiên, điều đó không bao giờ đồng nghĩa với việc tùy tiện nói luật nước này lạc hậu hơn luật nước kia.

Continue reading

PHÁP ĐIỂN HÓA ĐỂ BẢO ĐẢM TRẬT TỰ CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

ĐẶNG VĂN CHIẾN – PHÓ CN UBPL CỦA QUỐC HỘI

Hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản pháp luật là hoạt động hoàn toàn không đơn giản, đòi hỏi những người tiến hành hệ thống hóa, pháp điển hóa phải hiểu biết sâu sắc về hệ thống pháp luật, phải được trang bị các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Bất kỳ nhà nước nào cũng đều coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

      Một quốc gia đương đại không được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển và hội nhập. Pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là thước đo trình độ phát triển của các thiết chế dân chủ đang tồn tại trong nội tại của một quốc gia. Chính vì vậy, công tác hệ thống hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật là nhằm bảo đảm cho hệ thống pháp luật được thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm minh bạch, cụ thể và đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội khi có sự thay đổi.
      Ở Pháp, cách đây 15 năm, người ta rất chú ý tới công tác pháp điển hóa và đã đưa ra được những khuôn mẫu nhất định. Nhưng thực ra ở Pháp, Bộ luật Napoleon năm 1804 mới là một ví dụ điển hình về công tác pháp điển hóa. Với Bộ luật này, người ta nhìn nhận Naponeon không những là một vị tướng giỏi mà còn là một luật gia giỏi trong lĩnh vực luật dân sự với vai trò là kiến trúc sư của một trong những bộ luật dân sự có ảnh hưởng đến nhiều hệ thống pháp luật trên toàn thế giới. Ở Việt Nam thì như thế nào? Qua những công trình nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam cho thấy từ thời nhà Lý (1010), Việt Nam đã có một công trình mang dáng dấp của pháp điển hóa, đó là Bộ hình thư. Đến thời nhà Trần, chúng ta đã có Bộ Hình luật thư.  Đời nhà Lê có Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức). Gần đây nhất, dưới chính thể phong kiến, chúng ta có Hoàng Triều Luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Như vậy, trong lịch sử nước ta, dưới các triều đại phong kiến, Việt Nam đã có các công trình mang tính chất pháp điển hóa. Những công trình này là tập hợp các quy định pháp luật, kể cả luật tục, luật thành văn và những kinh nghiệm tiếp thu của pháp luật nước ngoài (chủ yếu là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa). Trong điều kiện hiện nay, các công trình pháp luật trên vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu, tham khảo. Nó chứng tỏ một điều rằng ông cha ta đã nhận thức được pháp điển hóa là một công việc rất cần thiết cho một quốc gia, một chế độ, để bảo đảm cho một nền thịnh trị của một quốc gia. Nhìn lại lịch sử, chúng ta tự hào vì đã có những công trình pháp điển hóa, pháp điển hóa trở thành truyền thống trong lịch sử lập pháp của Việt Nam.

Continue reading

CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG BẤT ĐỘNG SẢN ĐƯỢC ĐĂNG KÝ, LỢI ÍCH THẾ NÀO?

NGỌC PHƯỢNG

PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa đã khẳng định “Đo đạc, phân lô, lập trước bạ địa bộ, ấn định cho mỗi ô thửa đất một mã số, một hồ sơ và thu nạp, lưu giữ, cập nhật mọi thông tin liên quan đến chủ quyền, mọi cam kết mua bán, thế chấp và hứa hẹn khác, làm cho các thông tin đó trở thành thông tin công cộng, dễ dàng tiếp cận cho bất kỳ ai chính là triết lý của đăng ký nhà đất”

Đối với bất kì một giao dịch được tiến hành trên thị trường, thông tin về loại hàng hoá được đem ra giao dịch có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả, chất lượng cũng như sự thành công của giao dịch đó. Việc nhanh nhạy trong tìm kiếm và nắm bắt thông tin được các chuyên gia kinh tế đánh giá là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Đối với một môi trường kinh doanh thiếu tính minh bạch như thị trường bất động sản của Việt Nam thì những thông tin liên quan đến bất động sản như ai đang là chủ của một bất động sản nhất định, trên bất động sản đó có các hạn chế sử dụng gì, đã gán nợ, nhượng bán hoặc cam kết với những ai… là những thông tin tối thiểu cần được công khai. Tuy nhiên, không phải cứ có thông tin trong tay là ta có thể tin tưởng tuyệt đối vào thông tin đó. Một thông tin nếu không được cung cấp từ nguồn đáng tin cậy, được phân tích, xử lý chính xác thì sẽ trở thành “con dao hai lưỡi” cho chính người nắm giữ thông tin đó. Bởi vậy, nếu không có một cơ quan cung cấp các thông tin đáng tin cậy, người dân phải tự đi tìm thông tin với giá đắt và độ tin cậy thấp, mọi sự tù mù chỉ có lợi cho những người trung gian hưởng lợi từ sự thiếu thông tin của người dân. Nhưng tìm kiếm thông tin ở đâu, nguồn nào mới đáng tin cậy và tìm kiếm như thế nào cũng là vấn đề cần được đặt ra. Đối với bất động sản, thì lý lịch tư pháp của từng bất động sản do chính cơ quan đăng ký bất động sản cung cấp có vẻ là thông tin có độ tin cậy, nhưng muốn có được thông tin đầy đủ về bất động sản thì cơ chế đăng ký phải được thực hiện có hiệu quả và chất lượng.

Continue reading

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: QUYỀN KHỞI KIỆN, KẺ GẬT, NGƯỜI LẮC

THỤY CHÂU

Cùng một vụ án nhưng cấp phúc thẩm khẳng định thời hiệu khởi kiện đã hết, tòa tối cao lại bảo vẫn còn. Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất không quá phức tạp. Do các tòa xử lý khác nhau khiến vụ án đã bị lật đi lật lại không cần thiết.

Mua đất từ hồi nảo hồi nào

Năm 1984, vợ chồng bà T. mua của bà L. 80 m2 đất ở làng Thụy Khê (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội). Đến nay, người mua đã xây dựng biệt thự kiên cố, ở ổn định hơn 20 năm.

Ban đầu, diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của bác ruột bà L. Năm 1981, người bác đã ký giấy giao đất cho bà L. “được toàn quyền sử dụng kể từ ngày 30-10-1981”. Năm 1984, bà L. bán đất cho vợ chồng bà T. để theo chồng vào TP.HCM sinh sống. Bên bán xuất trình được bằng khoán điền thổ, biên bản họp phân chia đất mà bác ruột bà L. được hưởng một phần, giấy giao quyền sử dụng đất từ bác ruột sang cho bà L. Thấy giấy tờ rõ ràng, vợ chồng bà T. đồng ý mua.

Năm 1985, bác ruột bà L. mất. Cho rằng bà L. không có quyền bán đất của mẹ mình, các con của người bác phát sinh tranh chấp. Cuối năm 2002, do hai bên không tự thỏa thuận được nên các con của người bác khởi kiện đòi chia thừa kế. Đến năm 2004, phía nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện thành đòi quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng đất. Bị đơn trong vụ án gồm bà L. và vợ chồng bà T.

Theo các nguyên đơn, mẹ mình chỉ cho bà L. ở nhờ trên đất. Giấy giao đất từ bác ruột sang cho bà L. sử dụng là do người con trai viết thay mẹ. Ông này cho rằng mình thay mẹ viết giấy giao đất mà không có giấy ủy quyền của mẹ nên giấy giao đất là không hợp pháp.

Continue reading

ĐÀO TẠO LUẬT SƯ, CẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

L.H

Đề án “thành lập Tổ chức luật sư toàn quốc” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/1/2008. Đồng thời, Chính phủ cũng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất với 9 thành viên.

Theo đó, tổ chức luật sư toàn quốc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư, các Đoàn luật sư trong phạm vi cả nước; ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề cho luật sư; tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư…

Theo số liệu của Bộ Tư pháp thì số lượng luật sư ở Việt Nam hiện nay còn rất thấp, chỉ khoảng 4.000. Trung bình 20.000 dân mới có 1 luật sư, trong khi ở Singapore, tỷ lệ này là 1.000 dân, Nhật Bản: 5.500 dân, Đan Mạch: 1.000 Thuỵ Điển 2.279, Ở các nước phát triển thì Mỹ có 1 luật sư/270 dân, Pháp: 500 dân. Như vậy, nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên toà, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư (số liệu Bộ Tư pháp báo cáo trước Quốc Hội). Từ số liệu trên có thể thấy đội ngũ luật sư ở Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên,điều quan trọng không phải chỉ nhìn ở số lượng mà phải đánh giá về mặt chất lượng và nhận thức về vai trò của luật sư đối với doanh nghiệp và cả  những người dân bình thường. 

Continue reading

CÔNG CHỨNG TƯ CẦN ĐƯỢC ĐỐI XỬ BÌNH ĐẲNG

PHẠM NGỌC TRƯỜNG

8 văn phòng công chứng (được gọi là công chứng “tư”) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh vừa được thành lập, tình trạng quá tải tại các phòng công chứng Nhà nước (được gọi là công chứng “công”) sẽ giảm và người dân cũng có thêm cơ hội lựa chọn dịch vụ công chứng phù hợp. Tuy nhiên, điều quan tâm nhất hiện nay của các VPCC là sớm được “đối xử bình đẳng”.

Thuận tiện cho dân

Lâu nay, mỗi khi có hợp đồng, hồ sơ, giấy tờ cần công chứng, người dân phải xếp hàng chờ đợi rất lâu do các Phòng công chứng nhà nước (PCCNN) luôn bị quá tải. Giờ đây, người dân có thể đến các Văn phòng công chứng (VPCC) để được phục vụ nhanh chóng mà không sợ rằng vì gắn với chữ “tư” mà giá cả cao hơn, hiệu lực thấp hơn so với PCCNN. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định rõ, chứng nhận hợp đồng, giao dịch ở VPCC có giá trị pháp lý như ở PCCNN; Đồng thời, các VPCC thu phí công chứng bằng mức phí mà các PCCNN thu theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21.11.2001. Đây sẽ là nền tảng tạo nên sự cạnh tranh giữa các PCCNN với các VPCC: cùng mức phí, công chứng cùng có hiệu lực ngang nhau thì nơi nào phục vụ tốt hơn sẽ được người dân lựa chọn. Một lợi thế khác của VPCC là sẵn sàng cử công chứng viên đến công chứng tại nhà người dân, công chứng ngoài giờ hành chính, phụ phí phát sinh do hai bên tự thỏa thuận – điều mà các PCCNN hiện chưa được làm, trừ số ít trường hợp đặc biệt. Vì vậy, ra đời vào thời điểm này là thời cơ lớn của VPCC trong việc giành “thị phần” công chứng.

Continue reading

HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM CÓ VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH?

Thesaigontimes – 16 công ty bảo hiểm (hầu hết là doanh nghiệp trong nước) đã cùng ký một thỏa thuận nâng mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn xe ô tô, với lý do đưa ra là “nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao”. Theo nội dung hợp đồng bảo hiểm mà nhiều hãng bảo hiểm đề nghị ký với khách hàng, kể từ đầu tháng 10 vừa qua, mức phí tiêu chuẩn bảo hiểm vật chất xe ô tô, hay còn gọi là mức phí tối thiểu đã tăng từ 1,3% lên 1,56% một năm (chưa tính 10% thuế VAT).

Theo biểu phí mà Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thông qua hồi tháng 10 vừa qua, có 6 loại xe tăng phí. Ngoài phí tiêu chuẩn kể trên, chỉ được áp dụng đối với xe mới đăng ký sử dụng lần đầu trong vòng 3 năm, thì các xe cũ (đăng ký sử dụng từ 3 năm trở lên) sẽ được điều chỉnh tăng nếu áp dụng điều khoản bồi thường không khấu hao thay bộ phận mới.

Các loại ô tô khác như kinh doanh vận tải hàng hoá cũng tăng lên mức phí hàng năm là 1,83%; vận tải hành khách liên tỉnh (1,07%); chở hàng đông lạnh (2,62%), đầu kéo (2,84%).

Riêng bảo hiểm taxi có mức tăng mạnh nhất (3,95%). Và đó là lý do mà nhiều thành viên Hiệp hội taxi yêu cầu hiệp hội của mình có ý kiến phản ứng về việc thỏa thuận nâng phí bảo hiểm nói trên. Đại diện một hãng taxi tại Hà Nội nói rằng, mức phí bảo hiểm như trên là “không chấp nhận được”.

Trong việc tăng phí này, theo văn bản của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam gửi tổng giám đốc các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, thì việc tăng phí là kết quả của việc ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác giữa các thành viên hiệp hội tại Hội nghị CEO phi nhân thọ lần thứ 6 (diễn ra trung tuần tháng 9 vừa qua), “nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao, lạm phát gia tăng, kinh doanh bảo hiểm có dấu hiệu không có lãi hoặc lãi không đáng kể”.

Continue reading

SUY NGẪM 24

image Theo Cục trưởng Cục Kiểm tra Văn bản qui phạm pháp luật – Bộ tư pháp, kết quả công tác kiểm tra, xử lý văn bản qui phạm pháp luật giai đoạn 2003 – 2008:

– Các bộ, ngành và địa phương đã tự kiểm tra được 33.155 văn bản. Qua kiểm tra, đã phát hiện 3.460 văn bản có dấu hiệu sai trái, cấp bộ đã phát hiện 333 văn bản, chiếm 10%; cấp tỉnh phát hiện được 3.127 văn bản, chiếm 90%.

– Riêng Bộ Tư pháp qua đã kiểm tra, phát hiện 2.174 văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, chiếm 32% số văn bản do toàn ngành phát hiện có dấu hiệu trái pháp luật. Các văn bản này chủ yếu là sai về căn cứ pháp lý, thể thức và kỹ thuật trình bày, một số có dấu hiệu trái pháp luật về nội dung hoặc thẩm quyền đã và đang trong quá trình xử lý theo quy định.

Câu hỏi đặt ra là: Có cần thiết hay không sự thẩm định về những ảnh hưởng tiêu cực từ các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật? Trách nhiệm của cơ quan đã ban hành các văn bản đó?

Civillawinfor tổng hợp theo phapluattp.com.vn