SUY NGẪM 22

12150983629s659mX Hà Nội – Cơn mưa cuối Thu, đầu Đông năm 2008 chất chồng nỗi khổ người dân, làm trôi đi những vỏ bọc thành tích và lộ ra những yếu ké́m không đến từ thiên nhiên mà từ con người:

– Đã bao lần người Hà Nội hy vọng để rồi thất vọng về tình trạng thoát nước của thành phố?

– Đã bao lần nhà chức trách không hát câu: nắng mưa là chuyện của trời…?

– Đã bao lần dòng tiền đầu tư khổng lồ cho thoát nước thành phố ngừng chảy? và  thành phố vẫn bất lực trước thiên nhiên?

– Đã bao lần những dự án về khách sạn, dịch vụ… luôn nằm trên chương trình nghị sự, còn thoát nước chỉ là những thông tin báo cáo thiệt hại sau ngập lụt?

– Đã bao lần xã hội dành sự ưu ái về cảnh báo tình trạng thoát nước và nó vẫn chỉ thuộc loại công việc không có ủy quyền?

– Đã bao lần …

Cần lắm những hành động thực tế từ nhà chức trách thành phố, để bài hát “Hà Nội niềm tin và hy vọng” thực sự không chỉ là khát vọng của cử tri thành phố mà còn là sự hiện hữu trong cuộc sống hôm nay và mai sau.

CIVILLAWINFOR

NGUYÊN TẮC SUY ĐOÁN TÀI SẢN CHUNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH VIỆT NAM VÀ LUẬT DÂN SỰ PHÁP

THS. ĐOÀN THỊ PHƯƠNG DIỆP

Vấn đề tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng là lĩnh vực luôn xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, đặc biệt là khi vợ chồng phát sinh các mâu thuẫn. Một nguyên tắc góp phần giải quyết tốt các tranh chấp này được ghi nhận trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 (nguyên tắc này chưa có trong các Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, 1986), đó là nguyên tắc suy đoán tài sản chung

Quan hệ tài sản giữa vợ chồng, hay chính xác hơn là chế độ pháp lý về tài sản giữa vợ chồng là lĩnh vực thường xảy ra nhiều tranh chấp trong thực tiễn, nên cần phải có một cơ chế pháp lý hoàn chỉnh và phù hợp để giải quyết tốt những tranh chấp.

Luật Hôn nhân và gia đình (Luật HNGĐ) năm 2000 cũng như Luật HNGĐ năm 1986 của Việt Nam thừa nhận sự cùng tồn tại của ba khối tài sản trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng: tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ và tài sản riêng của chồng. Trong đó, khối tài sản chung của vợ chồng được người làm luật dành nhiều sự quan tâm, bảo vệ; một trong những công cụ hữu hiệu để bảo vệ khối tài sản chung (người viết tạm đặt tên) lànguyên tắc suy đoán tài sản chung[1].

1. Luật HNGĐ năm 2000 quy định tại khoản 3 Điều 27: Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng thì nó sẽ được suy đoán là tài sản chung.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU: CON GÀ CỒ THUỘC SỞ HỮU CỦA AI?

MINH NGUYÊN

Chỉ có một con gà cồ đẹp nhưng hai người đều nhận là chủ. Chưa kịp phân định rõ ràng thì một bên đã mang gà đi… làm thịt!  Các nhân vật trong chuyện này cùng ngụ xã Bình Trinh Đông, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An. Tài sản tranh chấp của họ tuy giá trị không lớn nhưng đến giờ vẫn chưa rõ ai đúng, ai sai.

Gà của người này, người kia đem bán?

Bà T. là người chuyên nuôi gà để bán. Giữa tháng 9-2008, bà đã bán hơn 100 con gà đất và gà nòi. Riêng con gà cồ trông rất oai vệ, bà T. quyết định giữ lại để làm giống.

Hôm đó, khi sang nhà bà T. chơi và nhìn thấy con gà cồ nói trên, một bà hàng xóm rất ưng ý và nằng nặc đòi mua. Lúc đầu, bà T. không chịu bán nhưng sau đó, bà đã bấm bụng bán con gà với giá hơn 100 ngàn đồng. Mừng húm, bà hàng xóm mang con gà cồ về nhà nuôi.

Khoảng năm ngày sau, bà hàng xóm hoảng hồn khi ông láng giềng V. đến nhà bà và nhìn con gà đó là của… ông! Theo ông V. thì bà T. đã vô cớ bắt gà của ông đem bán… Miệng nói, tay làm, ông V. ôm con gà về nhà mình.

Continue reading

TRAO ĐỔI LẠI "MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ CỔ PHẦN HÓA NGÂN HÀNG"

LUẬT GIA. THS. NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Tạp chí Ngân hàng số 18 tháng 9/2008 có đăng bài “Trao đổi một số vấn đề pháp lý về cổ phần hoá ngân hàng” của Luật sư Trương Thanh Đức (tác giả). Sau khi đọc bài báo này, là một người đã nhiều năm công tác trong lĩnh vực ngân hàng và từng trực tiếp xử lý các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình thực hiện thủ tục chuyển đổi một ngân hàng thương mại nhà nước đầu tiên thành ngân hàng thương mại cổ phần(1), tôi xin có một số ý kiến dưới góc độ khoa học pháp lý và thực tiễn để trao đổi với tác giả như sau:

1. Về thời điểm bán cổ phần: Bán cổ phần trước hay sau khi cổ phần hoá?

Về vấn đề này, tác giả cho rằng, Nhà nước là người bán cổ phần. Quan hệ mua bán này không thể áp dụng quy định của việc mua bán hàng hoá một cách thông thường. Người mua cổ phần đồng thời là cổ đông tham gia việc thành lập công ty.

Tuy nhiên, tác giả không nói rõ “cổ phần” do ai phát hành (lấy ở đâu ra) để Nhà nước bán cho nhà đầu tư và quan hệ mua bán cổ phần này được thực hiện ở thời điểm nào. Theo ý kiến của tôi, để trả lời câu hỏi tại tiêu đề của điểm 1 nêu trên, cần phải làm rõ các vấn đề sau:

Thứ nhất, thời gian cổ phần hoá: Ngay tại Điều 1 của Nghị định số 109/2007/NĐ-CP ngày 26/6/2007 của Chính phủ (Nghị định số 109) đã quy định rõ cổ phần hoá là việc chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần. Do đó, bản chất của cổ phần hoá là việc Nhà nước tiến hành các thủ tục để chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước để thành lập công ty cổ phần trên cơ sở doanh nghiệp nhà nước đó. Quá trình này diễn ra liên tục mà thời điểm chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đồng thời là thời điểm công ty cổ phần được thành lập và hoạt động. Vì vậy, việc cổ phần hoá chỉ kết thúc khi tư cách pháp nhân của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước đã chấm dứt và công ty cổ phần đã được thành lập (tư cách pháp nhân mới được xác lập) trên cơ sở chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước đó.

Continue reading

TÍNH PHÁP LÝ TRONG CÁC CHIẾN DỊCH TIẾP THỊ SẢN PHẨM

MINH AN (Theo Business Power Law)

Một chiến dịch tiếp thị được triển khai để chuẩn bị đưa sản phẩm hay dịch vụ mới nào đó vào thị trường bao gồm rất nhiều yếu tố khác nhau, từ việc sử dụng quảng cáo in, quảng cáo bằng băng rôn, tạo trang web, chào hàngsản phẩm và dịch vụ đến các khách hàng, cho tới sưu tầm thông tin để lập danh sách khách hàng tiềm năng, thiết kế hệ thống ghi âm điện thoại, thậm chí cả nghiên cứu và đưa ra chiến lược lôi kéo khách hàng,… Các hoạt động tiếp thị ngày càng đa dạng nhưng bao giờ và ở quốc gia nào cũng vậy, luôn chịu sự điều chỉnh của những khuôn khổ pháp lý nhất định. Đối với các doanh nghiệp trẻ vừa khởi sự kinh doanh, chi tiết này cần được quan tâm đặc biệt.

Những doanh nghiệp lâu năm có lợi thế lớn là nắm vững các quy định pháp luật nên họ luôn kịp thời điều chỉnh kế hoạch tiếp thị của mình không mấy khó khăn. Trong khi đó lại có những doanh nghiệp mới thành lập, do nóng vội để có chỗ đứng trên thị trường, đã có những bước đi không suy tính. Vừa chân ướt chân ráo vào thương trường, họ đã dùng những lời lẽ cường điệu để quảng cáo cho doanh nghiệp mình, đại loại kiểu như “chúng tôi là nhất”, “chúng tôi dẫn đầu trên thị trường”, hay vô tư “bê nguyên xi” một số hình ảnh độc quyền nào đó mà doanh nghiệp khác đang sử dụng… Điều này rất có thể đem lại những rắc rối cho doanh nghiệp khi các doanh nghiệp khác đưa sự việc ra tòa án Chỉ đến lúc đó, họ mới bắt đầu nhìn vào các doanh nghiệp đàn anh để học tập kinh nghiệm xây dựng và thiết kế nội dung website, chào hàng, quảng cáo, tiếp thị …

Continue reading

BẢO HIỂM Y TẾ Ở HÀN QUỐC: THÀNH CÔNG VÀ THÁCH THỨC

THS. ĐOÀN TƯỜNG VÂN

Hàn Quốc có 48 triệu dân, thu nhập quốc nội tính theo đầu người (GDP/đầu người) của năm 2003 là US$ 12,634, nếu tính theo sức mua của người dân là US$ 17,971. Hiện nay Hàn Quốc đang phải đối mặt với sự già hóa dân số, dự đoán chiếm 22% dân số vào năm 2020 và sẽ chiếm đến 63% dân số vào 2050. Chi phí cho y tế/GDP: 6.0%.

Tháng 12/1963, Luật BHYT có hiệu lực và bắt đầu được thực thi tại Hàn Quốc. Đến tháng 12 năm 1976 Luật BHYT đã được sửa đổi gần như hoàn toàn. Sau khi Luật BHYT được sửa đổi và áp dụng năm 1976, đối tượng tham gia BHYT được mở rộng nhanh chóng. Nếu như năm 1977 chỉ triển khai đến các công ty/hãng lớn có từ trên 500 công nhân trở lên, đến năm 1988 đã mở rộng đến các công ty nhỏ và bước đầu thí điểm đến những người lao động tự do. Đầu tiên thí điểm BHYT cho những người lao động tự do ở khu vực nông thôn, sau đó đến năm 1989, triển khai đến tất cả người lao động tự do ở khu vực thành thị.
Quá trình mở rộng đối tượng tham gia BHYT cũng bị tác động bởi các yếu tố về chính trị và kinh tế. Năm 1963, quân đội Hàn Quốc lên nắm chính quyền, Luật BHYT đã nhanh chóng được xây dựng và đưa vào thực thi ngay trong năm đó (1963). Năm 1987 là năm mở rộng BHYT đến người lao động tự do thì cũng là lúc Hàn Quốc bầu cử Tổng thống mới.

Continue reading