KỸ NĂNG SOẠN THẢO HỢP ĐỒNG TRONG THƯƠNG MẠI

LS. ĐỖ ĐĂNG KHOA – Công ty Vinaland Invest Corp

Hầu hết các công ty ở các nước phát triển luôn đề cao quy trình soạn thảo và ký kết hợp đồng, hợp đồng thương mại của họ rất chi tiết, chặt chẽ và dự liệu cả những tình huống hiếm khi xảy ra. Ví dụ: ông Bill Gate, trong một lần phỏng vấn các ứng viên thi tuyển vào Tập đoàn Microsoft đã đặt câu hỏi: “Theo các bạn đâu là yếu tố duy trì sự ổn định và thành công của các hoạt động kinh doanh ngày nay ? ” Một ứng viên tiêu biểu đã trả lời: “Đó chính là tính chặt chẽ của hợp đồng”. Nhiều người khi đó đã nghi ngờ tính nghiêm túc trong câu trả lời của ứng viên này, nhưng Bill Gate không nghĩ vậy. Ông đã cho ứng viên này điểm tối đa và nhận anh ta vào làm việc.

Trong khi đa số các Công ty của Việt Nam hiện nay chưa quan tâm nhiều đến vấn đề này, vẫn sử dụng những mẫu hợp đồng khuôn sáo, đơn điệu – “năm câu ba điều”, khó hiểu và thậm chí lạc hậu so với pháp luật hiện hành. Hậu quả là khi thực hiện hợp đồng rất khó khăn, dễ xảy ra tranh chấp và thường bị thua khi kiện tụng. Tình trạng này do nhiều nguyên nhân: văn hóa kinh doanh trọng tín hơn trọng lý, quy mô kinh doanh còn nhỏ, chưa có bài học đau xót trong giao thương quốc tế nên chưa sợ…đặc biệt là còn thiếu hiểu biết pháp luật và kỹ năng soạn thảo hợp đồng thương mại. Đó cũng chính là lý do tác giả viết bài này.

1. Những điểm chung cần quan tâm khi soạn thảo hợp đồng thương mại

a) Soạn thảo Dự thảo hợp đồng trước khi đàm phán:

Soạn dự thảo hợp đồng (bước 1), đàm phán, sửa đổi bổ sung dự thảo (bước 2), hòan thiện – ký kết hợp đồng (bước 3) là một quy trình cần thiết. Soạn dự thảo hợp đồng giúp cho doanh nghiệp văn bản hóa những gì mình muốn, đồng thời dự liệu những gì đối tác muốn trước khi đàm phán. Nó giống như một bản kế hoạch cho việc đàm phán, khi có một dự thảo tốt coi như đã đạt 50% công việc đàm phán và ký kết hợp đồng. Nếu bỏ qua bước 1 chỉ đàm phán sau đó mới soạn thảo hợp đồng thì giống như vừa xây nhà vừa vẽ thiết kế, nên thường dẫn đến thiếu sót, sơ hở trong hợp đồng, đặc biệt đối với những thương vụ lớn.

Continue reading

BÌNH LUẬN VÀ GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI (DỰ THẢO NGÀY 04/11/2008)

TS. PHAN HUY HỒNG – Đại học luật TP.HCM

I. BÌNH LUẬN CHUNG

1. Sự kế thừa

Bản thân Pháp lệnh Trọng tài thương mại (sau đây: PLTTTM hoặc Pháp lệnh) là một sự phát triển vượt bậc so với các quy định tiền thân về giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài trong Nghị định số 116/CP ngày 05/9/1994 về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế, Quyết định số 204/TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam và Quyết định số 114/TTg ngày 16/02/1996 của Thủ tướng Chính phủ về mở rộng thẩm quyền giải quyết trang chấp của Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam[1]. Bởi vì, với PLTTTM, lần đầu tiên Việt Nam có một cơ sở pháp lý thống nhất, tương đối đầy đủ, tương đối chặt chẽ để thực thi một phương thức giải quyết tranh chấp đã được chứng minh tính hiệu quả của nó tại các nước phát triển. Trên cơ sở PLTTTM đã có một số tranh chấp trong hoạt động thương mại được giải quyết tại các trung tâm trọng tài, trong đó đặc biệt tại Trung tâm Trọng tài quốc tế bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC)[2]. Bên cạnh đó có một thực tế không được thể hiện trong các con số thống kê là đã có rất nhiều thỏa thuận giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Việt Nam trong các hợp đồng trong lĩnh vực thương mại, đặc biệt là trong các hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Các nhà soạn thảo PLTTTM cũng đã tham khảo Luật mẫu của UNCITRAL và luật nước ngoài, nên bản thân Pháp lệnh này đã đạt được một mức độ tương đồng nhất định với Luật mẫu và luật nước ngoài. Chính vì vậy, thương nhân nước ngoài cũng đã chấp nhận thỏa thuận giải quyết tranh chấp trước trọng tài Việt Nam.

Continue reading

TRANH CHẤP ĐẤT CÓ MỒ MẢ TRÊN ĐẤT: NGÔI MỘ KHÓ DỜI

HỒ KHẢI HÀ

Hơn hai năm nay, đương sự phải chạy đi chạy lại yêu cầu chính quyền cho dời một ngôi mộ trong đất của mình nhưng vẫn không có kết quả… Theo bà N., trước đây bà được cha mẹ cho một miếng đất ở phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân (TP.HCM). Năm 2000, bà được quận cấp “giấy đỏ”. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình bà nên “giấy đỏ” này ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Chính quyền khó xử lý

Hai năm trước, một người anh của bà N. qua đời. Gia đình người anh đã qua hỏi xin chôn trên đất của bà thì bà không đồng ý. Tuy nhiên, do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên sau đó, gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà N. không hay biết gì.

Đến khi biết chuyện, bà N. đã làm đơn gửi khu phố cùng UBND, HĐND phường Bình Hưng Hòa nhờ can thiệp nhưng chờ mãi mà không thấy hồi âm. Cuối năm 2007, một lần nữa bà gửi đơn đến UBND phường. Lần này, ủy ban mời hai bên đến giải quyết nhưng đến hẹn, phía gia đình người anh đều vắng mặt. Thiếu một bên đương sự, phường cũng chỉ có thể lập biên bản hòa giải không thành rồi dừng lại…

Bà N. tiếp tục làm đơn lên UBND quận Bình Tân. Nơi đây tiếp nhận và gửi công văn yêu cầu phường giải quyết, đồng thời báo cáo với quận. Nhận công văn, phường mời hai bên đến nhưng do phía gia đình người anh lại… vắng mặt nên phường không thể xử lý được gì. Phường đã báo cáo lại sự việc và chờ quận hướng dẫn nhưng đến nay quận cũng chỉ biết… động viên phường tiếp tục xử lý.

Continue reading

"TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC": LUẨN QUẨN VÀ MÂU THUẪN

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – CT HĐQT BASICO – Phụ trách Pháp chế Ngân hàng Bảo Việt

Thấy gì và cần gì qua dự thảo nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và quản lý đối với tập đoàn kinh tế nhà nước?

Thiếu cơ sở pháp lý

Xem ra vẫn chưa rõ căn cứ pháp lý để ban hành nghị định này. Luật Doanh nghiệp Nhà nước năm 2003 chỉ có khái niệm tổng công ty. Như vậy là không có căn cứ pháp lý từ luật này.
Còn Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã nêu rõ: “Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế.” Như vậy, nếu căn cứ vào luật này, thì nghị định phải quy định về tập đoàn kinh tế nói chung, chứ không chỉ “quan tâm” đến một nửa vấn đề.
Vậy, ban hành nghị định về tập đoàn kinh tế nhà nước là chưa phù hợp với Điều 56, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2002) và Điều 149, Luật Doanh nghiệp năm 2005.
Nhất là trong bối cảnh chuẩn bị xoá sổ Luật Doanh nghiệp Nhà nước từ 1/7/2010 sắp tới để tất cả cùng chung một sân chơi là Luật Doanh nghiệp năm 2005.

Danh không chính, ngôn chẳng thuận

Chỉ riêng chuyện đặt tên doanh nghiệp liên quan đến chữ tập đoàn cũng đã thấy khó chấp nhận.
Nếu đã không cho đặt tên là tập đoàn, thì cần cấm tiệt, chứ đừng nửa nạc, nửa mỡ kiểu cho phép nhét chữ tập đoàn vào sau chữ công ty. Thế thì chỉ cần viết đúng một lần duy nhất, sẽ nghiễm nhiên được dùng sai cả đời cái từ tập đoàn thay cho từ công ty.

Continue reading

BÁO CÁO SỐ 184/BC-UBTVQH12 NGÀY 12 THÁNG 11 NĂM 2008 CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI KHÓA 12 VỀ GIẢI TRÌNH, TIẾP THU Ý KIẾN CỦA CÁC VỊ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VỀ DỰ KIẾN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2009, BỔ SUNG CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH CỦA QUỐC HỘI NHIỆM KỲ KHÓA XII (2007 – 2011)

Kính thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Ngày 23 tháng 10 năm 2008, các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận tại Tổ về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009. Đoàn thư ký kỳ họp đã tổng hợp ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội. Dưới đây, Uỷ ban thường vụ Quốc hội xin trình Quốc hội Báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội về dự kiến Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009, bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007 – 2011) như sau:

I. TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH XÂY DỰNG LUẬT, PHÁP LỆNH NĂM 2008

Nhiều ý kiến của đại biểu Quốc hội tán thành đánh giá của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về kết quả thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008, những khuyết điểm, hạn chế trong việc thực hiện Chương trình này. Một số ý kiến phân tích, làm rõ nguyên nhân của việc chưa hoàn thành Chương trình, như việc cơ quan chủ trì soạn thảo, tham gia soạn thảo chưa dành thời gian hợp lý và quan tâm đúng mức đến công tác xây dựng dự án; chất lượng chuẩn bị một số dự án chưa bảo đảm; tiến độ chuẩn bị, việc gửi tài liệu đến đại biểu Quốc hội, cơ quan thẩm tra, Uỷ ban thường vụ Quốc hội còn chậm, ảnh hưởng nhiều đến việc thảo luận, cho ý kiến về các dự án; vẫn còn nhiều luật khung; công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn chậm, việc triển khai thực hiện luật, pháp lệnh trong thực tế chưa đạt hiệu quả mong muốn. Nhiều ý kiến đề nghị cần đánh giá một cách đầy đủ, sâu sắc và nghiêm túc các khuyết điểm, hạn chế trong công tác xây dựng pháp luật nói chung và việc thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2008 nói riêng để đưa ra các giải pháp khắc phục có hiệu quả.

Uỷ ban thường vụ Quốc hội nhận thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được trong năm 2008, cần thẳng thắn thừa nhận những tồn tại, thiếu sót kéo dài trong công tác xây dựng pháp luật thời gian qua. Việc triển khai thực hiện chương trình còn thiếu kiên quyết; chất lượng, tiến độ chuẩn bị nhiều dự án không đáp ứng yêu cầu; thiếu sự phối hợp chặt chẽ ngay từ đầu giữa các cơ quan hữu quan trong việc soạn thảo dự án. Tình trạng cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị dự án chưa có định hướng chính sách rõ ràng, chưa lường hết tính chất phức tạp của dự án và những tác động của dự án đến tình hình kinh tế-xã hội của đất nước nếu được ban hành còn phổ biến. Tình trạng cục bộ trong quá trình soạn thảo chưa được khắc phục. Một số nội dung trong các dự án luật, pháp lệnh chưa được nghiên cứu thấu đáo, nên chỉ có thể quy định ở mức độ khung, còn lại giao cho Chính phủ quy định chi tiết, làm cho luật, pháp lệnh được ban hành nhưng chậm đi vào cuộc sống. Continue reading

NHÌN LẠI VÀ GÓP THÊM NHỮNG GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VN

GS.TS. NGUYỄN THANH TUYỀN

Bối cảnh diễn tiến lạm phát ở VN có nhiều cách nhìn và nhận định khác nhau. Với cách nhìn xuyên suốt ngay từ khởi đầu về hiện tượng này, tác giả xin bày tỏ các quan điểm sau:

1. Có phải mọi hiện tượng lạm phát đều do nguyên nhân suy thoái kinh tế?

Hiện trạng tăng chỉ số giá cả (CPI) ở VN có mầm mống từ năm 2005 – 2006, khi mà nền kinh tế VN đang trên đã ổn định về cơ cấu và nhịp độ tăng trưởng. Tình trạng đó kéo dài suốt 2007. Song do hạn chế về khả năng dự báo và sự nhạy bén trong điều hành kinh tế vĩ mô mà lạm phát bùng phát ở “đỉnh điểm” vào cuối quí I/2008 với mức tăng giá tiệm cận tới 20%. Điều này như một cảnh báo về tính bức xúc của việc điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ, mà trong đó, chính sách tiền tệ tiêu điểm.

Nhìn từ bối cảnh của lạm phát ở VN (mà trực tiếp là hiện tượng tăng CPI), không thể nói đó là biểu hiện của nền kinh tế suy thoái hay khủng hoảng tiền tệ có tính nguy cấp, mà nó đang diễn ra trong trạng thái kinh tế có những chuyển biến tích cực.

Có thể nói, lạm phát diễn ra theo các chu trình kinh tế, có tính “qui luật”; ví như quá trình kinh tế – XH phát triển theo đường “xoắn ốc”. Điều này cũng đồng nghĩa trong quá trình phát triển, cái cũ được thay thể dần bằng các nhân tố mới, tích cực hơn, phù hợp hơn nhưng cái cũ cũng không tự phủ định ngay mà cần phải có quá trình theo qui luật chuyển hóa lượng thành chất.

Continue reading

BỐN VẤN ĐỀ CĂN BẢN CỦA KINH TẾ VIỆT NAM

lgRestaurant-Economics Đầu tư Chứng khoán – Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.Bất chấp tình hình kinh tế khó khăn, 9 tháng đầu năm 2008 đã có 43.954 doanh nghiệp (DN) đăng ký kinh doanh, tổng vốn đăng ký 335.601 tỷ đồng, tăng 26% về số DN và 27% số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007.

Đầu tư tư nhân trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tăng nhanh, trở thành nguồn tạo công ăn việc làm chủ yếu cho nền kinh tế, trong khi kinh tế nhà nước ngày càng giảm tỷ trọng trong GDP.

Đánh giá mới đây của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang phải đối mặt với 4 vấn đề căn bản.

Thứ nhất, mặc dù số lượng và vốn đầu tư của DN tăng đáng kể, song quy mô của DN vẫn còn nhỏ và tăng trưởng chậm. Theo thống kê của CIEM, Việt Nam hiện có tới 80% DN có vốn dưới 5 tỷ đồng.

Ông Nguyễn Đình Cung, Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, CIEM cho hay, số DN có vốn từ 500 tỷ đồng trở lên chỉ có vài trăm, nên khi thống kê theo tỷ trọng, những DN này không xuất hiện trong bảng đánh giá.

Yếu về quy mô, những chỉ số khác đều cho thấy, DN Việt Nam còn phải phấn đấu nhiều, tăng trưởng tài sản DN đạt tốc độ trung bình 18,2%/năm, tăng trưởng vốn chủ sở hữu khiêm tốn hơn với 14,7%/năm, tăng trưởng về doanh thu đạt 17,5%/năm, còn tăng trưởng về lợi nhuận chỉ đạt 13%/năm.

Continue reading