TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG PHÁT SINH TỪ CÔNG CHỨNG: UẨN KHÚC ĐẰNG SAU MỘT BẢN CÔNG CHỨNG?

 QUANG TRUNG

Bản công chứng thứ nhất đã thể hiện sự… kỳ quặc, song chưa làm cho vụ việc đi vào bế tắc. Bản công chứng thứ hai thì đầy… oan nghiệt. Cho đến nay, đã qua hai năm, bi kịch mà bản công chứng đó để lại vẫn là sự nhức nhối, làm cho những người trong cuộc héo mòn với nỗi đau tột cùng. Sự thật đằng sau bản công chứng đầy bi kịch này là gì?

imageNước mắt người ở lại

Vụ việc này tưởng như sẽ không được nhiều người biết đến, song đúng như người ta vẫn nói “cái kim trong bọc, lâu ngày cũng ra”. Từ lá đơn của chính những người làm trong ngành thi hành án tỉnh Hải Dương, chúng tôi mới có thể từ từ lần ra mấu chốt của vụ việc. Căn nguyên bắt đầu từ năm 2006, bà Nguyễn Thị Xuyên trú tại xã Hoàng Diệu huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương tá hoả khi hay tin chồng bà bị tai nạn chấn thương sọ não, còn giấy tờ mua bán đất mà bà biết chồng mình đang sở hữu không biết biến đi đâu? Được biết, ông Hà Ngọc Chanh (chồng bà Xuyên), nguyên là cán bộ Phòng hậu cần Công an tỉnh Hải Dương đã nghỉ hưu năm 2004. Theo bà Xuyên, vào năm 2004, ông Chanh có mua một mảnh đất tại khu đô thị phía Đông TP Hải Dương. Tuy nhiên, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại chỉ mang tên một mình ông Chanh. Ngày 20.8.2006 ông Chanh bị tai nạn, không đi lại được, đầu óc lúc nhớ, lúc quên (sau đó ông Chanh đã qua đời).

Continue reading

TÌNH HUỐNG TỐ TỤNG: TAND TỈNH ĐẮC LẮC XÉT XỨ… NGƯỜI CHẾT

TRỌNG MẠNH

Bị đơn qua đời từ trước phiên phúc thẩm nhưng tòa vẫn “tỉnh bơ” tuyên người chết phải trả nợ 2,4 tỷ đồng, làm cơ quan thi hành án bó tay. Vừa qua, Thi hành án dân sự (THA) tỉnh Dăk Lăk đã có văn bản gửi chánh án TAND tối cao, viện trưởng VKSND tối cao đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm một bản án của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng vì không thể thi hành.

Một căn nhà “gả” nhiều nơi

Theo hồ sơ, tháng 8-1997, ông H. đem toàn bộ giấy tờ gốc căn nhà của mình ở phường Tân Lợi (TP Buôn Ma Thuột) thế chấp vay tiền ngân hàng. Sau đó, ông mượn của ông N. 60 triệu đồng, lãi suất 2%/tháng. Đến hạn, ông không trả được nên đề nghị thế chấp căn nhà trên cho ông N. nhưng ông N. đề nghị mua đứt. Hai bên thỏa thuận giá nhà là 150 triệu đồng. Do ông H. còn nợ gốc, lãi là 67 triệu đồng nên ông N. chỉ phải đưa thêm 83 triệu đồng.

Thỏa thuận là vậy nhưng mọi việc bất thành bởi không chỉ đem nhà thế chấp cho ngân hàng từ trước, ông H. còn chiếm đoạt tiền của nhiều người khác. Khi bị tố giác, ông bỏ trốn rồi bị bắt, bị đưa ra xét xử và lãnh án tù về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Ông N. khởi kiện ông H. đòi nợ. Ngày 11-12-2007, TAND tỉnh Dăk Lăk đã xử sơ thẩm. Ông H. lúc này đang thụ án, được tòa trích xuất từ trại giam về tham gia tố tụng. Tại tòa, ông H. thừa nhận có nợ ông N. như trên và cho biết vào ngày 14-11-2007, hai bên đã thỏa thuận giá trị căn nhà hiện nay là 2,4 tỷ đồng. Ông H. đồng ý sẽ trả cho ông N. 2,4 tỷ đồng và đề nghị tòa công nhận sự thỏa thuận này.

Continue reading

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ VIỆC ÁP DỤNG CÁC TIÊU CHUẨN QUẢN LÝ QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

TS. NGUYỄN KIM ĐỊNH

Sau khi phát động một “thập niên chất lượng” (từ năm 1995 đến năm 2005), phong trào làm chất lượng, áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế (bắt đầu là tiêu chuẩn về quản lý chất lượng ISO 9000:2000) ở VN có nhiều hoạt động phong phú. Nhiều cơ quan, tổ chức tư vấn, câu lạc bộ ra đời, nhằm quảng bá, hỗ trợ, tư vấn việc áp dụng tiêu chuẩn quốc tế trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ chỗ chỉ áp dụng một tiêu chuẩn ISO 9000:2000, giờ đây nhiều tiêu chuẩn khác cũng được áp dụng như: Tiêu chuẩn về quản lý môi trường – Environment Management System – ISO 14000; Tiêu chuẩn quản lý trách nhiệm xã hội – Social Accuntability SA 8000; Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe – Occupational Health and Safety Assessment Serie – OHSAS 18001 ….  

Kết quả ban đầu 

Con số các doanh nghiệp, tổ chức áp dụng các tiêu chuẩn này ngày càng tăng. Nếu tính từ tháng 9.1997 cả nước có mới có 6 doanh nghiệp được chứng nhận ISO 9002, trong đó có 5 đơn vị là doanh nghiệp nước ngoài hoặc liên doanh, chỉ có 1 của VN là Trung tâm dịch vụ phân tích hoá lý (thuộc sở KH-CN-MT) là đơn vị trong nước, (riêng ở TP.HCM có 5 đơn vị), thì đến nay trên toàn quốc đã có khoảng 3.000 đơn vị, áp dụng thành công và được các tổ chức quốc tế cấp chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. 

Từ chỗ chỉ có các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh áp dụng các tiêu chuẩn quản lý quốc tế, hiện nay ngày càng có nhiều tổ chức, doanh nghiệp, các trường học, khách sạn…cũng áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong công tác quản lý, nhằm không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình. 

Continue reading

QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN– MÔ HÌNH PHÙ HỢP CHO CÁC THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN MỚI NỔI

TS. TRẦN THỊ THÙY LINH – TRƯƠNG HOA MINH

Sự xuất hiện các quỹ đầu tư (QĐT) chứng khoán trên thị trường chứng khoán (TTCK) là một trong những yếu tố góp phần cho sự ổn định của thị trường. Tại VN, ngành quản lý QĐT chỉ mới hình thành từ cuối năm 2003 và đến nay cũng chỉ đang trong những bước đi ban đầu. Cơ sở pháp lý cho hoạt động CTQLQ, QĐT theo Luật chứng khoán, Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC ngày 15/5/2007 về việc ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của CTQLQ, Quyết định số 45/2007/QĐ-BTC ngày 5/6/2007 về thành lập và quản lý QĐT chứng khoán.

1. Tìm hiểu về quỹ chứng khoán

Ngày nay, các nhà đầu tư (NĐT) trên TTCK có nhiều hình thức đầu tư rất đa dạng thông qua các hàng hóa chứng khoán của thị trường, nhưng mỗi hình thức đầu tư sẽ có những tính chất đặc trưng khác nhau và sẽ có tác động rất lớn hiệu quả đầu tư. Do đó, để các NĐT đạt tối đa hóa lợi ích đầu tư thì việc nghiên cứu QĐT và đầu tư qua QĐT cần được xem xét khi TTCK VN còn rất thiếu các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp.

Trên thị trường tài chính, QĐT là NĐT tổ chức, loại hình trung gian tài chính tăng trưởng rất nhanh, là kênh đầu tư vốn quan trọng cho các NĐT nhỏ trên TTCK, đặc biệt các TTCK mới nổi đang phát triển.

Continue reading

XUNG QUANH TIN ĐỒN XÃ HỘI ĐEN SANG VIỆT NAM "HÀNH NGHỀ": CHỈ LÀ TRANH CHẤP DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI

MAI HẠ

Sau khi Bộ Công an nhận được công hàm của Đại sứ quán Hàn Quốc tại Việt Nam đề nghị làm rõ thông tin một nhóm đối tượng là xã hội đen Hàn Quốc sang Việt Nam “hành nghề”, liệu có hay không chuyện doanh nhân người Hàn Quốc đang làm ăn sinh sống ở Việt Nam, do mâu thuẫn đã thuê xã hội đen từ bản xứ sang thanh toán lẫn nhau. Trước những nguồn tin trên, công an Việt Nam đã vào cuộc…

Sự việc bắt đầu từ việc ông Song Moon Gul, quốc tịch Hàn Quốc, đến Tổng lãnh sự Hàn Quốc tại TP.HCM, tố cáo việc tối 3.8.2007, tại nhà riêng, ông Song bị một nhóm xã hội đen khống chế, bắt phải nhượng phần vốn cho người làm chung. Theo ông Song thì nhóm xã hội đen trên là người Hàn Quốc được ông Lee Charles Young (quốc tịch Mỹ, gốc Hàn Quốc) thuê sang Việt Nam. Do trong quá trình liên kết làm ăn giữa hai người đã nảy sinh mâu thuẫn, nên ông Lee đã thuê người sang khống chế, ép buộc ông phải làm thủ tục nhượng lại phần vốn trước đó đã hùn vốn cùng với ông Lee, để mình ông Lee chiếm hưởng.

Trước thông tin trên, ngày 6.8.2007, Đại sứ quán Hàn Quốc đã có công hàm đề nghị công an VN điều tra làm rõ vụ việc. Nhận định đây là hành vi nguy hiểm của các đối tượng người nước ngoài gây ra tại Việt Nam, Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an đã chỉ đạo Cục CSĐT tội phạm về TTXH (C14) Bộ CA phối hợp với lực lượng an ninh xác minh, làm rõ nội dung tố cáo của ông Song Moon Gul. Trả lời yêu cầu được biết về thân nhân của ông Lee từ Interpol Việt Nam, InterpolWashington xác nhận ông Lee chưa hề có tiền án, tiền sự tại Mỹ, hiện đang làm Chủ tịch HĐQT Công ty ôtô MeKong Việt Nam. Còn ông Song ngoài lời khai không có bằng chứng nào chứng tỏ bị bắt, đe doạ, uy hiếp đến tính mạng và nhất là không có cơ sở chứng minh ông Lee chỉ đạo thực hiện việc thuê băng nhóm xã hội đen đến nhà khống chế ông Song như trong đơn tố cáo. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, ông Song lại tỏ thái độ không thiện chí làm rõ các nội dung đơn thư tố giác, đồng thời không chứng minh được số vốn ông Song đã đầu tư vào 2 khu vui chơi giải trí Melia và Palace.

Continue reading

KINH DOANH NGÂN HÀNG TRONG ĐIỀU KIỆN LẠM PHÁT Ở MỨC CAO

TS. ĐỖ THỊ THỦY – Ngân Hàng Công Thương Việt Nam (Bài tham luận Hội thảo khoa học “Ảnh hưởng của lạm phát đến hoạt động kinh doanh ngân hàng, bảo hiểm và chứng khoán ở Việt Nam hiện nay” của Học Viện Tài chính, tháng 10/2008.)

Sau một thời gian dài liên tục đạt được nhịp độ trưởng kinh tế với tốc độ cao, môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, bắt đầu từ cuối năm 2007 và những tháng đầu năm 2008, nền kinh tế nước ta đã rơi vào tình trạng lạm phát tăng cao ngoài mức dự báo. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của 9 tháng đầu năm 2008 so với thời điểm cuối năm 2007 đã lên tới mức trên 21% và trong năm 2009, có thể tỷ lệ lạm phát sẽ còn duy trì ở mức trên một con số.

Nhìn nhận lại tình hình của nền kinh tế trong thời gian vừa qua chúng ta có thể thấy rằng, trong điều kiện lạm phát cao, các cơn “bão giá”, “bão lãi suất” diễn ra đã làm cho tình hình thị trường tài chính, tiền tệ trong nước bất ổn, gây những ảnh hưởng không nhỏ đến các hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng. Viễn cảnh khủng hoảng tiền tệ, nguy cơ đổ vỡ đối với hệ thống ngân hàng không thể không lường tính trước, nếu như các cơ quan quản lý không có các chính sách kinh tế vĩ mô đúng đắn và hữu hiệu, các ngân hàng thương mại (NHTM) không có các giải pháp chống đỡ phù hợp, hiệu quả.

Xét trên từng mặt hoạt động của hệ thống Ngân hàng thì những tác động tiêu cực của tình hình lạm phát thường được biểu hiện như sau.

Continue reading