THẦY – TRÒ VÀ NIỀM TIN BỊ ĐÁNH MẤT

LAN HƯƠNG (Ghi)

Cùng vào thang máy, thầy bị trò “đánh bật” ra ngoài. Trò đưa “phong bì”, thầy từ chối thì bị xì xào là… hâm hoặc đòi hỏi nhiều hơn. Có những thầy đổi mới… như cũ hoặc chưa dám chấp nhận những giá trị mới. Những người thầy đang đứng trên bục giảng rất đau lòng bởi dường như một số SV không còn giữ được sự tôn trọng và niềm tin ở họ.

Thầy Nguyễn Minh Hùng (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng): Trò hư một phần tại thầy

image Tôi đi dạy đã gần 30 năm. Trước kia, có lẽ do số lượng SV ít hơn nên mình dạy lớp A thì lớp B bên cạnh cũng biết, cũng quý thầy. Bây giờ thì khác, SV chỉ biết thầy đang dạy mình, còn thầy lớp khác thì kệ.

Thầy đi trong sân trường, trò lao xe máy ầm ầm, tông vào thầy là chuyện bình thường. Nhiều khi SV còn chen vào thang máy, đánh bật thầy ra. Thầy đứng ngoài nhìn SV đi thang lên trước mà trong lòng rất buồn, giờ giảng hôm đó cũng kém vui vì thầy ức chế.

Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng trò hư một phần tại thầy.

Thứ nhất là nhiều thầy bây giờ không chỉ đi dạy mà cũng phải bon chen đi làm ở bên ngoài nên lên bục giảng rồi đầu óc vẫn nghĩ về chuyện khác, thậm chí lời lẽ vẫn mang tính chất của một anh làm việc ở công trường. SV tinh lắm, họ biết thầy nào chăm chú giảng dạy, thầy nào chỉ đến dạy cho hết giờ rồi về nên thái độ ứng xử cũng khác.

Thứ hai là bây giờ nhiều thầy chỉ chú trọng dạy chữ mà không coi trọng dạy người. Thầy vào lớp rất nghiêm túc nhưng đúng chuông hết giờ là thầy ra khỏi lớp, không cần biết SV ngồi dưới kia là ai. Cũng có thể là do SV quá đông, thầy cũng không thể nhớ mặt, nhớ tên được nên dẫn đến thói quen thầy làm việc thầy, trò làm việc trò, chẳng quan tâm đến nhau.

Cũng có thầy trong quá trình dạy có hỏi han chia sẻ với SV thì được học trò rất quý. Bản thân tôi từng rất cảm động khi vô tình vào một diễn đàn trên mạng của SV, đọc được dòng tâm sự giàu tình cảm của SV viết về mình chỉ vì lý do đơn giản là tôi đã dành một chút thời gian trong giờ nghỉ trò chuyện, động viên học trò.

Continue reading →

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Tổng quan

Đăng ký quyền: nhu cầu khách quan đối với việc thực hiện quyền trong cuộc sống dân sự

Việc thực hiện một quyền trong xã hội có tổ chức chỉ được thuận lợi khi tất cả thành viên xã hội tôn trọng quyền đó. Muốn quyền được tôn trọng, điều kiện tiên quyết là quyền phải được xã hội biết đến. Trong một xã hội mà chủ thể được tôn vinh, thì người có quyền không phải cất công đi gặp và “rao” cho từng thành viên khác của xã hội về sự tồn tại của quyền, mà chỉ cần thực hiện một động tác mang tính chất công bố quyền với toàn xã hội; trái lại, tất cả các thành viên khác, nếu có quan tâm đến quyền đó, thì có trách nhiệm chủ động tìm hiểu về sự tồn tại của nó.

Hệ thống đăng ký quyền được lập ra như là giải pháp cho bài toán tạo điều kiện thuận lợi cho ứng xử của các chủ thể trong quan hệ xã hội theo các yêu cầu đó. Được phát minh bởi người Hy Lạp và thoạt tiên chỉ dùng để đăng ký quyền thế chấp bất động sản[1], chế định đăng ký tài sản trải qua những giai đoạn thăng trầm, trước khi có những bước phát triển nhảy vọt liên tục trong các hệ thống pháp lý phương Tây, từ giai đoạn cận đại cho đến nay. Đăng ký tài sản trong luật hiện đại có đối tượng không chỉ là các quyền bất động sản mà còn cả các quyền động sản, không chỉ quyền tài sản hữu hình mà cả quyền tài sản vô hình.

Tư tưởng chủ đạo là: xã hội cần đạt được quy ước về việc định vị một nơi mà ở đó sự hiện hữu pháp lý của quyền tài sản được ghi nhận và có thể được toàn xã hội nhận biết. Một mặt, người có quyền có thể đến đó để khai báo về quyền của mình; mặt khác, bất kỳ người nào tò mò về sự tồn tại của các quyền đối với một tài sản có thể đến đúng nơi ấy, truy lục các ghi chép về các lời khai, để tìm thông tin về các quyền đó. Thông tin về quyền để bảo vệ quyền, đó là mục tiêu tối hậu của tất cá các hệ thống đăng ký[2].

Continue reading →

NHIỀU LUẬT SƯ "PHẠM LUẬT" KHI HÀNH NGHỀ

centerimagebg PHẠM TẤN

 Theo luật, các luật sư được tạo điều kiện trong hoạt động hành nghề. Tuy nhiên, sau 2 năm thực hiện Luật này, nhiều luật sư cho rằng họ bị “trói tay trói chân”. Ngược với quan điểm của nhiều luật sư, các cơ quan tố tụng và cơ quan quản lý nhà nước cho rằng năng lực, trình độ của đội ngũ luật sư còn hạn chế, không đáp ứng kịp đòi hỏi của xã hội… Nhận định này được đưa ra tại hội nghị sơ kết hai năm thi hành Luật Luật sư trên địa bàn TP HCM, sáng 18/11/2008.

Thù lao chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ

Theo đánh giá của Sở Tư pháp TP HCM, hoạt động nghề luật sư góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, hỗ trợ hiệu quả đối với các doanh nghiệp, doanh nhân, góp phần tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thu hút đầu tư, kinh doanh thương mại của thành phố…Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế như chất lượng tranh tụng tại phiên tòa của một số luật sư còn yếu, lúng túng về nghiệp vụ, kỹ năng hành nghề, nhiều trường hợp còn thiếu trách nhiệm.

Một số tổ chức hành nghề luật sư chưa tự giác, nghiêm túc chấp chấp hành các quy định của Luật Luật sư và pháp luật liên quan như: không ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý, thực hiện không nghiêm túc các quy định về kê khai, đăng ký, nộp thuế. Đặc biệt, trong đợt thanh tra chuyên ngành về lĩnh vực luật sư, tư vấn pháp luật, Thanh tra Bộ Tư pháp phát hiện 43/70 tổ chức hành nghề luật sư được kiểm tra vi phạm pháp luật (tỷ lệ 64%). Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại tình trạng luật sư đòi tiền thù lao quá cao, chưa tương xứng với chất lượng dịch vụ, không thực hiện hết trách nhiệm với khách hàng, không trung thực, hứa hẹn trước kết quả…

Continue reading →

DỰ THẢO SỬA ĐỔI PHÁP LỆNH DÂN SỐ: MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC SINH CON THỨ BA

071017_birth_control_controversy PV

Chiều 18/11/2008,  trong buổi họp báo của Văn phòng Chính phủ, lãnh đạo Tổng cục Dân số cho biết dự thảo sửa đổi điều 10 Pháp lệnh Dân số sẽ được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong tháng 12. Trong đó có quy định cụ thể những trường hợp được sinh con thứ ba.

Các đối tượng thuộc diện này gồm: 

– Cặp vợ chồng sinh con thứ 3, nếu một trong hai người là người dân tộc thiểu số, dân tộc đó có số dân dưới 10.000 người theo số liệu công bố chính thức của Nhà nước;

– Đã có 2 con nhưng cả 2 con hoặc 1 trong 2 con bị dị tật do tai nạn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận;

– Cặp vợ chồng sinh con thứ 3 trở lên, nếu tại thời điểm sinh có một con sống;

– Cặp vợ chồng sinh lần thứ nhất mà sinh 3 hoặc hơn;

– Cặp vợ chồng có 1 con, lần thứ hai sinh đôi hoặc hơn;

– Cặp vợ chồng tái hôn sinh thêm một con chung, nếu cả hai hoặc một trong hai người đã có con riêng. Không áp dụng cho trường hợp tái hôn của 2 người đã từng sinh hai con chung và cả hai con đang sống;

– Phụ nữ không kết hôn sinh đôi hoặc nhiều hơn ngay từ lần thứ nhất.

Continue reading →

CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT DƯƠNG: HAI NGHỊCH LÝ

NGUYỄN ĐÌNH BÍCH

Xét trên bình diện tổng thể, mục tiêu của việc thực hiện chính sách lãi suất thực dương không có gì khác hơn là bảo đảm sự hài hòa về lợi ích kinh tế của những người có vốn và những người sử dụng vốn. Và để thực hiện được điều đó, người sử dụng vốn phải trích một phần lãi từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình để trả cho người có vốn.

Thế nhưng, dường như hiện đang thiếu những tiền đề quan trọng bậc nhất để thực hiện chính sách quan trọng này, cho nên đang góp phần đẩy các DN – những chủ thể sử dụng vốn chủ yếu, vào tình trạng khó càng thêm khó hiện nay, còn hiệu quả của nó chắc chắn cũng hạn chế.

“Theo đuôi” thị trường và những tác động “ngược”?

Trước hết, đối với những người có vốn, trong điều kiện lạm phát, lãi suất thực dương có nghĩa là khoản lãi mà người sử dụng vốn trả cho họ sau thời gian giao quyền sử dụng vốn phải cao hơn tốc độ lạm phát, hiện được tính bằng tốc độ tăng giá tiêu dùng – CPI. Và để thực hiện được mục tiêu này, tiền đề cơ bản không thể thiếu đầu tiên là phải dự báo được tốc độ tăng lạm phát ở ngay thời điểm giao và nhận quyền sử dụng vốn để làm chuẩn.

Bởi lẽ, nếu tốc độ tăng lạm phát thực tế càng cao hơn dự báo, tức là phát sinh lãi suất thực âm càng lớn, người có vốn càng bị thiệt, và ngược lại, người sử dụng vốn càng được lợi, còn những hậu quả tất yếu phát sinh càng nghiêm trọng. Và ngược lại, nếu tốc độ tăng lạm phát thực tế càng thấp hơn dự báo, tức là phát sinh thực dương càng lớn, phần lợi của người có vốn càng lớn, và ngược lại, phần thiệt của người sử dụng vốn càng lớn, còn những hậu quả tất yếu phát sinh cũng càng nghiêm trọng. Còn “kịch bản” trung gian là tốc độ lạm phát thực tế vừa bằng lãi suất thì đương nhiên người sử dụng vốn được hưởng phần thực dương kỳ vọng của người có vốn, nhưng hậu quả tất yếu phát sinh cũng không quá lớn như hai “kịch bản” lãi suất thực âm và thực dương nói trên.

Continue reading →

BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ: QUÁ TẢI VÌ THÓI QUEN "HÀNH CHÍNH HÓA"

QUANG TRUNG

Luật Sở hữu Trí tuệ (SHTT) được kỳ vọng sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi những vi phạm về sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực được hơn 2 năm. Tuy nhiên xem ra chế tài xử lý, và những căn cứ pháp lý vẫn còn phải xem xét thấu đáo hơn. Do vi phạm về sở hữu trí tuệ đã và đang vẫn bị xem là yếu tố… “mất điểm” trong con mắt của không chỉ người tiêu dùng mà của cả các nhà đầu tư…

Bất cập ngay từ cách giải quyết

Có một thực tế là trong một thời gian dài, việc xử lý các vi phạm về SHTT vẫn thiên về áp dụng biện pháp hành chính để giải quyết. Không ai phủ nhận, việc áp dụng các biện pháp hành chính để giải quyết sẽ nhanh, gọn. Tuy nhiên lại có hạn chế là không phát huy được vai trò tự bảo vệ của chủ sở hữu quyền SHTT. Đồng thời, làm giảm vai trò, tính tích cực của toà án. Đáng lẽ, việc xâm phạm quyền SHTT nhiều khi cần phải giải quyết bằng các biện pháp dân sự, hoặc hình sự, thì lại bị hành chính hoá bằng các biện pháp hành chính. Các tranh chấp được đưa đến các cơ quan quản lý nhà nước để giải quyết, làm cho các cơ quan quản lý nhà nước quá tải, không giải quyết kịp thời, dẫn đến tình trạng ách tắc. Như vậy không phát huy được vai trò của toà án. Các tranh chấp được đưa ra toà xét xử (toà dân sự hoặc hình sự) sẽ nâng cao vai trò của toà án, giảm bớt gánh nặng cho cơ quan quản lý nhà nước và cũng để nâng cao vai trò tự bảo vệ của các chủ sở hữu. Nhưng dường như trong suốt một thời gian dài, chúng ta lại làm ngược lại, cứ có vấn đề tranh chấp xảy ra là đưa đến cơ quan hành chính. Nhằm khắc phục căn bệnh “thâm căn cố đế này” trong Luật SHTT, chúng ta đã đưa ra hướng khắc phục, bằng cách khẳng định trách nhiệm tự bảo vệ của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, trong Luật cũng khẳng định cần áp dụng biện pháp dân sự hoặc hình sự, bằng cách đưa ra toà án xét xử. Song bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng, xâm phạm quyền SHTT chỉ cần giải quyết bằng các biện pháp hành chính, thì có nghĩa vẫn chưa khắc phục được thói quen hành chính hoá.

Continue reading →