THĂM DÒ DƯ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TRONG HỌC LUẬT THEO CHƯƠNG TRÌNH TÍN CHỈ SO VỚI CHƯƠNG TRÌNH NIÊN CHẾ

Kết quả thăm dò dư luận trên trang thông tin pháp luật dân sự về hiệu quả của học luật theo chương trình tín chỉ so với chương trình niên chế dựa trên 317 bầu chọn tính đến ngày 14/12/2008:

Nội dung bầu chọn Bầu chọn Tỷ lệ
Hiệu quả chưa rõ nét

101

32%

Có hiệu quả hơn

89

28%

Không hiệu quả

44

14%

Rất hiệu quả

37

12%

Không nên áp dụng

26

8%

Không đánh giá được

14

4%

Ý kiến khác

6

2%

Ý kiến khác:

Ý kiến Bầu chọn

Cách thức giải quyết xung đột

1

Có hay có dở

1

Ton tien sinh vien, lam sinh vien bi dong, di chep tai lieu de lam bai tieu luan

1

Phương thức áp dụng tín chỉ nên áp dụng linh hoạt hơn nữa

1

Rất tốn thời gian và công sức, trong khi cái thu được chỉ là những xấp bài

1

XIN MỜI CÁC BẠN TIẾP TỤC BẦU CHỌN:

CHÂN THÀNH CÁM ƠN BẠN ĐÃ THAM GIA BẦU CHỌN
VIỆC THĂM DÒ DƯ LUẬN VÀ KẾT QUẢ THĂM DÒ DƯ LUẬN TRÊN TRANG THÔNG TIN PHÁP LUẬT DÂN SỰ CHỈ MANG TÍNH CHẤT THAM KHẢO KHÔNG MANG TÍNH CHẤT KẾT LUẬN CỦA BẤT KỲ CƠ QUAN, TỔ CHỨC NÀO – CIVILLAWINFOR

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CÓ “MỤC ĐÍCH” SỬ DỤNG LÀ ĐẤT NGHĨA ĐỊA: NGÔI MỘ KHÓ DỜI

HỒ KHẢI HÀ

Hơn hai năm nay, đương sự phải chạy đi chạy lại yêu cầu chính quyền cho dời một ngôi mộ trong đất của mình nhưng vẫn không có kết quả… Theo bà N., trước đây bà được cha mẹ cho một miếng đất ở phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân (TP.HCM). Năm 2000, bà được quận cấp “giấy đỏ”. Do trên đất rải rác có vài ngôi mộ của gia đình bà nên “giấy đỏ” này ghi mục đích sử dụng là đất nghĩa địa.

Chính quyền khó xử lý

 

Hai năm trước, một người anh của bà N. qua đời. Gia đình người anh đã qua hỏi xin chôn trên đất của bà thì bà không đồng ý. Tuy nhiên, do ở xa, không trực tiếp quản lý đất nên sau đó, gia đình người anh vẫn tiếp tục chôn mà bà N. không hay biết gì.

Đến khi biết chuyện, bà N. đã làm đơn gửi khu phố cùng UBND, HĐND phường Bình Hưng Hòa nhờ can thiệp nhưng chờ mãi mà không thấy hồi âm. Cuối năm 2007, một lần nữa bà gửi đơn đến UBND phường. Lần này, ủy ban mời hai bên đến giải quyết nhưng đến hẹn, phía gia đình người anh đều vắng mặt. Thiếu một bên đương sự, phường cũng chỉ có thể lập biên bản hòa giải không thành rồi dừng lại…

Bà N. tiếp tục làm đơn lên UBND quận Bình Tân. Nơi đây tiếp nhận và gửi công văn yêu cầu phường giải quyết, đồng thời báo cáo với quận. Nhận công văn, phường mời hai bên đến nhưng do phía gia đình người anh lại… vắng mặt nên phường không thể xử lý được gì. Phường đã báo cáo lại sự việc và chờ quận hướng dẫn nhưng đến nay quận cũng chỉ biết… động viên phường tiếp tục xử lý.

Continue reading

KHI CON NGƯỜI TRỞ THÀNH HÀNG HÓA

A.D

Theo công bố mới nhất từ Bộ Công An, VN hiện là địa bàn của các hoạt động đưa người di cư, xuất khẩu lao động trá hình cũng như nhiều đường dây mua bán phụ nữ, trẻ em, tế bào thai, nội tạng ra nước ngoài. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2008 đã có 193 vụ xảy ra, với hơn 430 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Như vậy, trung bình mỗi ngày, có ít nhất 2 phụ nữ, trẻ em bị những kẻ buôn người biến thành hàng hoá.

Gần 50% nạn nhân là người mù chữ

Từ năm 2005 đến nay, cả nước phát hiện gần 1.100 vụ buôn bán phụ nữ, trẻ em với 1.980 đối tượng tham gia, lừa bán 2.800 phụ nữ trẻ em. Tuy nhiên, đây mới chỉ là phần nổi của tảng băng chìm vì tình hình phụ nữ trẻ em bỏ nhà đi khỏi địa phương không rõ lý do, nghi bị buôn bán ngày càng gia tăng.
Theo Cục Phòng chống tệ nạn xã hội (Bộ LĐTBXH), có gần 50% phụ nữ, trẻ em bị bán qua biên giới không biết chữ, gần 40% mới học xong bậc tiểu học và 88% nạn nhân đều thuộc diện gia đình khó khăn.
Buôn bán phụ nữ, trẻ em diễn ra ở bốn tuyến rõ rệt: hai tuyến đầu diễn ra ở khu vực biên giới VN – Trung Quốc (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Cao Bằng… chiếm 70% tổng số vụ trên toàn quốc) và biên giới VN – Campuchia (An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Hậu Giang…); tuyến thứ ba buôn bán quốc tế tới các địa điểm như Macau, Đài Loan, Hồng Kông, Hàn Quốc và tuyến cuối cùng buôn bán trong đất liền, xuyên qua Campuchia và Lào đến Thái Lan và Malaysia.
Hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em không chỉ diễn ra bằng đường bộ. Các tổ chức tội phạm trong nước và quốc tế còn hợp pháp hoá hoạt động qua việc tổ chức cho nạn nhân đi du lịch, hợp tác lao động… bằng đường hàng không và đường biển, sau đó đưa họ sang Hàn Quốc, Australia, Mỹ, Malaysia, Đài Loan… để ép buộc bán dâm.

Continue reading

Ý KIẾN THẢO LUẬN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XII VỀ DỰ THẢO LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

1.UÔNG CHUNG LƯU –  PHÓ CHỦ TỊCH QUỐC HỘI ĐIỀU HÀNH PHIÊN THẢO LUẬN TẠI HỘI TRƯỜNG

Kính thưa Quốc hội,

Theo chương trình làm việc của kỳ họp, sáng hôm nay Quốc hội thảo luận tại Hội trường về một số nội dung của dự án Luật bồi thường Nhà nước. Sáng ngày 3/11/2008 các vị đại biểu Quốc hội đã thảo luận ở tổ về dự án luật này, nhìn chung các vị đại biểu Quốc hội đều tán thành về sự cần thiết phải ban hành luật. Việc ban hành luật này không chỉ nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, mà còn nhằm xác lập một cơ chế hữu hiệu hơn trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, đề cao trách nhiệm thi hành công vụ của cán bộ, công chức, góp phần bảo đảm hoạt động bình thường của các cơ quan công quyền. Ngoài những vấn đề mà các vị đại biểu Quốc hội quan tâm, chúng tôi trân trọng đề nghị các vị đại biểu tập trung thảo luận một số vấn đề sau đây.
Một là về tên gọi của dự thảo luật, dự thảo luật lấy tên gọi là Luật bồi thường Nhà nước nhưng qua thảo luận cũng có nhiều ý kiến đề nghị nên lấy tên luật là Luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hoặc Luật về Nhà nước bồi thường thiệt hại, Luật về bồi thường của Nhà nước v.v…. Cũng đề nghị các vị đại biểu Quốc hội xác định tên thật chính các.
Hai là về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, theo dự thảo luật thì Nhà nước chỉ bồi thường đối với những thiệt hại do những hoạt động của Nhà nước quy định trong luật này gây ra trong lĩnh vực quản lý hành chính, trong tố tụng và thi hành án. Qua ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội cho rằng phạm vi quy định như thế còn hẹp, chưa phù hợp với quy định của Hiến pháp và đề nghị mở rộng hơn. Cũng có ý kiến nói rằng phạm vi như dự thảo cũng là quá rộng, không khả thi, đây cũng là vấn đề lớn của dự án luật này.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI

Dự thảo 0 (ngày 29/06/2008)

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

Nhằm tạo điều kiện cho các bên dân sự giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kip thời và thuận lợi;

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh (sửa đổi)

Luật này quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài để giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự theo sự thoả thuận của các bên.

Điều 2. Giải thích từ ngữ (sửa đổi)

Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

Continue reading

TỜ TRÌNH QUỐC HỘI SỐ 161/TTr- CP NGÀY 13/10/2008 CỦA BỘ TRƯỞNG BỘ TƯ PHÁP VỀ DỰ ÁN LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

Kính gửi: Quốc hội

Thực hiện Nghị quyết số 11/2007/NQ-QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007 của Quốc hội khóa XII về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khoá XII và năm 2008, Chính phủ xin trình Quốc hội Dự án Luật Bồi thường nhà nước với nội dung chủ yếu sau đây:

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC

1. Trong thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống pháp luật, bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ. Hiến pháp năm 1992 quy định: “Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, bị xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự” (Điều 72); “Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh. Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi về danh dự” (Điều 74). Bộ luật Dân sự năm 1995 đã dành hai điều 623 và 624 để quy định trách nhiệm bồi thường của các cơ quan nhà nước và các quy định này tiếp tục được ghi nhận trong Bộ luật dân sự năm 2005 (Điều 619 và Điều 620). Để cụ thể hóa các quy định nêu trên, đến nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định số 47/CP ngày 3 tháng 5 năm 1997 của Chính phủ về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do công chức, viên chức nhà nước, người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị định số 47); Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17 tháng 3 năm 2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 388). Các Bộ, ngành có liên quan cũng đã ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành về việc giải quyết bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước và người tiến hành tố tụng (sau đây gọi chung là người thi hành công vụ) gây ra.

Continue reading