TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY NỢ: HỢP ĐỒNG VAY CỦA DOANH NGHIỆP DƯỚI HÌNH THỨC VIẾT TAY KHÔNG CÓ DẤU, CHỮ KÝ VÀ HỌ TÊN CỦA NGƯỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT LIỆU CÓ HIỆU LỰC?

THIÊN LONG

Chỉ là tờ giấy viết tay có nội dung nhận tiền, không có dấu, chữ ký, họ tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp (DN), Bộ Tài chính xác định không đủ tiêu chuẩn là chứng từ kế toán của DN, chỉ là giấy nhận tiền giữa các cá nhân với nhau… Vậy mà, qua 2 cấp Toà vẫn coi đây là giấy vay nợ của DN và buộc DN phải thanh toán số tiền 1, 9 tỷ đồng.

Nhập nhằng giấy vay nợ

Năm 2005, bà Nguyễn Thị Thanh Sơn rủ ông Vũ Minh Lương – Giám đốc công ty TNHH sản xuất và thương mại Minh Hà (Minh Hà) nhập một lô thép của Nhật Bản. Bà Sơn đã góp 400 triệu đồng vào công ty Minh Hà và được bổ nhiệm làm kế toán trưởng. Song, thực tế bà Sơn không góp số vốn này vào công ty Minh Hà. Để có tiền kinh doanh, bà Sơn nhờ bà Hà Thị Thái giúp đỡ. Ngày 8.9.2005, ông Lương, bà Sơn và bà Thái thống nhất lập giấy nhận nợ có nội dung: ông Lương, bà Sơn thuộc công ty Minh Hà có mượn của ông bà Hà Thị Thái và Nguyễn Mạnh Trường quyển giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở và đất ở… để thế chấp ngân hàng thương mại cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Eximbank vay số tiền 2 tỷ đồng. Ngày 12.9.2005, Eximbank Hai Bà Trưng cho bà Thái vay 1, 9 tỷ đồng. Tại ngân hàng, bà Thái giao ngay số tiền 1, 9 tỷ đồng cho bà Sơn. ông Lương nhận từ bà Sơn 1, 8 tỷ đồng và chuyển luôn số tiền này cho đối tác là ông Nguyễn Đình Lộc- Tổng giám đốc công ty Matexim Thăng Long. Khi nhận 1, 8 tỷ đồng từ bà Thái, bà Sơn đã viết vào mặt sau của tờ giấy nhận nợ nói trên với nội dung: “12.9.2005 Sơn và Lương đã nhận đủ 1.900.000.000 (một tỷ chín trăm triệu đồng) và ký tên phía dưới (Nguyễn Thị Thanh Sơn).

Continue reading

VIỆC NGƯỜI DÂN KHỞI KIỆN CÔNG TY VEDAN ĐÃ BỊ TÒA ÁN TỪ CHỐI THỤ LÝ?

QUANG TRUNG

Sau khi phát hiện ra những sai phạm của Công ty Vedan VN xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, Bộ Tài nguyên & Môi trường yêu cầu Cty phải ngưng sản xuất, tỉnh Đồng Nai thì bảo chưa thể làm được. Trong lúc các cơ quan Nhà nước đang còn tranh cãi việc này, thì một số ngươi dân 2 huyện Long Thành, Nhơn Trạch đã làm đơn khởi kiện Công ty vì đã làm thiệt hại đến môi trường, hoạt động sản xuất, kinh doanh của người dân… Nhưng TAND huyện Long Thành đã từ chối thụ lý đơn khởi kiện với lý do chưa nhận được kết luận nào của Bộ Tài nguyên & Môi trường khẳng định Vedan gây thiệt hại. Việc Tòa không thụ lý đơn khởi kiện có đúng Luật? PV ĐS &PL đã có cuộc trao đổi với các chuyên gia pháp lý xung quanh vấn đề này…

Ông Nguyễn Việt Hùng, Đoàn luật sư TP.Hà Nội: Có thể xem xét khởi kiện Vedan theo khoản 3 Điều 163 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Sự kiện về những sai phạm của Công ty Vedan đã được dư luận nhắc tới rất nhiềuS, nhưng đối với tình huống một số người dân nộp đơn khởi kiện nhưng TAND huyện Long Thành (tỉnh Đồng Nai) đã từ chối thụ lý. Trong tay chúng tôi chưa có đơn kiện của người dân cũng như các tài liệu và những căn cứ liên quan đến vụ kiện này nên khó đưa ra quan điểm chính thức về việc Tòa án từ chối thụ lý là có cơ sở hay không. Tuy nhiên, trong việc khởi kiện này chúng tôi cho rằng cần phải xem xét như sau: Đây là việc người dân kiện đòi bồi thường thiệt hại do những hành vi sai phạm của Cty Vedan gây ảnh hưởng trực tiếp đến người khởi kiện hay chỉ đơn thuần là đơn kiện chung chung về hành vi xả nước thải gây thiệt hại chung đến môi trường và hoạt động sản xuất kinh doanh. Luật sư Nguyễn Việt Hùng cho biết, nếu là đơn kiện chung chung về hành vi xả nước thải của Vedan thì việc này không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà bản chất là việc tố cáo hành vi sai phạm của Vedan, người dân nên gửi đơn này tới cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý về những vi phạm về môi trường.

Continue reading

THỰC TIỄN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM TIỀN VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

TRẦN MINH SƠN

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người…

1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế

Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người[1]. Các DNNVV bao gồm các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp nhà nước và Luật Hợp tác xã, hoạt động theo nhiều loại hình doanh nghiệp, như doanh nghiệp nhà nuớc, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã, công ty hợp danh.

Xây dựng và phát triển đội ngũ DNNVV là một nhiệm vụ quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích, tạo thuận lợi cho DNNVV phát huy tính chủ động sáng tạo, nâng cao năng lực quản lý, phát triển khoa học – công nghệ và nguồn nhân lực, mở rộng các mối liên kết với các loại hình doanh nghiệp khác, tăng hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh trên thị trường; phát triển sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động. ở mỗi nền kinh tế quốc gia hay lãnh thổ, các DNNVV có thể giữ những vai trò với mức độ khác nhau, song nhìn chung, qua thực tiễn hoạt động và phát triển của DNNVV ở Việt Nam cho thấy, DNNVV có một số vai trò đối với kinh tế – xã hội:

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: QUAN TÒA ĐƯỢC ĐẤT … NHỜ "VẬN ĐỘNG" THI HÀNH ÁN?

VĨNH HÒA

Một số quan chức toà án của tỉnh Sông Bé cũ (nay là Bình Dương) đã mua hàng ngàn mét đất của đương sự thắng án trong vụ tranh chấp dân sự. Sự khuất tất càng lộ rõ với việc thi hành án vào lúc đã hết thời hiệu.

Trong lá đơn kêu oan, chị Huỳnh Kim Vân (con gái bà Nguyễn Thị Te 74 tuổi, ngụ tại thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương) kể, vào năm 1971, mẹ chị đã bỏ ra 30 ngàn mua nhà và đất rộng 860m2 (gọi chung là nhà) từ ông Huỳnh Công Nhẫn. Đến năm 1987, hai mẹ con chị có nguy cơ bị mất nhà vì một bản án phúc thẩm của Toà án tỉnh Sông Bé.

Chuỗi tố tụng nhiều tranh cãi

Theo các báo cáo của Thanh tra tỉnh gửi Thường vụ tỉnh uỷ và chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương, nguồn cơn vụ việc bắt đầu từ khi ông Nhẫn làm đơn kiện đòi lại nhà mẹ con chị Vân đang sống. Hai bản án sơ, phúc thẩm đều tuyên, buộc bà Te phải trả ngôi nhà cho ông Nhẫn. Thời hạn trả trong vòng một năm.

Bản án đã không được thi hành ngay sau đó vì một lý do: ông Nhẫn vượt biên. Trước khi vượt biên, ông Nhẫn làm giấy uỷ quyền cho con mình (tên Hiếu) căn nhà. Tuy nhiên, trong uỷ quyền lại không phải căn nhà đang tranh chấp. Năm năm sau kể từ khi án có hiệu lực, anh Hiếu làm đơn yêu cầu, Toà án tỉnh Sông Bé ra quyết định thi hành án. Nhưng phải chờ năm năm nữa (tức năm 1997), phòng Thi hành án Bình Dương mới tổ chức cưỡng chế, giao nhà cho anh Hiếu. Mẹ con chị Vân lao vào hành trình đi kiện.

Về vụ việc này viện Kiểm sát tối cao và cục Quản lý thi hành án (bộ Tư pháp) có ý kiến: theo quy định, nếu bản án có hiệu lực nhưng sau ba năm anh Hiếu không yêu cầu thi hành án, bản án trên sẽ hết hiệu lực. Thực tế, án trên đã “lố” hai năm, lẽ ra phải đình chỉ, nhưng phòng Thi hành án vẫn thi hành. Chưa kể, giấy uỷ quyền của cha con ông Nhẫn không hợp pháp, chị Vân có khiếu nại… Do vậy, viện tối cao yêu cầu phòng huỷ ngay quyết định thi hành án, giao lại nhà cho mẹ con chị Vân. Dù bị trên “ép” liên tục, nhưng phòng không có động thái gì.

Continue reading

CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ TRƯỚC YÊU CẦU HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

NGUYỄN THỊ KIM THANH

Chính sách tiền tệ (CSTT) là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong thời gian qua, việc thực thi CSTT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã đóng góp tích cực cho sự ổn định thị trường tài chính, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, CSTT cũng đã có những bước đổi mới nhất định phù hợp với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Việc quốc tế hoá thương mại hàng hoá, đầu tư và dịch vụ khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập đã tạo điều kiện cho Việt Nam khuếch trương các hoạt động sản xuất và tiếp thị trên toàn thế giới. Qua đó, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của nền kinh tế, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế, thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ…

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập này, nền kinh tế Việt Nam cũng phải đứng trước nhiều thách thức về môi trường pháp luật, công nghệ, năng suất, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, tệ nạn xã hội… Đối với lĩnh vực tiền tệ ngân hàng, quá trình hội nhập gắn liền với quá trình tự do hoá thị trường tài chính, đem lại nhiều cơ hội, nhưng cũng không ít thách thức. Ngoài những thách thức mà các tổ chức tín dụng (TCTD) phải khắc phục trong việc cạnh tranh nắm giữ và mở rộng thị phần thì cũng đặt ra những thách thức lớn cho NHNN trong việc kiểm soát luồng vốn, điều tiết tiền tệ, lãi suất, tỷ giá… trước những tác động nhạy cảm của thị trường tài chính quốc tế, cũng như sự vận hành của cầu tiền ngày càng phức tạp hơn do tính ngày càng đa dạng trong hoạt động của thị trường tài chính trong nước.

Continue reading