BÁO CÁO GIẢI TRÌNH VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN SỐ 177/BC-CP CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẠI KỲ HỌP THỨ TƯ, QUỐC HỘI KHOÁ XII NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 2008

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam,

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Thưa các đồng chí, đồng bào,

Thay mặt Chính phủ, tôi xin cảm ơn Quốc hội đã bày tỏ sự nhất trí với báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế, xã hội năm 2008, mục tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội năm 2009; đồng thời, đã góp nhiều ý kiến làm rõ thêm thực trạng của tình hình và đề xuất, gợi mở thêm những giải pháp cụ thể, thiết thực.

Gần một tháng qua, tình hình kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến rất nhanh và phức tạp, nhiều yếu tố mới tác động bất lợi đến việc thực hiện mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội nêu trong báo cáo của Chính phủ trình Quốc hội tại phiên khai mạc Kỳ họp này. Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị và trình Quốc hội xem xét thông qua Nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2009 phù hợp với những biến đổi của tình hình. Các Bộ trưởng, Thành viên Chính phủ cũng đã trả lời (bằng văn bản và trực tiếp) những vấn đề mà các vị đại biểu chất vấn thuộc lĩnh vực mình phụ trách (kể cả những chất vấn gửi đến Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ). 

Tôi xin trình bày thêm về một số tình hình và những yêu cầu mới cần tập trung chỉ đạo điều hành và một số nội dung mà nhiều vị đại biểu Quốc hội quan tâm, chất vấn.

I. MỘT SỐ TÌNH HÌNH KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ TRONG NƯỚC GẦN ĐÂY

1. Diễn biến của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới và ứng phó của các nước, dự báo tác động đến nước ta

Continue reading →

MỘT SỐ SUY NGHĨ VỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI VÀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM XƯA VÀ NAY

GS, TSKH. VŨ MINH GIANG –  Phó Giám đốc Đại học quốc gia Hà Nội

Sở hữu đất đai và tôn giáo là hai vấn đề rất khác nhau. Một nặng tính vật chất, thiên về “đời thường”, một thuộc về “đạo”, hướng về đời sống tinh thần, đậm màu sắc tâm linh, nhưng cả hai lại rất giống nhau ở một điểm cực kỳ nhạy cảm và phức tạp. Chính vì vậy mà khi diễn ra một sự kiện nào đó liên quan trực tiếp đến hai vấn đề này thì tính chất nhạy cảm và phức tạp tất sẽ bội phần tăng lên.

Trong bài viết này, tác giả không có tham vọng trình bày cặn kẽ, thấu đáo và toàn diện về vấn đề này, mà chỉ muốn từ những hiểu biết của mình, nêu ra một số suy nghĩ ban đầu từ góc nhìn lịch sử với hy vọng giúp người đọc có thêm cơ sở cho việc nhìn nhận, đánh giá một số sự kiện đang diễn ra.

1 – Một số đặc trưng nổi trội của chế độ ruộng đất trong lịch sử

Gần đây, trước thực tế của hiện tượng “đòi đất”, có ý kiến cho rằng Luật Đất đai ở ta đã lạc hậu, cần phải thay đổi. Quả thực luật không phải “nhất thành, bất biến” (hình thành và không biến đổi). Sự ổn định của nó chỉ là tương đối. Khi thực tiễn của lĩnh vực mà luật điều chỉnh phát triển tới mức luật trở thành lực cản, kìm hãm thì chắc chắn luật phải được xem xét để chỉnh sửa, bổ sung, thậm chí thay đổi. Tuy nhiên, đây là vấn đề lớn cần phải được cân nhắc thận trọng, đánh giá một cách toàn diện và phải được tiến hành theo đúng quy trình lập pháp chứ không thể căn cứ vào một số đòi hỏi cụ thể để vội vàng nhận định rằng luật đã “lạc hậu”, phải thay đổi.

Cũng có người đem so với luật của nước ngoài, chủ yếu là của các nước Âu – Mỹ để đi tới nhận định luật đã “lạc hậu”. Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, tiếp thu, học tập lẫn nhau trong lĩnh vực luật pháp là việc thường thấy vì luật pháp là một bộ phận của văn hóa với đặc trưng quan trọng là giao lưu, tiếp biến. Tuy nhiên, điều đó không bao giờ đồng nghĩa với việc tùy tiện nói luật nước này lạc hậu hơn luật nước kia.

Continue reading →

PHÁP ĐIỂN HÓA ĐỂ BẢO ĐẢM TRẬT TỰ CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT

ĐẶNG VĂN CHIẾN – PHÓ CN UBPL CỦA QUỐC HỘI

Hệ thống hóa, pháp điển hóa văn bản pháp luật là hoạt động hoàn toàn không đơn giản, đòi hỏi những người tiến hành hệ thống hóa, pháp điển hóa phải hiểu biết sâu sắc về hệ thống pháp luật, phải được trang bị các kỹ năng cần thiết để thực hiện công việc. Bất kỳ nhà nước nào cũng đều coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

      Một quốc gia đương đại không được tổ chức và hoạt động trên cơ sở một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong phát triển và hội nhập. Pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là thước đo trình độ phát triển của các thiết chế dân chủ đang tồn tại trong nội tại của một quốc gia. Chính vì vậy, công tác hệ thống hóa, pháp điển hóa các văn bản quy phạm pháp luật là nhằm bảo đảm cho hệ thống pháp luật được thống nhất, đồng bộ, không chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm minh bạch, cụ thể và đáp ứng kịp thời các yêu cầu của xã hội khi có sự thay đổi.
      Ở Pháp, cách đây 15 năm, người ta rất chú ý tới công tác pháp điển hóa và đã đưa ra được những khuôn mẫu nhất định. Nhưng thực ra ở Pháp, Bộ luật Napoleon năm 1804 mới là một ví dụ điển hình về công tác pháp điển hóa. Với Bộ luật này, người ta nhìn nhận Naponeon không những là một vị tướng giỏi mà còn là một luật gia giỏi trong lĩnh vực luật dân sự với vai trò là kiến trúc sư của một trong những bộ luật dân sự có ảnh hưởng đến nhiều hệ thống pháp luật trên toàn thế giới. Ở Việt Nam thì như thế nào? Qua những công trình nghiên cứu của các chuyên gia Việt Nam cho thấy từ thời nhà Lý (1010), Việt Nam đã có một công trình mang dáng dấp của pháp điển hóa, đó là Bộ hình thư. Đến thời nhà Trần, chúng ta đã có Bộ Hình luật thư.  Đời nhà Lê có Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức). Gần đây nhất, dưới chính thể phong kiến, chúng ta có Hoàng Triều Luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Như vậy, trong lịch sử nước ta, dưới các triều đại phong kiến, Việt Nam đã có các công trình mang tính chất pháp điển hóa. Những công trình này là tập hợp các quy định pháp luật, kể cả luật tục, luật thành văn và những kinh nghiệm tiếp thu của pháp luật nước ngoài (chủ yếu là pháp luật của các triều đại phong kiến Trung Hoa). Trong điều kiện hiện nay, các công trình pháp luật trên vẫn còn nguyên giá trị nghiên cứu, tham khảo. Nó chứng tỏ một điều rằng ông cha ta đã nhận thức được pháp điển hóa là một công việc rất cần thiết cho một quốc gia, một chế độ, để bảo đảm cho một nền thịnh trị của một quốc gia. Nhìn lại lịch sử, chúng ta tự hào vì đã có những công trình pháp điển hóa, pháp điển hóa trở thành truyền thống trong lịch sử lập pháp của Việt Nam.

Continue reading →

CUNG CẤP THÔNG TIN VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM BẰNG BẤT ĐỘNG SẢN ĐƯỢC ĐĂNG KÝ, LỢI ÍCH THẾ NÀO?

NGỌC PHƯỢNG

PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa đã khẳng định “Đo đạc, phân lô, lập trước bạ địa bộ, ấn định cho mỗi ô thửa đất một mã số, một hồ sơ và thu nạp, lưu giữ, cập nhật mọi thông tin liên quan đến chủ quyền, mọi cam kết mua bán, thế chấp và hứa hẹn khác, làm cho các thông tin đó trở thành thông tin công cộng, dễ dàng tiếp cận cho bất kỳ ai chính là triết lý của đăng ký nhà đất”

Đối với bất kì một giao dịch được tiến hành trên thị trường, thông tin về loại hàng hoá được đem ra giao dịch có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả, chất lượng cũng như sự thành công của giao dịch đó. Việc nhanh nhạy trong tìm kiếm và nắm bắt thông tin được các chuyên gia kinh tế đánh giá là yếu tố ảnh hưởng quyết định đến hoạt động kinh doanh, đặc biệt là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay. Đối với một môi trường kinh doanh thiếu tính minh bạch như thị trường bất động sản của Việt Nam thì những thông tin liên quan đến bất động sản như ai đang là chủ của một bất động sản nhất định, trên bất động sản đó có các hạn chế sử dụng gì, đã gán nợ, nhượng bán hoặc cam kết với những ai… là những thông tin tối thiểu cần được công khai. Tuy nhiên, không phải cứ có thông tin trong tay là ta có thể tin tưởng tuyệt đối vào thông tin đó. Một thông tin nếu không được cung cấp từ nguồn đáng tin cậy, được phân tích, xử lý chính xác thì sẽ trở thành “con dao hai lưỡi” cho chính người nắm giữ thông tin đó. Bởi vậy, nếu không có một cơ quan cung cấp các thông tin đáng tin cậy, người dân phải tự đi tìm thông tin với giá đắt và độ tin cậy thấp, mọi sự tù mù chỉ có lợi cho những người trung gian hưởng lợi từ sự thiếu thông tin của người dân. Nhưng tìm kiếm thông tin ở đâu, nguồn nào mới đáng tin cậy và tìm kiếm như thế nào cũng là vấn đề cần được đặt ra. Đối với bất động sản, thì lý lịch tư pháp của từng bất động sản do chính cơ quan đăng ký bất động sản cung cấp có vẻ là thông tin có độ tin cậy, nhưng muốn có được thông tin đầy đủ về bất động sản thì cơ chế đăng ký phải được thực hiện có hiệu quả và chất lượng.

Continue reading →

TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: QUYỀN KHỞI KIỆN, KẺ GẬT, NGƯỜI LẮC

THỤY CHÂU

Cùng một vụ án nhưng cấp phúc thẩm khẳng định thời hiệu khởi kiện đã hết, tòa tối cao lại bảo vẫn còn. Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất không quá phức tạp. Do các tòa xử lý khác nhau khiến vụ án đã bị lật đi lật lại không cần thiết.

Mua đất từ hồi nảo hồi nào

Năm 1984, vợ chồng bà T. mua của bà L. 80 m2 đất ở làng Thụy Khê (nay thuộc quận Tây Hồ, Hà Nội). Đến nay, người mua đã xây dựng biệt thự kiên cố, ở ổn định hơn 20 năm.

Ban đầu, diện tích đất này thuộc quyền sử dụng của bác ruột bà L. Năm 1981, người bác đã ký giấy giao đất cho bà L. “được toàn quyền sử dụng kể từ ngày 30-10-1981”. Năm 1984, bà L. bán đất cho vợ chồng bà T. để theo chồng vào TP.HCM sinh sống. Bên bán xuất trình được bằng khoán điền thổ, biên bản họp phân chia đất mà bác ruột bà L. được hưởng một phần, giấy giao quyền sử dụng đất từ bác ruột sang cho bà L. Thấy giấy tờ rõ ràng, vợ chồng bà T. đồng ý mua.

Năm 1985, bác ruột bà L. mất. Cho rằng bà L. không có quyền bán đất của mẹ mình, các con của người bác phát sinh tranh chấp. Cuối năm 2002, do hai bên không tự thỏa thuận được nên các con của người bác khởi kiện đòi chia thừa kế. Đến năm 2004, phía nguyên đơn thay đổi nội dung khởi kiện thành đòi quyền sử dụng đất, hủy hợp đồng chuyển nhượng đất. Bị đơn trong vụ án gồm bà L. và vợ chồng bà T.

Theo các nguyên đơn, mẹ mình chỉ cho bà L. ở nhờ trên đất. Giấy giao đất từ bác ruột sang cho bà L. sử dụng là do người con trai viết thay mẹ. Ông này cho rằng mình thay mẹ viết giấy giao đất mà không có giấy ủy quyền của mẹ nên giấy giao đất là không hợp pháp.

Continue reading →

ĐÀO TẠO LUẬT SƯ, CẦN ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP

L.H

Đề án “thành lập Tổ chức luật sư toàn quốc” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 18/1/2008. Đồng thời, Chính phủ cũng quyết định thành lập Ban Chỉ đạo Đại hội đại biểu luật sư toàn quốc lần thứ nhất với 9 thành viên.

Theo đó, tổ chức luật sư toàn quốc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của luật sư, các Đoàn luật sư trong phạm vi cả nước; ban hành và giám sát việc tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư; tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức pháp luật, kỹ năng hành nghề cho luật sư; tham gia xây dựng pháp luật, nghiên cứu khoa học pháp lý, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế về luật sư…

Theo số liệu của Bộ Tư pháp thì số lượng luật sư ở Việt Nam hiện nay còn rất thấp, chỉ khoảng 4.000. Trung bình 20.000 dân mới có 1 luật sư, trong khi ở Singapore, tỷ lệ này là 1.000 dân, Nhật Bản: 5.500 dân, Đan Mạch: 1.000 Thuỵ Điển 2.279, Ở các nước phát triển thì Mỹ có 1 luật sư/270 dân, Pháp: 500 dân. Như vậy, nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên toà, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư (số liệu Bộ Tư pháp báo cáo trước Quốc Hội). Từ số liệu trên có thể thấy đội ngũ luật sư ở Việt Nam còn thấp. Tuy nhiên,điều quan trọng không phải chỉ nhìn ở số lượng mà phải đánh giá về mặt chất lượng và nhận thức về vai trò của luật sư đối với doanh nghiệp và cả  những người dân bình thường. 

Continue reading →

CÔNG CHỨNG TƯ CẦN ĐƯỢC ĐỐI XỬ BÌNH ĐẲNG

PHẠM NGỌC TRƯỜNG

8 văn phòng công chứng (được gọi là công chứng “tư”) trên địa bàn TP Hồ Chí Minh vừa được thành lập, tình trạng quá tải tại các phòng công chứng Nhà nước (được gọi là công chứng “công”) sẽ giảm và người dân cũng có thêm cơ hội lựa chọn dịch vụ công chứng phù hợp. Tuy nhiên, điều quan tâm nhất hiện nay của các VPCC là sớm được “đối xử bình đẳng”.

Thuận tiện cho dân

Lâu nay, mỗi khi có hợp đồng, hồ sơ, giấy tờ cần công chứng, người dân phải xếp hàng chờ đợi rất lâu do các Phòng công chứng nhà nước (PCCNN) luôn bị quá tải. Giờ đây, người dân có thể đến các Văn phòng công chứng (VPCC) để được phục vụ nhanh chóng mà không sợ rằng vì gắn với chữ “tư” mà giá cả cao hơn, hiệu lực thấp hơn so với PCCNN. Bởi lẽ, Luật Công chứng đã quy định rõ, chứng nhận hợp đồng, giao dịch ở VPCC có giá trị pháp lý như ở PCCNN; Đồng thời, các VPCC thu phí công chứng bằng mức phí mà các PCCNN thu theo quy định tại Thông tư liên tịch số 93/2001/TTLT/BTC-BTP ngày 21.11.2001. Đây sẽ là nền tảng tạo nên sự cạnh tranh giữa các PCCNN với các VPCC: cùng mức phí, công chứng cùng có hiệu lực ngang nhau thì nơi nào phục vụ tốt hơn sẽ được người dân lựa chọn. Một lợi thế khác của VPCC là sẵn sàng cử công chứng viên đến công chứng tại nhà người dân, công chứng ngoài giờ hành chính, phụ phí phát sinh do hai bên tự thỏa thuận – điều mà các PCCNN hiện chưa được làm, trừ số ít trường hợp đặc biệt. Vì vậy, ra đời vào thời điểm này là thời cơ lớn của VPCC trong việc giành “thị phần” công chứng.

Continue reading →

HIỆP HỘI BẢO HIỂM VIỆT NAM CÓ VI PHẠM LUẬT CẠNH TRANH?

Thesaigontimes – 16 công ty bảo hiểm (hầu hết là doanh nghiệp trong nước) đã cùng ký một thỏa thuận nâng mức phí bảo hiểm tiêu chuẩn xe ô tô, với lý do đưa ra là “nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao”. Theo nội dung hợp đồng bảo hiểm mà nhiều hãng bảo hiểm đề nghị ký với khách hàng, kể từ đầu tháng 10 vừa qua, mức phí tiêu chuẩn bảo hiểm vật chất xe ô tô, hay còn gọi là mức phí tối thiểu đã tăng từ 1,3% lên 1,56% một năm (chưa tính 10% thuế VAT).

Theo biểu phí mà Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam thông qua hồi tháng 10 vừa qua, có 6 loại xe tăng phí. Ngoài phí tiêu chuẩn kể trên, chỉ được áp dụng đối với xe mới đăng ký sử dụng lần đầu trong vòng 3 năm, thì các xe cũ (đăng ký sử dụng từ 3 năm trở lên) sẽ được điều chỉnh tăng nếu áp dụng điều khoản bồi thường không khấu hao thay bộ phận mới.

Các loại ô tô khác như kinh doanh vận tải hàng hoá cũng tăng lên mức phí hàng năm là 1,83%; vận tải hành khách liên tỉnh (1,07%); chở hàng đông lạnh (2,62%), đầu kéo (2,84%).

Riêng bảo hiểm taxi có mức tăng mạnh nhất (3,95%). Và đó là lý do mà nhiều thành viên Hiệp hội taxi yêu cầu hiệp hội của mình có ý kiến phản ứng về việc thỏa thuận nâng phí bảo hiểm nói trên. Đại diện một hãng taxi tại Hà Nội nói rằng, mức phí bảo hiểm như trên là “không chấp nhận được”.

Trong việc tăng phí này, theo văn bản của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam gửi tổng giám đốc các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, thì việc tăng phí là kết quả của việc ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác giữa các thành viên hiệp hội tại Hội nghị CEO phi nhân thọ lần thứ 6 (diễn ra trung tuần tháng 9 vừa qua), “nhằm hạn chế tình trạng cạnh tranh gay gắt trong bối cảnh tỷ lệ bồi thường cao, lạm phát gia tăng, kinh doanh bảo hiểm có dấu hiệu không có lãi hoặc lãi không đáng kể”.

Continue reading →