HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: SỰ HÌNH THÀNH, THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI

NGUYỄN TRỌNG TÂN

Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Xây dựng cơ chế bảo đảm mọi bản án của toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành. Chuẩn bị các điều kiện về cán bộ, cơ sở vật chất để thực hiện việc chuyển giao tổ chức và công tác thi hành án cho Bộ Tư pháp”. Trên cơ sở quá trình phát triển hoạt động thi hành án dân sự ở nước ta, tác giả bài viết dưới đây đề cập đến thực trạng và nêu ra một số giải pháp đổi mới nhằm góp phần thực hiện Nghị quyết 49 và nâng cao hiệu quả hoạt động thi hành án, phát triển đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở nước ta hiện nay.

Thừa phát lại và Ban tư pháp xã, phường làm nhiệm vụ thi hành án dân sự            Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, ở miền Bắc, nhiệm vụ thi hành án vẫn được giao cho Thừa phát lại là một chức danh tư pháp của chế độ cũ thực hiện. Ngoài ra, theo Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà, Ban tư pháp xã, phường có quyền “hoà giải tất cả các việc dân sự và thương sự…, phạt các việc vi cảnh…, thi hành các mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên” (Điều 3 của Sắc lệnh). ở miền Nam, hoạt động thi hành án nói chung đều do Thừa phát lại đảm nhiệm. Thừa phát lại do Tổng trưởng Bộ Tư pháp của chế độ Việt Nam cộng hoà bổ nhiệm, thực hiện nhiệm vụ thi hành án trong phạm vi quản hạt của Toà sơ thẩm mà Thừa phát lại có trụ sở.

Toà án cấp huyện đảm nhận việc thi hành án

Đến năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/5/1950 quy định thẩm phán huyện dưới sự kiểm sát của biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính toà án huyện hay toà án trên đã tuyên. Như vậy, theo quy định này, việc thi hành án dân sự do Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã thực hiện trước đây đã được chuyển giao cho thẩm phán huyện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chánh án. 

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: XUNG QUANH VỤ TRANH CHẤP 450 M2 ĐẤT TẠI XÃ UY NỖ (ĐÔNG ANH – HÀ NỘI), BẢN ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC 1 NĂM NHƯNG CHƯA ĐƯỢC THI HÀNH

THIÊN LONG

Mặc dù bản án phúc thẩm số 10/2007/DSPT ngày 18.1.2007 của TAND TP. Hà Nội tuyên đã có hiệu lực hơn 1 năm nay nhưng chỉ vì bị đơn tìm nhiều lý do để trốn thi hành án, nên đến nay bản án vẫn chưa được thi hành.

Làm ơn mắc oán

Ngày 25.11.2001, bà Nguyễn Thị Anh Thoa ký hợp đồng mua bán nhà, đất (kiêm đặt cọc và thanh toán) với bà Nguyễn Thị Thương. Theo đó, bà Thoa bán cho bà Thương một căn nhà cấp 4 cùng toàn bộ thửa đất 450 m2 tại thôn Đản Dị, xã Uy Nỗ, huyện Đông Anh với giá 100 triệu đồng. Bà Thương đã thanh toán đủ tiền cho bà Thoa. Nhận tiền bán nhà đất xong, bà Thoa ngỏ lời mượn lại căn nhà đã bán để ở tạm, trong khi chờ mua nhà khác. Bà Thương đồng ý. Sau đó ít lâu, thấy giá nhà đất tăng cao, bà Thoa đã “bật đèn xanh” cho vợ chồng con trai là Nguyễn Văn Hiền về ở tại nhà, đất đã bán với ý đồ chiếm lại. Đầu năm 2002, bà Thương yêu cầu trả lại nhà, đất nhưng bà Thoa không chịu trả buộc bà Thương phải nhờ đến toà án. Bản án Dân sự số 28 ngày 13.9.2006 của TAND huyện Đông Anh đã tuyên: Hợp đồng mua bán nhà (kiêm đặt cọc và thanh toán) giữa bà Thương với bà Thoa là vô hiệu. Xác định giá trị hợp đồng hai bên giao nhận cho nhau là 100 triệu đồng. Giá trị tài sản tranh chấp theo hợp đồng là 2.035.000.000 đồng. Bà Thoa chịu 4/5 lỗi = 1.548.402.000 đồng, bà Thương chịu 1/5 lỗi = 387.101.000 đồng. Buộc bà Thoa phải thanh toán cho bà Thương 1.648.402.000 đồng. Bản án này sau đó bị cả nguyên đơn và bị đơn kháng cáo.

Continue reading

MỘT SỐ VƯỚNG MẮC VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN KHI VAY VỐN

PHẠM VĂN CHUNG – SỞ TƯ PHÁP KON TUM

Hiện nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, nhất là sau khi gia nhập WTO thì các giao dịch, hợp đồng ngày càng nhiều, đa dạng. Do đó, một mặt đòi hỏi chúng ta vừa phải nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật, cải cách hành chính theo hướng đơn giản thủ tục, hồ sơ và giảm thời hạn giải quyết, đồng thời cũng phải có cơ chế quản lý chặt chẽ, hợp lý, hiệu quả nhằm điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế, trong đó, việc giải quyết những vướng mắc trong giao kết hợp đồng, giao dịch là một ví dụ cụ thể.

Hiện nay, việc thực giao kết hợp đồng, giao dịch nhất là cầm cố, thế chấp tài sản; chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn có những vướng mắc, bất cập sau đây:

Thứ nhất,theo khoản 2 Điều 12, Nghị định số 85/2002/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 178/1999/NĐ-CP về đảm bảo tiền vay của các tổ chức tính dụng quy định: Đối với tài sản cầm cố, thế chấp là phương tiện vận tải, tàu thuyền đánh bắt thủy, hải sản có giấy chứng nhận đăng ký, tổ chức tín dụng giữ bản chính giấy chứng nhận đăng ký, khách hàng vay khi sử dụng phương tiện được dùng bản sao có chứng nhận của Công chứng Nhà nước và xác nhận của tổ chức tín dụng, nơi nhận cầm cố, thế chấp để lưu hành phương tiện đó trong thời hạn cầm cố, thế chấp. Tổ chức tín dụng chỉ xác nhận vào một bản sao giấy chứng nhận đăng ký phương tiện sau khi đã có chứng nhận của Công chứng Nhà nước. Nếu tài sản cầm cố, thế chấp là tàu bay, tàu biển tham gia hoạt động trên tuyến quốc tế, tổ chức tín dụng giữ bản sao giấy chứng nhận đăng ký có chứng nhận của Công chứng Nhà nước”.

Continue reading

KHẢ NĂNG THỰC HIỆN VIỆC TRAO THẨM QUYỀN GIẢI THICH HIẾN CHO TÒA ÁN Ở VIỆT NAM

GS.TS. LÊ HỒNG HẠNH 

I. Giải thích Hiến pháp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn

Giải thích Hiến pháp, Luật và Pháp lệnh là một trong những hoạt động có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện pháp luật. Hiến pháp, Luật và Pháp lệnh hay các văn bản pháp luật khác đều thể hiện ý chí của nhà làm luật thông qua ngôn ngữ, chuyển tải ý chí này đến các chủ thể và chủ thể tiếp nhận phải hành động, xử sự phù hợp với mong muốn của nhà làm luật. Khi thực hiện các hành vi xử sự được mô tả trong Hiến pháp, Luật và các văn bản pháp luật dưới luật khác, các chủ thể thường gặp phải những mâu thuẫn hay sự mơ hồ do ngôn ngữ được sử dụng không chính xác, do mâu thuẫn giữa các qui định của pháp luật. Điều này khiến các chủ thể không thể định hướng được hành vi, không xác định được đâu là sự hợp pháp và đâu là sự bất hợp pháp nếu hành xử theo qui định không nhận thức được một cách rõ ràng. Làm thế nào để xử lý những trường hợp như vậy? Liệu chủ thể có thể tự hành xử theo suy đoán riêng của mình và Nhà nước cần chấp nhận sự hành xử đó? Liệu chủ thể có thể hành xử theo tư vấn của luật sư mà Nhà nước vẫn sẽ đảm bảo tính hợp pháp của hành xử đó? Ai có quyền được giải thích các điểm mơ hồ hay mâu thuẫn này? Nhà nước, luật sư hay mỗi chủ thể? Giải thích pháp luật không đơn thuần là việc giải thích ngôn ngữ mà đó là việc xác định tính qui phạm (hay cách thức xử sự) mà một qui định pháp luật muốn chuyển tải cho chủ thể nhất định. Giải thích một văn bản pháp luật là giải thích cách thức xử sự. Chính vì vậy, cơ quan hay người giải thích pháp luật phải tìm cách xử lý mâu thuẫn hay sự mơ hồ trong qui định pháp luật cần giải thích chứ không phải chứng minh các nghĩa khác nhau của nó.

Continue reading