NGHỊ QUYẾT CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 3 SỐ 19/2008/NQ-QH12 NGÀY 03 THÁNG 06 NĂM 2008 VỀ VIỆC THÍ ĐIỂM CHO TỔ CHỨC, CÁ NHÂN NƯỚC NGOÀI MUA VÀ SỞ HỮU NHÀ Ở TẠI VIỆT NAM

QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Sau khi xem xét Tờ trình số 52/TTr-CP ngày 23 tháng 4 năm 2008 của  Chính phủ đề nghị thông qua Nghị quyết thí điểm về việc người nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam; Báo cáo thẩm tra số 240/UBKT12 ngày 29 tháng 4 năm 2008 của Uỷ ban kinh tế của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị quyết này quy định về đối tượng, điều kiện mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài; quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu là tổ chức, cá nhân nước ngoài; thủ tục mua bán nhà ở và cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở; giải quyết tranh chấp, khiếu nại và xử lý vi phạm pháp luật về nhà ở liên quan đến các đối tượng quy định tại Điều 2 của Nghị quyết này.

2. Nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua và sở hữu theo quy định của Nghị quyết này là căn hộ chung cư trong dự án phát triển nhà ở thương mại và không thuộc khu vực hạn chế hoặc cấm người nước ngoài cư trú, đi lại.

Điều 2. Đối tượng được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam

Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc các đối tượng sau đây được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

Continue reading

MỘT SỐ QUAN ĐIỂM KHÁC NHAU VỀ DỰ ÁN LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

NGUYỄN VIẾT THỊNH – VỊ PHÁP LUẬT, VĂN PHÒNG CHÍNH PHỦ

Luật Đăng ký bất động sản đang trong giai đoạn chuẩn bị trình ra Quốc hội xem xét và cho ý kiến, nhưng vẫn còn một số quan điểm khác nhau về dự án Luật này.

1. Về sự cần thiết ban hành Luật Đăng ký bất động sản

Một số chuyên gia pháp lý cho rằng không cần thiết phải ban hành luật Đăng ký bất động sản vì nội dung đăng ký bất động sản đã được Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành quy định như luật Đất đai, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, … chỉ cần sửa đổi bổ sung những luật chuyên ngành những quy định về thủ tục đăng ký bất động sản là đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.

Cơ quan chủ trì soạn thảo đã phản biện theo hướng cần thiết ban hành Luật này. Thứ nhất, Dự án luật Đăng ký bất động sản nhằm thể chế hoá chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện trong các văn bản sau:

– Báo cáo về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2006 – 2010 tại Đại hội Đảng lần thứ X có nêu: “Tăng cường các biện pháp chống đầu cơ, hạn chế việc giao dịch không theo quy định của pháp luật. Xây dựng hệ thống đăng ký, thông tin về bất động sản. Phát triển nhanh các dịch vụ thị trường bất động sản”;

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: XUNG QUANG VỤ MUA BÁN NHÀ 18 PHẠM NGŨ LÃO, ĐÀ LẠT "TRỐN TÒA – SAO CHƯA XỬ LÝ"

VĂN CƯƠNG

Mặc dù hợp đồng mua bán được ký kết đến nay đã gần một năm, nhưng tại sao lại có chuyện bên bán khởi kiện? Trong vụ việc này, bên mua có vi phạm hợp đồng và có xem thường pháp luật hay không?… Đó là những vấn đề dư luận tại địa phương đang đặt ra xung quanh vụ mua bán nhà đất tại số 18 Phạm Ngũ lão, phường 3, Tp Đà Lạt.

Từ việc mua bán

Ông Nguyễn Văn Hải và bà Nguyễn Thị Hằng là đồng sở hữu  nhà đất số 18 Phạm Ngũ Lão, phường 3, TP Đà Lạt. Ngày 01.12.2005, ông Hải, bà Hằng có ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Hà (em ruột ông Hải) toàn quyền định đoạt nhà đất nói trên và đã được UBND phường 3 xác nhận. Sau đó, ông Hà đã bán căn nhà này cho vợ chồng ông Nguyễn Văn Huế và bà Phan Thị Bạch Nga, với giá hai bên thỏa thuận là 4.400.000.000 đồng. Sau khi bàn bạc thống nhất về việc mua bán, ngày 01.08.2006 hai bên đã ký kết hợp đồng đặt cọc mua nhà và bên mua đã đặt cọc tổng cộng là 1.770.000.000 đồng. Theo cam kết, khi bên bán làm xong giấy tờ sang tên, bên mua phải thanh toán hết số tiền còn thiếu một lần. Với lời cam kết trên, ngày 15.08.2006, ông Hà đã giao ngôi nhà trên cho bên mua sử dụng và bên mua đã đặt cọc tiếp 470.000.000 đồng. Ngày 03.10.2006, ông Hà đã hoàn tất giấy tờ mua bán nhà do UBND Tp Đà Lạt xác nhận sang tên cho ông Huếứ và bà Nga.

Continue reading

TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: ĐẤT ĐANG CÓ TRANH CHẤP VẪN CHO CHUYỂN NHƯỢNG

T.A – P.V
Khu đất hơn 2000m2 của gia đình bà Tạ Quán Nam và ông Vũ Duy Hưng ở phường Ngọc Thụy bị lấn chiếm ngõ đi từ năm 1993 đến nay, chính quyền quận và phường đã “ra quân” kiểm tra nhiều lần. Nhưng, những động thái ấy chỉ mang tính “đối phó”, bởi sự việc vẫn “bình chân như vại”. Trong khi ranh giới con ngõ vẫn đang tranh chấp thì chính quyền lại cho phép chuyển nhượng mảnh đất kế bên (gồm cả phần diện tích ngõ của hộ bà Nam và ông Hưng), khiến sự việc càng trở nên phức tạp.

“Được đằng chân lân đằng đầu”

Theo giấy thỏa thuận ngày 17.2.1993 giữa hai gia đình bà Nam và bà Lý (có đất giáp ranh với nhà bà Nam) thì toàn bộ phần ngõ đi 11,5m2 (dài 23m, rộng 0,5m) thuộc quyền sử dụng của hộ bà Nam. Để có quyền sử dụng đất ngõ, bà Nam phải trả cho bà Lý là 80.000đ/m2, tổng số tiền là 920.000đ. Như vậy, kể từ ngày 17.2.1993, con ngõ đi không thuộc “quyền quản lý” của bà Lý.

Sở dĩ có việc thỏa thuận mua bán phần đất ngõ này là do gia đình bà Lý cố tình tranh chấp lấn chiếm. Thực tế, trước đó, phần đất ngõ đã được hai hộ gia đình bà Nam và anh Hưng (con trai bà Nam) mua lại của gia đình ông Liêm khi nhận chuyển nhượng khu đất 2.050m2. Việc mua bán đất (có cả phần diện tích ngõ) diễn ra ngày 19.1.1993, được ông Nguyễn Văn Thụy, Chủ tịch xã Ngọc Thụy khi đó xác nhận. Tuy nhiên, sau một tháng nhận chuyển nhượng khu đất, gia đình bà Lý cho người sang trồng chuối và hoa hồng vào lòng con ngõ lấn chiếm một phần lối đi (hộ bà Lý có ngõ khác vào nhà), để giữ hòa khí, phía gia đình bà Nam đã nhượng bộ thỏa thuận mua lại phần diện tích bà Lý lấn chiếm (như giấy thỏa thuận ngày 17.2.1993). Về lý, đáng lẽ gia đình bà Nam có quyền sử dụng hợp pháp toàn bộ phần ngõ trên mà không phải mua lại.

Continue reading

MỘT VÀI SUY NGHĨ VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

VÕ CÔNG HOÀNG – THI HÀNH ÁN DÂN SỰ BÌNH ĐỊNH

1. Thực trạng về tình hình khiếu nại, tố cáo và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thi hành án dân sự:

Công tác thi hành án dân sự là công tác phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, trực tiếp ảnh hưởng đến quyền về tài sản, nhân thân của các bên đương sự và những người có liên quan. Việc tổ chức thi hành bản án, quyết định của Tòa án sẽ làm phát sịnh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ về tài sản của các bên đương sự. Do tính chất công việc phức tạp như vậy, việc khiếu nại, tố cáo trong quá trình tổ chức thi hành án dân sự là điều khó trách khỏi. Hoạt động thi hành án là hoạt động diễn ra sau khi kết thúc quá trình tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm đưa bản án, quyết định của Tòa án ra thi hành trên thực tế, khôi phục lại tình trạng ban đầu của các quan hệ pháp luật bị xâm hại trước đó. Chính vì vậy, chất lượng và hiệu quả của việc thi hành án dân sự phụ thuộc rất lớn vào hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong các giai đoạn tố tụng, nếu các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra, truy tố và xét xử công minh, khách quan, đúng pháp luật, kịp thời ngăn chặn việc tẩu tán tài sản của đương sự, thì việc thi hành án sẽ thuận lợi, nhanh chóng và hạn chế được rất nhiều việc khiếu nại, tố cáo của các bên đương sự và người có liên quan. Trong quá trình tổ chức thi hành án cho thấy, nhiều đương sự có điều kiện thi hành án nhưng vẫn cố tình chây ỳ, không tự nguyện thi hành án, thậm chí có trường hợp còn chống đối quyết liệt, nhiều trường hợp không hiểu trình tự thủ tục thi hành án hoặc lợi dụng quyền tư do dân chủ của công dân làm đơn khiếu nại, tố cáo không đúng qui định của pháp luật, nhằm để trì hoãn việc thi hành án. Nhiều trường hợp khiếu nại, tố cáo, nhưng cơ quan Thi hành án dân sự đã giải quyết khiếu nại hết thẩm quyền nhưng các đương sự vẫn tiếp tục khiếu nại gửi đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước, thậm chí có trường hợp còn tổ chức tụ tập đông người, kéo đến các cơ quan Đảng, nhà nước, gây rối trật tự, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của cơ quan, đơn vị hoặc ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Continue reading

QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TANDTC VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE Ô TÔ TRẢ CHẬM

QUYẾT ĐỊNH SỐ 03/2003/HĐTP- KT NGÀY 24-02-2003 VỀ VỤ ÁN TRANH CHẤP
HỢP ĐỒNG MUA BÁN XE Ô TÔ TRẢ CHẬM

HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
……………..

Tại phiên toà ngày 24-02-2003 xét xử giám đốc thẩm vụ án kinh tế về tranh chấp hợp đồng mua bán xe ô tô trả chậm giữa:

Nguyên đơn: Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (tên giao dịch là VIDAMCO); có trụ sở tại xã Tứ Hiệp, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội;

Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thương mại Tân Á (tên giao dịch là TANACO); có trụ sở tại số 576A Lê Quang Định, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh;

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Thương mại cổ phần các doanh nghiệp ngoài quốc doanh (sau đây viết tắt là VP.Bank); có trụ sở tại số 18B Lê Thánh Tông, thành phố Hà Nội.

NHẬN THẤY

Ngày 07-07-1995, Công ty liên doanh ô tô Việt Nam Daewoo (sau đây viết tắt là Công ty VIDAMCO) đại diện là ông Chong Gi Lee Tổng giám đốc đã ký hợp đồng mua bán số VID-TNC/95702 bán xe ô tô theo phương thức trả chậm cho Công ty trách nhiệm hữu hạn xây dựng giao thông thương mại Tân Á (sau đây viết tắt là Công ty TANACO) với nội dung chủ yếu như sau:

Continue reading

GIỚI THIỆU LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

BỘ TƯ PHÁP
VỤ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

BỘ TÀI CHÍNH
VỤ PHÁP CHẾ

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

1. Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân là thể chế hoá chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tài chính
Nghị Quyết Đại hội Đảng IX và X đã xác định “Áp dụng thuế thu nhập cá nhân thống nhất và thuận lợi cho mọi đối tượng chịu thuế, bảo đảm công bằng xã hội và tạo động lực phát triển” và “Hoàn thiện hệ thống pháp luật về thuế theo nguyên tắc công bằng, thống nhất và đồng bộ…  Điều chỉnh chính sách thuế theo hướng giảm và ổn định thuế suất, mở rộng đối tượng thu, điều tiết hợp lý thu nhập”.  Cụ thể hoá Nghị quyết đại hội Đảng, Bộ Chính trị đã thông qua Chiến lược cải cách thuế đến năm 2010, trong đó đặt ra yêu cầu: “Cần sớm xác định các bước đi thích hợp để tăng tỷ trọng các nguồn thu trong nuớc cho phù hợp với tiến trình hội nhập. Mở rộng diện thuế trực thu và tăng tỷ lệ thu từ thuế trực thu”. Việc ban hành kịp thời Luật này là góp phần thể chế hoá chính sách thuế của Đảng.
2. Ban hành Luật thuế thu nhập cá nhân nhằm tăng cường công tác  kiểm soát, phân phối thu nhập và điều tiết vĩ mô nền kinh tế- xã hội
Trong hệ thống chính sách thuế gồm có các loại thuế gián thu và thuế trực thu. Thuế gián thu như: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, động viên thu nhập xã hội thông qua tiêu dùng của các tổ chức và cá nhân, không căn cứ vào thu nhập và gia cảnh của người nộp thuế. Thuế trực thu như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân. Trong đó thuế thu nhập doanh nghiệp điều tiết thu nhập của doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập của cá nhân.

Continue reading

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 5 MODUL1 LUẬT DÂN SỰ – TÀI SẢN

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

1. Điều kiện để vật là tài sản trong giao dịch dân sự;

2. Điều kiện để quyền là tài sản trong giao dịch dân sự;

3. Điều kiện để giấy tờ có giá là tài sản trong giao dịch dân sự;

4. Phân tích qui chế pháp lý đối với tiền là tài sản trong giao lưu dân sự;

5. So sánh qui chế pháp lý đối với tiền đồng Việt Nam (VND) và tiền nước ngoài (ngoại tệ);

6. Cho 10 ví dụ về tài sản gắn liền với đất là bất động sản;

7. Cho 10 ví dụ về tài sản gắn liền với công trình xây dựng là bất động sản;

8. Xác định qui chế pháp lý đối với tài sản là bất động sản;

10. Ý nghĩa của việc phân loại tài sản thành bất động sản và động sản;

11. Ngoài phân loại tài sản thành bất động sản và động sản nếu ít nhất 5 cách phân loại tài sản khác? ý  pháp lý? 3 ví dụ cho mỗi cách phân loại;

13. Phân chế tích chế độ pháp lý đối với tài sản;

Continue reading

TRANH CHẤP TÀI SẢN KHI LY HÔN: TAND TỈNH KIÊN GIANG "TIỀN HẬU BẤT NHẤT" XUNG QUANH VỤ KIỆN"CHIA TÀI SẢN SAU LY HÔN"

THIÊN LONG

Qua 4 lần xét xử, vụ kiện “chia tài sản sau ly hôn” giữa anh Hồ Văn Phước và chị Nguyễn Thị Tuyết Sương đã được định đoạt bằng bản án số 27/HNPT của TAND tỉnh Kiến Giang ngày 28.9.2007. Bản án này đã gây bất bình trong dư luận, còn VKSND tỉnh Kiên Giang ra văn bản gửi VKSND – TC đề nghị xem xét, kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm.

Bạc đãi vợ con vẫn được Toà “bênh”?

Theo hồ sơ tài liệu cho thấy: Năm 1987, anh Hồ Văn Phước (SN 1962) kết hôn với chị Trần Thị Tuyết Sương (SN 1966). Mãi đến năm 2000, vợ chồng Phước – Sang mới sinh một con trai tên là Hồ Phước Thắng. Năm 2001, hai vợ chồng vay mượn rất nhiều tiền để mua một nhà máy xay lúa cũ với giá 70 triệu đồng và sắm sửa nhiều tài sản. Quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Anh Phước đã bỏ nhà ra đi trong một thời gian dài, sau đó lại về nhà. Đến tháng 10.2004 thì vợ chồng chính thức ly thân. Trong thời gian anh Phước sống ở bên ngoài với người đàn bà khác (theo lời chị Sương kể), chị Sương đã phải giật gấu, vá vai, vay nhờ cầu cạnh nhiều nơi, một mình tần tảo kinh doanh để trả khoản nợ chung của vợ chồng (trên dưới 250 triệu đồng). Đến khi mẹ con chị Sương ăn nên làm ra, mua sắm nhiều tài sản có giá trị cũng là lúc anh Phước trở về nhà yêu cầu ly hôn và chia tài sản.

Continue reading

NGUYÊN TẮC TRỌNG PHÁP TRONG BAN HÀNH VĂN BẢN

LG. LÊ VĂN CHẤN

Công văn

Một vấn đề bức xúc hiện nay, xuất phát từ các cơ quan hành chính là việc ban hành các văn bản không đúng thẩm quyền hoặc văn bản của cấp dưới trái với nội dung cấp trên. Cá biệt, có trường hợp văn bản có nội dung trái pháp luật và không hợp lý. Nguyên tắc trọng pháp trong việc ban hành văn bản, phải được tôn trọng.

Thường thường người ta hiểu qua danh từ “công văn” những văn thư giao dịch của cơ quan hành chính.

Hiểu như vậy không phải là sai, nhưng không hoàn toàn đúng. Thật vậy những văn thư giao dịch của  cơ quan hành chính chắc chắn là công văn rồi. Nhưng không phải chỉ gồm có văn thư giao dịch của những cơ quan hành chính. Mọi tài liệu xuất phát từ  cơ quan công quyền (hành chính, tư pháp, lập pháp) đều là công văn, nếu nó được lập ra nhằm mục tiêu điều hành guồng máy công quyền và nội dung của nó có liên quan đến hoạt động công sở.

Công văn có những đặc tính sau đây:

– Phải do một cơ quan công quyền lập ra (có thể là cơ quan hành chính nhà nước như Bộ tài chính, có thể là cơ quan tư pháp như tòa án nhân dân, có thể là cơ quan lập pháp như Quốc hội);

Continue reading

HỘI NHẬP THẾ GIỚI BẰNG NỀN LUẬT HỌC MỚI

DU LONG

Càng sớm bớt ‘cá biệt hoá” luật pháp, càng sớm “tương đồng hoá” (về phương pháp luận) với luật pháp quốc tế, con đường hội nhập sẽ an toàn hơn, do lẽ luật pháp chính là nền tảng của những giao thương, nhất là khi ở nước ngoài thiên hạ rất khoái sử dụng luật pháp để tranh tụng, để đấu lý. Hơn chục năm hội nhập qua mới chỉ là bước dạo đầu, chưa phải ràng buộc gì với ai.. Nay từng bước phát triển  đều phải trong khuôn khổ của các hiệp định. Sẽ là lầm lẫn nếu coi nhẹ yếu tố luật pháp, một thách đố sẽ ngày càng cam go trên con đường hội nhập

Chìa khóa đầu tiên

Từ chục năm qua từ ngữ hội nhập đã trở thành thông dụng, vừa như  là một yêu cầu của phát triển , vừa như là một cảnh giác qua cụm từ “hoà nhập chứ không hoà tan”. Với thời gian, quá trình hội nhập ngày càng bức bách hơn, nhất là trong lĩnh vực kinh tế, do những yếu tố khách quan mới mẻ như  Hiệp định thương mại Việt- Mỹ nay đã có hiệu lực thi hành, như việc láng giềng Trung Quốc gia nhập WTO, như việc sắp sửa mở cửa hàng rào thuế khoá để tham gia AFTA… Đáp ứng được chừng đó yêu cầu sẽ là “mệt bở hơi tai” rồi, đó là chưa nói đến thách đố “đừng để thua ngay trên sân nhà”. Thế nhưng, những thách đố đó mới chỉ là một phần của bài toán “hội nhập”. Vấn đề còn nằm ở chỗ khác: những tranh tụng pháp luật mà vụ đụng độ cá catfish của Mỹ / cá basa VN mới chỉ là nốt nhạc mở đầu.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN NHÀ Ở: VỤ KIỆN MUA NHÀ TẠI SỐ 2 LÒ ĐÚC – HÀ NỘI VÌ SAO ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC BỊ TRÌ HOÃN THI HÀNH?

QUỐC LUẬT

Vụ án dân sự có nguyên đơn là ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La cùng trú tại số 4 Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị đơn là ông Hoàng Tiến Lân Hưng và bà Phạm Thị Phấn cùng trú tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Theo đơn khởi kiện, ông Giai có nhu cầu mua nhà để ở và biết ông Hoàng Tiến Lân Hưng có nhu cầu bán nhà nên ngày 06.5.2004 hai bên đã làm Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất với nội dung: Ông Hoàng Tiến Lân Hưng đã nhận của ông Giai số tiền đặt cọc là 112 triệu đồng để mua lại “Hợp đồng thuê nhà Nhà nước” của ông Hưng tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và hẹn đến ngày 16.6.2004 ông Giai sẽ thanh toán đủ số tiền 438 triệu đồng (tổng số tiền là 550 triệu đồng) còn lại cho ông Hưng và nhận nhà.

Hợp đồng có ghi: Nếu ông Hưng đã nhận tiền đặt cọc nhưng không bán nhà nữa hoặc không thực hiện đúng với các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này thì ông Hưng phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà ông Giai đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt cho ông Giai số tiền bằng số tiền đã đặt cọc. Hợp đồng đã được cả bốn người nêu trên cùng ký. Đến ngày 24.5.2004 ông Giai giao tiếp số tiền 38 triệu đồng đặt cọc cho ông Hưng, ngày 25.5.2004 bản khai chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Giai và ông Hưng được UBND phường Phạm Đình Hổ xác nhận.

Continue reading

NHÌN NHẬN LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI KÌ HỘI NHẬP VÀ TOÀN CẦU HOÁ

TS. DƯƠNG HỒNG PHƯƠNG

Lạm phát cơ bản – Một số kinh nghiệm trong áp dụng thực tiễn ở các nước

Xu hướng hiện nay trên thế giới, đặc biệt ở các nước công nghiệp tiên tiến như Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia, Niu Dilân hay các nước thuộc Liên minh Châu Âu EU, bên cạnh chỉ số CPI thông thường, Ngân hàng Trung ương (NHTW) luôn công bố cả lạm phát cơ bản của nền kinh tế. “Lạm phát cơ bản” được hiểu là lạm phát đã được điều hòa (điều chỉnh một cách đều đặn) theo các yếu tố sức ép bên cầu và những trông chờ kỳ vọng vào tương lai có loại bỏ những biến động lớn gây sốc bên cung (ví dụ các biến động thời vụ hoặc các cú sốc đột biến).

Mặc cho sự tồn tại của nhiều cách đo lường khác nhau nhưng các định nghĩa về lạm phát cơ bản không phải là tùy tiện. ở đâu cũng vậy, ý tưởng chính đằng sau khái niệm lạm phát cơ bản là việc loại trừ những biến động nhất định về giá cả một số hàng hóa, làm méo mó việc đo lường xu hướng lạm phát của một nước. Đặc biệt đối với một số loại giá được coi là có biến động lớn, khá ngẫu nhiên, mang tính nhất thời và không theo bất cứ một xu hướng nào. Tất cả những loại giá đó chỉ gây ra sự thay đổi tạm thời mặt bằng giá nói chung và sẽ lại biến mất ngay sau đó. Những biến động bất thường này sẽ xảy ra, ví dụ trong trường hợp của các loại lương thực thực phẩm tươi sống theo thời vụ và chủ yếu phụ thuộc vào sự biến động của chất lượng mùa màng do tác động của thiên tai hay những sự cố bệnh dịch như bệnh dịch bò điên hay dịch cúm gà… gây ra.

Continue reading

QUAN HỆ SỞ HỮU: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TS. HỒ TẤN PHONG

Nhiều năm ở nước ta đã quan niệm sở hữu là mục đích, cho rằng có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất XHCN để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Nhưng thực tiễn  vội vàng mở rộng phạm vi quốc hữu hóa, nôn nóng thực hiện hợp tác hóa – đồng nhất với tập thể hóa và nhiều sai lầm khác trong quản lý, phân phối…đã đưa tới một chế độ công hữu cùng làm chủ mà thực tế nhiều nơi, nhiều lúc là vô chủ. Rất nhiều ý kiến phê phán sở hữu toàn dân trước đây là hư ảo.

Sở hữu và vị trí của vấn đề này

Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. Điều này có nghĩa là khi nói về sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà hết sức quan trọng là nói về quan hệ giữa người với người diễn ra sự chiếm hữu đó.

Người ta phân biệt hai loại sở hữu: loại sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở, sở hữu đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất.

Quan hệ sở hữu mà Marx đề cập, với tư cách là nội dung cơ bản mang tính quyết định trong 3 nội dung của quan hệ sản xuất, chính là nói loại sở hữu về tư liệu sản xuất. Tuyên ngôn Đảng cộng sản nói người vô sản không có sở hữu là nói về sở hữu tư liệu sản xuất.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐUỔI VỢ CŨ RA KHỎI NHÀ

M.T.P

Ông Đức Anh đã đuổi mẹ con bà Hoa (vợ đã li hôn) ra khỏi nhà và chiếm ở cho đến nay. Bà Hoa phải thuê căn phòng trọ rộng khoảng 4m2 để làm nơi tá túc. Các con của bà không được đi học mẫu giáo vì đã mấy tháng nay, ông Đức Anh không gửi tiền trợ cấp.

Báo CAND vừa nhận được đơn của bà Đoàn Thị Hoa (hộ khẩu thường trú ở Tiền Hải, Thái Bình) tố cáo ông Nguyễn Đức Anh (cán bộ Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận 12) chiếm giữ ngôi nhà số 41/36, tổ 41 (nay là tổ 38A), khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp (quận 12) mà bà đã mua vào tháng 4/2007. Sự thật như thế nào?

Bà Đoàn Thị Hoa cho biết: Bà và ông Nguyễn Đức Anh trước đây là vợ chồng và đã có hai con chung sinh năm 2003 và 2005. Nhưng do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà Hoa đứng đơn xin ly hôn và được TAND quận 12 ra quyết định công nhận sự thỏa thuận ly hôn vào ngày 21/7/2006.

Theo quyết định này thì bà Hoa trực tiếp nuôi hai con chung, ông Đức Anh có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2 triệu đồng. Về tài sản chung của hai người không yêu cầu tòa án giải quyết mà tự thỏa thuận với nhau.

Continue reading

LUẬT CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – TÌM HIỂU NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM

NGUYỄN VIỆT HẰNG

Dự án Luật Chứng khoán đã được Quốc hội xem xét và thông qua ngay trong một kỳ họp (tháng 5/2006). Luật Chứng khoán ban hành sẽ đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thị trường, đảm bảo duy trì một thị trường công bằng, công khai minh bạch bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Để điều chỉnh hoạt động của thị trường bên cạnh những quy định liên quan đến các lĩnh vực như: hoạt động phát hành, kinh doanh, giao dịch chứng khoán… thì một trong những nét đặc thù của Luật Chứng khoán là việc xử lý vi phạm đã được cụ thể hóa ngay trong Luật. Và đây cũng là vấn đề mới mà từ trước đến nay chưa có trong truyền thống lập pháp của Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này tác giả đã đề cập đến một số nội dung quy định xử lý vi phạm trong Luật Chứng khoán.

Kinh nghiệm các nước và thực tiễn Việt Nam

Xử lý vi phạm là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng để duy trì một TTCK minh bạch (điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thành công của thị trường), từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy: phần lớn Luật Chứng khoán đều dành một chương để quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi nước cũng có những cách thức quy định khác nhau về xử lý vi phạm như: Quy định ngay chế tài phạt tiền, phạt tù trong Luật Chứng khoán (Mỹ, Nhật, Thái Lan…); Quy định chế tài phạt tiền trong Luật Chứng khoán, còn phạt tù được quy định trong Luật Hình sự (Trung Quốc); hay Chế tài phạt tiền (phạt hành chính) được quy định trong một văn bản riêng, còn chế tài phạt tù được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Continue reading

TRUNG QUỐC: ĐIỀU TIẾT LẠI MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ DOANH NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO

DƯƠNG HẢI YẾN

Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Trung Quốc sau khi chính thức gia nhập WTO, căn cứ theo quy tắc chung của nền kinh tế thị trường, đã và đang tiến hành điều tiết lại phạm vi quản lý trong mối quan hệ giữa chính phủ và các đơn vị sản xuất kinh doanh. Hầu hết các đơn vị hoạt động kinh tế trong nước đều nhận định rằng, hiện tại sở dĩ các doanh nghiệp còn gặp nhiều ràng buộc trong quá trình phát triển một phần không nhỏ là do mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa được xử lý tốt. Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Continue reading

CHUYỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN: NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ

THS. LÊ VĂN HƯNG (Bài viết được hoàn thành khi chưa có luật doanh nghiệp năm 2005 và những văn bản luật có liên quan)

Ngày 14 tháng 9 năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/CP về “Chuyển doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành công ty TNHH một thành viên” (sau đây gọi tắt là Nghị định 63/CP). Sự ra đời của chủ trương trên được đánh giá là một trong những bước đi quan trọng của Nhà nước trong nỗ lực đổi mới cơ chế tổ chức quản lý DNNN, nhằm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của DNNN kéo dài trong nhiều năm.

Chủ sở hữu

Công ty TNHH một thành viên là một mô hình doanh nghiệp được đề cập đến trong Luật doanh nghiệp (12.6.1999). Điều 46 của Luật định nghĩa: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Như vậy, Luật doanh nghiệp xác định rõ, chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên ở đây phải là một tổ chức. Nghị định 03/CP ngày 3.2.2000 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp đã liệt kê 16 loại tổ chức khác nhau làm chủ sở hữu công ty bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,….

Continue reading

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC KHÁI NIỆM GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

PGS. TS. TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN

Một trong những vấn đề lý luận mang tính cốt lõi cần ưu tiên làm sáng rõ để việc nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN được nhanh và đúng là vấn đề nhận thức nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư. Nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác, theo tôi, có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ.

Sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB)

Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất TBCN, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của CNTB.

Trong hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào việc mua sắm sức lao động và tư liệu sản xuất. Còn mục đích của nhà tư bản khi chi tiền ra mua sắm các thứ đó chẳng có gì khác hơn là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà mình đã ứng chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra đó chính là giá trị thặng dư.

Tư liệu sản xuất như nhà xưởng, công trình kiến trúc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu phụ… là tư bản bất biến. Nó không thay đổi lượng giá trị trong quá trình sản xuất mà chỉ chuyển hóa giá trị của nó sang các sản phẩm mới được sản xuất ra. Nó không thể là nguồn gốc của  giá trị thặng dư. Còn sức lao động thì trong quá trình tiêu dùng nó, tức là trong quá trình sử dụng nó vào lao động sản xuất, nó có khả năng tạo ra giá trị mới mà lại lớn hơn cái giá trị của bản thân nó. Sức lao động là tư bản khả biến.

Continue reading