QUỐC HỘI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CEDAW

logo_cedaw TS. BÙI NGỌC THANH

CEDAW là Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, là văn bản pháp luật quốc tế quy định về các quyền của phụ nữ. Công ước gồm 6 phần với 30 điều, đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18-12- 1979 và có hiệu lực từ ngày 5-9- 1981.

Đến nay đó có hơn 180 nước ký tham gia công ước. Ngoài phần V và phần VI gồm 14 điều là những vấn đề tổ chức bộ máy và thể thức hoạt đông của Ủy ban Xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ thì bốn phần đầu gồm 16 Điều là nội dung chính của Công ước. Các nội dung này có thể chia làm 2 nhóm vấn đề.

Nhóm thứ nhất là Pháp luật hóa nguyên tắc bình đẳng nam – nữ, bình đẳng giới. Trước hết, mỗi nước phải ghi vào Hiến pháp các điều khoản về quyền bình đẳng nam – nữ. Tiếp đó, các đạo luật phải thể hiện chi tiết, cụ thể các quyền này; đặc biệt là Luật hình sự phải thể hiện rõ việc xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ. Sau đó Nhà nước phải thể hiện bằng các chính sách có tính khả thi, có hiệu quả để bảo đảm cho việc đối xử bình đẳng.

Tất cả các đạo luật, các chính sách đều phải nhằm mục tiêu bảo đảm sự phát triển và sự tiến bộ đầy đủ, toàn diện của phụ nữ.

Nhóm thứ hai là những nội dung cơ bản của việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử. Ở nhóm này có thể đề cập tới 10 nội dung cơ bản:

Continue reading

SUY NGẪM 20

70105000-125893sm Trong phiên thảo luận của  Quốc hội ngày 22/10/2008 về Dự thảo Luật Qui hoạch đô thị, Phó BT thành ủy, Chủ tịch HĐND TPHCM cho rằng, làm quy hoạch thì không nên chỉ chú ý hạ tầng kỹ thuật mà bỏ quên hạ tầng xã hội. “TP.HCM có những khu chế xuất như Linh Trung có tới 150.000 dân mà không một cái chợ nào có trong quy hoạch. Vậy làm sao mà quản lý được đô thị?“.

Bà cũng đưa ra một ví dụ, có khu dân cư dành cho công nhân có hàng chục chợ tạm hình thành tự phát, giờ không quản lý được gây nhiều khó khăn cho công tác qui hoạch.

Civillawinfor không hiểu, phải chăng từ trước đến nay chúng ta xây dựng đô thị không có qui hoạch? Trách nhiệm qui hoạch và thẩm quyền phê duyệt qui hoạch thuộc về ai trên địa bàn TPHCM nói riêng và  ở các đô thị khác trên cả nước??? Continue reading

CẢI TỔ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. NGUYỄN QUANG A

Quan niệm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” của Đảng CSVN trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực. Từ chỗ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng nghĩa với khu vực các doanh nghiệp quốc doanh “chiếm tỉ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông” (Đại hội VI của Đảng CSVN tháng 12.1986), đến tháng 3.1989 vẫn coi kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, song “không nhất thiết chiếm tỉ trọng lớn trong mọi ngành, nghề”.

Vào đầu các năm 1990, kinh tế quốc doanh nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp (toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước), chiếm tỉ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong các ngành phi nông nghiệp. Cương lĩnh 1991 của Đảng CSVN nêu gọn “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng CSVN năm 1991 nói rõ hơn : “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh…
Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh thì Nhà nước chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có chính sách giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”. Đại hội X của Đảng CSVN nêu quan điểm “phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Continue reading

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG DOANH NGHIỆP

LỆ HẰNG – Bộ Tư pháp

Trong vài năm trở lại đây, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới và Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì doanh nghiệp Việt Nam đã dần nhận thấy vai trò của tư vấn pháp luật và việc các doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật trong nhiều trường hợp đã không còn mới mẻ và xa lạ, đặc biệt là khi có các sự cố xảy ra như bị truy cứu trách nhiệm vì vi phạm pháp luật, tranh chấp hợp đồng, đòi nợ…

1. Sự cần thiết của tư vấn pháp luật:

          Tư vấn pháp luật là hoạt động cung cấp thông tin pháp luật, giải thích pháp luật cho doanh nghiệp và định hướng hành vi của doanh nghiệp trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã dự liệu trước. Tư vấn pháp luật sẽ đưa ra các giả thiết và những giải pháp tối ưu để doanh nghiệp lựa chọn khi có các vấn đề liên quan đến pháp luật. Điều này nhằm mục đích đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vận hành trong hành lang pháp lý và nắm bắt tối đa cơ hội kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.

2. Doanh nghiệp có cần tư vấn pháp lý không?

          Câu hỏi này nếu đặt ra các chắc chắn sẽ được đa số lãnh đạo các doanh nghiệp trả lời là có. Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật thậm chí còn lơ là, không quan tâm đến những thay đổi trong các chính sách pháp luật, điều này tập trung phần lớn trong bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sẽ thật là sai lầm nếu doanh nghiệp tiếp tục hướng đi trên bởi khi nền kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế … thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp. Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật. Để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đúng pháp luật, phòng tránh rủi ro pháp lý trong kinh doanh thì doanh nghiệp rất cần phải có tư vấn pháp luật.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: TÒA ÁN HAI CẤP XÉT XỬ THEO HƯỚNG “LỠ CHIẾM ĐẤT XỬ MUA LUÔN”

MINH NGUYÊN

Ông Nguyễn Văn Đức có 10 ngàn m2 đất ở xã Trí Bình (huyện Châu Thành, Tây Ninh) đã được cấp “giấy đỏ” vào năm 2003. Thế nhưng đất của ông đã bị người khác lấn chiếm trái phép và có nguy cơ ông phải “bán rẻ” cho người này.

Theo ông Đức, tháng 6-2006, ông Nguyễn Văn Triều đã xây nhà kiên cố trên phần đất của ông Đức. Ngày 8-6-2006, tổ kiểm tra gồm cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, địa chính xã đến lập biên bản yêu cầu ông Triều đình chỉ xây dựng. Biên bản có ghi ông Triều cho rằng miếng đất này là đất của ông, không tranh chấp với ai, trước khi xây dựng ông có báo với UBND xã. Ngày hôm sau, tổ kiểm tra đến làm việc lại phát hiện ông Triều tiếp tục xây dựng. tổ tiếp tục lập biên bản buộc đình chỉ xây dựng nhà trái phép, nếu cố tình vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên, khi tổ kiểm tra đi thì ông Triều vẫn tiếp tục cho xây nhà.

Thấy không ăn thua, ông Đức khởi kiện ông Triều tại TAND huyện Châu Thành. Tòa đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc ông Triều đình lại mọi hành vi xây dựng trên diện tích đất đang tranh chấp để bảo đảm cho việc xét xử. Song ông Triều vẫn tiếp tục thi công cho đến khi hoàn thành căn nhà mà không bị cơ quan chức năng xử lý.

 

Continue reading

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật – VP Chính phủ

Trong một bài viết với nhan đề: “Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề cần quan tâm nghiên cứu khi xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi”  chúng tôi đã có một số trao đổi bước đầu về địa vị pháp lý của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG). Để nhận diện rõ hơn vị trí, vai trò của tổ chức này trong cơ cấu các định chế tài chính của nền kinh tế thị trường cũng như trong vai trò công cụ bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, chúng tôi xin được tiếp tục trao đổi một số khía cạnh về địa vị pháp lý của tổ chức này, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu xây dựng Luật BHTG trong thời gian tới.

1. Về bản chất, tổ chức BHTG ở Việt Nam dù được tổ chức và hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào, là tổ chức tài chính của Nhà nước, một định chế tài chính độc lập, hoạt động theo luật hay có tên gọi là một Tổng công ty thì nó vẫn mang bản chất của một tổ chức bảo hiểm. Và do vậy, họat động của BHTG vẫn cơ bản dựa theo nguyên lý của hoạt động bảo hiểm là bù đắp rủi ro theo cơ chế lấy số đông bù cho số ít.

2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của BHTG trong hệ thống các cơ quan và các định chế bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. BHTG với tư cách là một tổ chức bảo hiểm, hoạt động theo những nguyên lý của bảo hiểm. Tuy nhiên, trong kinh tế hiện đại, BHTG không phải chỉ là một tổ chức bảo hiểm đơn thuần, làm nhiệm vụ thu phí của nhiều người tham gia bảo hiểm để bù đắp, để khắc phục hậu quả cho một số ít người bị rủi ro. BHTG có và phải thực hiện được vai trò nhất định trong việc tham gia quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tham gia bảo hiểm khác, và hơn nữa là có vai trò trong giám sát và góp phần bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia.

Continue reading