CÒN NHIỀU ĐIỀU MÙ MỜ CHUNG QUANH QUY ĐỊNH VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – BaoViet Bank

Là đạo luật đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta, nhưng Luật Đất đai vẫn luôn ở trong tình trạng phức tạp, rối ren và bất cập.

1. Cần loại bỏ khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất: 

Khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003 đã bị “vô hiệu hoá”. Vì theo Bộ luật Dân sự năm 2005, chỉ còn thế chấp, chứ không còn bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Dùng quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho mình hay cho người khác thì cũng đều được gọi chung là thế chấp. Vì vậy, đề nghị khai tử 44 chữ “bảo lãnh” trong Luật hiện hành.
Hai luật vênh nhau làm cho Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 về giao dịch bảo đảm phải quy định: Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất.

2. Phải trả lại quyền chính đáng cho chủ đất:

Dự luật đã sửa đổi một quy định bất hợp lý tại khoản 7, Điều 113 của Luật hiện hành là: Hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (không được thế chấp để phục vụ nhu cầu đời sống, kể cả vay vốn để học tập hay trị bệnh cứu người) bằng việc được thế chấp “theo quy định của pháp luật về dân sự” (khoản 33, Điều 1 của Dự thảo). Tuy nhiên, Dự luật vẫn không sửa đổi quy định tại khoản 2, Điều 110 của Luật hiện hành là: Tổ chức kinh tế chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng “để vay vốn”. Vậy, tại sao lại không được thế chấp để được bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán hay rộng hơn nữa là để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại của tổ chức kinh tế?

Continue reading

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH NHƯ THẾ NÀO?

PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Những biến động ngày càng phức tạp của giá cả nguyên liệu, lãi suất, tỷ giá, đã làm cho  rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó lường. Tuy nhiên, liệu điều đó có dẫn đến việc các công cụ phái sinh dùng để phòng ngừa rủi ro tài chính đang được quan tâm nhiều hơn và sử dụng rộng rãi hơn chăng? Để làm sáng tỏ vấn đề này, một cuộc điều tra khảo sát về thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp VN đã được thực hiện.

1. Phương pháp nghiên cứu điều tra và xử lý số liệu

Mô phỏng theo phương pháp nghiên cứu của trường kinh doanh Wharton trong những năm 1995 và 1998 về việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính ở Mỹ, chúng tôi đã thiết kế bảng câu hỏi điều tra về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và mối quan tâm đến sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp VN.

Điểm khác biệt so với hai bảng điều tra của Wharton là đưa vào mẫu nghiên cứu cả những doanh nghiệp tài chính, trong khi điều tra của Wharton là không đưa vào mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp tài chính. Điều này xuất phát từ thực tiễn của VN trong thời gian qua là biến động lãi suất, tỷ giá đã tác động rất mạnh mẽ đến hệ thống ngân hàng và buộc hệ thống ngân hàng đứng trước những rủi ro tài chính rất lớn. Mặt khác, do đặc thù của VN khác với Mỹ: Trong khi các ngân hàng của Mỹ hầu hết đều sử dụng sản phẩm phái sinh vì đặc điểm kinh doanh của họ và độ chín muồi của thị trường Mỹ thì các ngân hàng VN có thể vẫn không quan tâm đến sản phẩm này mà vẫn chấp nhận rủi ro nhiều hơn với niềm tin rằng thiệt hại là không dễ xảy ra và có thể chấp nhận được.

Continue reading

LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC SẼ KHÔNG LÀM CÔNG CHỨC "RUN TAY"

THỜI BÁO KINH TẾ – Dự kiến cuối năm 2009, Quốc hội sẽ thông qua Luật Bồi thường Nhà nước và Cục Bồi thường Nhà nước sẽ được thành lập. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự và kinh tế, Bộ Tư pháp.

Xin ông cho biết thực trạng của pháp luật về bồi thường Nhà nước hiện nay?

Những quy định về bồi thường Nhà nước của nước ta đã có từ lâu, tuy nhiên các quy định này lại nằm phân tán ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, không có hệ thống và hiệu lực pháp lý của các văn bản điều chỉnh trực tiếp có giá trị thấp.

Bên cạnh đó, thủ tục giải quyết bồi thường chưa có quy định thống nhất và hạn chế quyền của bên bị thiệt hại. Đối với việc giải quyết bồi thường thiệt hại như Nghị định 47 quy định về việc xét giải quyết bồi thường thông qua một Hội đồng xét duyệt mà không quy định về thủ tục giải quyết tại tòa án.

Các loại thiệt hại được Nhà nước bồi thường được quy định còn chung chung, chưa cụ thể nên khó áp dụng. Các quy định trước đây chỉ quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần, vật chất nhưng còn những thiệt hại khác như: phục hồi vị trí công tác, chế độ hưu trí đối với cá nhân thì chưa rõ.

Continue reading

LẠM BÀN VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc Đảng và Nhà nước có chủ trương chuyển đổi doanh nghiệp 100% nhà nước thành công ty cổ phần (cổ phần hoá) không chỉ nhằm đa dạng hoá sở hữu, nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện cho người lao động làm chủ, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của họ.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Nhà nước đã quyết định cổ phần hoá tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước (một loại hình doanh nghiệp nhà nước). Trước đây, toàn hệ thống ngân hàng có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Theo lộ trình cổ phần hoá được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Vietcombank đã chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam từ ngày 02/6/2008. Dự kiến, Nhà nước tiếp tục cổ phần hoá MHB trong năm 2008 và Vietinbank, BIDV trong năm 2009(1).

Continue reading

TRÍ THỨC CÓ VỊ TRÍ KHÔNG THỂ THAY THẾ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

educ-symbol  GS. TƯƠNG LAI

Trí thức luôn là câu chuyện thời sự, chẳng phải bây giờ người ta mới sôi nổi luận bàn mà đây là chủ đề xuyên thời gian. Thì các cụ ta xưa chẳng luôn bận tâm răn dạy con cháu “nhân bất học bất tri lý”đó sao. Có phải vì thế mà trong thang bậc giá trị xã hội, các cụ để kẻ sĩ đứng đầu. Nguyễn Công Trứ thì còn hào hùng hơn, trong “Luận kẻ sĩ”, ông khẳng định “Có giang san thời sĩ đã có tên”.

      Tác giả của “Luận kẻ sĩ” ấy từng là bậc kinh bang tế thế, một danh tướng cầm quân dẹp cường khấu ở Lạng Sơn, bắt Phiên tặc ở thành Trấn Tây, trừ Hải tặc ở ngoài Đông Hải … đồng thời cũng là người chỉ huy công cuộc lấn biển mở đất ở Kim Sơn, Tiền Hải, đắp đê ngăn mặn ở Hải Dương vùng châu thổ sông Hồng, rồi khơi dòng Mê kông ở Long Xuyên vùng đồng bằng sông Cửu Long…Cũng là một người “lấy chính đạo” để chống tham nhũng ngay giữa triều đình. Quả thật đúng như ông tâm nguyện “Trong lăng miếu ra tài lương đống, Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”. Về thơ văn, con người ấy cũng chiếm riêng một góc độc đáo trong lịch sử văn hóa nước nhà.
      Với tám mươi tuổi đời, tuyên ngôn của ông “Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh mà đối với núi sông” đã được sự nghiệp của ông chứng minh. Đương nhiên phải hiêèu chữ “danh” ông nói đây theo nghĩa rộng, vượt khỏi “vòng danh lợi” hạn hẹp và có khi thấp kém, mà “danh” là sự nghiệp làm nên sử sách, là sự cống hiến cho giang sơn tổ quốc. Cái “danh” ấy được khởi nguồn từ một ý tưởng cao cả: “Vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình.

Continue reading

THANH TRA 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2008: PHÁT HIỆN 966,57 TỶ ĐỒNG VÀ 45,6 NGHÌN ĐÔ LA

CPV – “6 tháng đầu năm 2008, Thanh tra Chính phủ đã kết luận 8 cuộc thanh tra, phát hiện sai phạm 966,57 tỷ đồng và 45,6 nghìn USD. Đã kiến nghị thu gồi 668,6 tỷ đồng và 45,6 nghìn USD; kiến nghị xử lý hành chính 9 tập thể, 29 cá nhân; chuyển 2 vụ việc sang cơ quan điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự”.

Đó là kết quả mà Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cho biết tại Hội nghị phối hợp về công tác phòng, chống tham nhũng trong 6 tháng đầu năm 2008 giữa Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được diễn ra vào sáng nay (5/7) tại Hà Nội.

Ông Trương Vĩnh Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; ông Huỳnh Đảm, UVTW Đảng, Chủ tịch Ủy ban TW MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị. Tham gia Hội nghị còn có ông Vũ Trọng Kim, UVTW Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban TW MTTQ Việt Nam; bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, UVTW Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cùng đại diện các Bộ, Ban, Ngành của Trung ương.

Continue reading