QUAN HỆ SỞ HỮU: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

TS. HỒ TẤN PHONG

Nhiều năm ở nước ta đã quan niệm sở hữu là mục đích, cho rằng có thể xác lập sớm một chế độ công hữu, một quan hệ sản xuất XHCN để lôi kéo, thúc đẩy lực lượng sản xuất lạc hậu. Nhưng thực tiễn  vội vàng mở rộng phạm vi quốc hữu hóa, nôn nóng thực hiện hợp tác hóa – đồng nhất với tập thể hóa và nhiều sai lầm khác trong quản lý, phân phối…đã đưa tới một chế độ công hữu cùng làm chủ mà thực tế nhiều nơi, nhiều lúc là vô chủ. Rất nhiều ý kiến phê phán sở hữu toàn dân trước đây là hư ảo.

Sở hữu và vị trí của vấn đề này

Sở hữu là quan hệ xã hội giữa người với người về việc chiếm hữu tư liệu sản xuất và của cải xã hội. Điều này có nghĩa là khi nói về sở hữu không chỉ bao gồm quan hệ con người chiếm hữu tư liệu sản xuất, của cải, mà hết sức quan trọng là nói về quan hệ giữa người với người diễn ra sự chiếm hữu đó.

Người ta phân biệt hai loại sở hữu: loại sở hữu mang tính dân sự (sở hữu nhà ở, sở hữu đồ dùng cá nhân) và sở hữu tư liệu sản xuất.

Quan hệ sở hữu mà Marx đề cập, với tư cách là nội dung cơ bản mang tính quyết định trong 3 nội dung của quan hệ sản xuất, chính là nói loại sở hữu về tư liệu sản xuất. Tuyên ngôn Đảng cộng sản nói người vô sản không có sở hữu là nói về sở hữu tư liệu sản xuất.

Continue reading

TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH: ĐUỔI VỢ CŨ RA KHỎI NHÀ

M.T.P

Ông Đức Anh đã đuổi mẹ con bà Hoa (vợ đã li hôn) ra khỏi nhà và chiếm ở cho đến nay. Bà Hoa phải thuê căn phòng trọ rộng khoảng 4m2 để làm nơi tá túc. Các con của bà không được đi học mẫu giáo vì đã mấy tháng nay, ông Đức Anh không gửi tiền trợ cấp.

Báo CAND vừa nhận được đơn của bà Đoàn Thị Hoa (hộ khẩu thường trú ở Tiền Hải, Thái Bình) tố cáo ông Nguyễn Đức Anh (cán bộ Ban bồi thường giải phóng mặt bằng quận 12) chiếm giữ ngôi nhà số 41/36, tổ 41 (nay là tổ 38A), khu phố 3, phường Tân Chánh Hiệp (quận 12) mà bà đã mua vào tháng 4/2007. Sự thật như thế nào?

Bà Đoàn Thị Hoa cho biết: Bà và ông Nguyễn Đức Anh trước đây là vợ chồng và đã có hai con chung sinh năm 2003 và 2005. Nhưng do mâu thuẫn không thể hàn gắn nên bà Hoa đứng đơn xin ly hôn và được TAND quận 12 ra quyết định công nhận sự thỏa thuận ly hôn vào ngày 21/7/2006.

Theo quyết định này thì bà Hoa trực tiếp nuôi hai con chung, ông Đức Anh có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2 triệu đồng. Về tài sản chung của hai người không yêu cầu tòa án giải quyết mà tự thỏa thuận với nhau.

Continue reading

LUẬT CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM – TÌM HIỂU NHỮNG QUI ĐỊNH VỀ XỬ LÝ VI PHẠM

NGUYỄN VIỆT HẰNG

Dự án Luật Chứng khoán đã được Quốc hội xem xét và thông qua ngay trong một kỳ họp (tháng 5/2006). Luật Chứng khoán ban hành sẽ đáp ứng được yêu cầu cấp thiết của thị trường, đảm bảo duy trì một thị trường công bằng, công khai minh bạch bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư. Để điều chỉnh hoạt động của thị trường bên cạnh những quy định liên quan đến các lĩnh vực như: hoạt động phát hành, kinh doanh, giao dịch chứng khoán… thì một trong những nét đặc thù của Luật Chứng khoán là việc xử lý vi phạm đã được cụ thể hóa ngay trong Luật. Và đây cũng là vấn đề mới mà từ trước đến nay chưa có trong truyền thống lập pháp của Việt Nam. Trong phạm vi bài viết này tác giả đã đề cập đến một số nội dung quy định xử lý vi phạm trong Luật Chứng khoán.

Kinh nghiệm các nước và thực tiễn Việt Nam

Xử lý vi phạm là một trong những yêu cầu đặc biệt quan trọng để duy trì một TTCK minh bạch (điều kiện tiên quyết để tạo nên sự thành công của thị trường), từ việc nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy: phần lớn Luật Chứng khoán đều dành một chương để quy định về vấn đề này. Tuy nhiên, mỗi nước cũng có những cách thức quy định khác nhau về xử lý vi phạm như: Quy định ngay chế tài phạt tiền, phạt tù trong Luật Chứng khoán (Mỹ, Nhật, Thái Lan…); Quy định chế tài phạt tiền trong Luật Chứng khoán, còn phạt tù được quy định trong Luật Hình sự (Trung Quốc); hay Chế tài phạt tiền (phạt hành chính) được quy định trong một văn bản riêng, còn chế tài phạt tù được quy định trong Bộ luật Hình sự.

Continue reading

TRUNG QUỐC: ĐIỀU TIẾT LẠI MỐI QUAN HỆ GIỮA CHÍNH QUYỀN VÀ DOANH NGHIỆP SAU KHI GIA NHẬP WTO

DƯƠNG HẢI YẾN

Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Trung Quốc sau khi chính thức gia nhập WTO, căn cứ theo quy tắc chung của nền kinh tế thị trường, đã và đang tiến hành điều tiết lại phạm vi quản lý trong mối quan hệ giữa chính phủ và các đơn vị sản xuất kinh doanh. Hầu hết các đơn vị hoạt động kinh tế trong nước đều nhận định rằng, hiện tại sở dĩ các doanh nghiệp còn gặp nhiều ràng buộc trong quá trình phát triển một phần không nhỏ là do mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và doanh nghiệp chưa được xử lý tốt. Chính phủ tỏ ra bất lực trong việc quản lý các doanh nghiệp nhà nước, nhưng đối với các thành phần kinh tế khác, chính phủ lại tổ chức can thiệp quá sâu. Sự thiếu hòa hợp trong quá trình điều tiết các mối quan hệ trên đã dẫn đến các đơn vị hoạt động kinh tế không thể phát triển một cách thuận lợi và nhanh chóng. Và giải quyết vấn đề này một trong những công việc mà chính phủ Trung Quốc cần thực hiện ngay sau khi gia nhập WTO.

Continue reading

CHUYỂN DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC THÀNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN: NHỮNG KHÍA CẠNH PHÁP LÝ

THS. LÊ VĂN HƯNG (Bài viết được hoàn thành khi chưa có luật doanh nghiệp năm 2005 và những văn bản luật có liên quan)

Ngày 14 tháng 9 năm 2001 Chính phủ đã ban hành Nghị định 63/CP về “Chuyển doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội thành công ty TNHH một thành viên” (sau đây gọi tắt là Nghị định 63/CP). Sự ra đời của chủ trương trên được đánh giá là một trong những bước đi quan trọng của Nhà nước trong nỗ lực đổi mới cơ chế tổ chức quản lý DNNN, nhằm khắc phục tình trạng kém hiệu quả của DNNN kéo dài trong nhiều năm.

Chủ sở hữu

Công ty TNHH một thành viên là một mô hình doanh nghiệp được đề cập đến trong Luật doanh nghiệp (12.6.1999). Điều 46 của Luật định nghĩa: Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp.

Như vậy, Luật doanh nghiệp xác định rõ, chủ sở hữu của công ty TNHH một thành viên ở đây phải là một tổ chức. Nghị định 03/CP ngày 3.2.2000 về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật doanh nghiệp đã liệt kê 16 loại tổ chức khác nhau làm chủ sở hữu công ty bao gồm các cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân dân, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế,….

Continue reading

VẤN ĐỀ NHẬN THỨC KHÁI NIỆM GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

PGS. TS. TRẦN TRỌNG ĐĂNG ĐÀN

Một trong những vấn đề lý luận mang tính cốt lõi cần ưu tiên làm sáng rõ để việc nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của VN được nhanh và đúng là vấn đề nhận thức nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư. Nội hàm của khái niệm giá trị thặng dư được tiếp nhận từ lý luận kinh tế của Mác, theo tôi, có thể gói gọn trong định nghĩa rằng: Giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhân làm thuê sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm đoạt toàn bộ.

Sản phẩm của chủ nghĩa tư bản (CNTB)

Việc sản sinh và chiếm đoạt giá trị thặng dư là sự phản ánh quan hệ sản xuất căn bản của phương thức sản xuất TBCN, phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của CNTB.

Trong hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào việc mua sắm sức lao động và tư liệu sản xuất. Còn mục đích của nhà tư bản khi chi tiền ra mua sắm các thứ đó chẳng có gì khác hơn là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà mình đã ứng chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra đó chính là giá trị thặng dư.

Tư liệu sản xuất như nhà xưởng, công trình kiến trúc, thiết bị, nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu phụ… là tư bản bất biến. Nó không thay đổi lượng giá trị trong quá trình sản xuất mà chỉ chuyển hóa giá trị của nó sang các sản phẩm mới được sản xuất ra. Nó không thể là nguồn gốc của  giá trị thặng dư. Còn sức lao động thì trong quá trình tiêu dùng nó, tức là trong quá trình sử dụng nó vào lao động sản xuất, nó có khả năng tạo ra giá trị mới mà lại lớn hơn cái giá trị của bản thân nó. Sức lao động là tư bản khả biến.

Continue reading