SUY NGẪM 18

[wallcoo.com]_flowers_0Vol_060_CL181a Các văn bản do chính phủ và cơ quan trực thuộc chính phủ đều qui định: Nghị định/thông tư …. có hiệu thi hành sau 15 ngày, kể từ ngày đăng Công báo.

Như vậy, người dân – chủ thể trực tiếp chịu tác động bởi các qui định trong các văn bản này, muốn biết chúng có hiệu lực đối với mình khi nào thì buộc phải tìm hiểu, tra cứu số công báo đã đăng văn bản và ngày đăng công báo?

Trên thực tế, công báo là thuật ngữ quá xa lạ và là hàng “xa xỉ phẩm” đối với đại đa số người dân!?

Nếu đây là qui định mang tính thói quen thì cần phải thay đổi. Nếu đó là nguyên tắc, thì phải chăng đây là một trong những dấu hiệu không minh bạch của pháp luật???

Civillawinfor

QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG TRONG HOẠT ĐỘNG HỢP TÁC SẢN XUẤT, KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT CỦA CỘNG HOÀ PHÁP

THS. BÙI MINH HỒNG – Khoa Luật dân sự – Đại học Luật HN (NCS tại CH Pháp)

Trong đời sống giao lưu dân sự, kinh tế, có rất nhiều chủ thể mang tư cách vợ (hoặc chồng). Việc thực hiện những quan hệ này còn phải tuân theo những quy định của Luật hôn nhân và gia đình về chế độ tài sản của vợ chồng. Tuy nhiên, thực tiễn lập pháp và nghiên cứu ở Việt Nam về vấn đề này dường như còn khá mới mẻ. Qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy Pháp luật của Cộng hoà Pháp có nhiều quy định quan trọng mà chúng ta có thể tham khảo. Trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung giới thiệu về “Sự hợp tác của vợ và chồng trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh”, mà tác giả cho rằng chúng có thể có giá trị cho sự hoàn thiện pháp luật Việt Nam phù hợp với đà phát triển của xã hội.

I. Những quy định của luật chung liên quan đến các hoạt động nghề nghiệp của vợ chồng

1.1. Quyền tự chủ của vợ, chồng về nghề nghiệp

Trong phần quy định về các nghĩa vụ và quyền của vợ và chồng, Bộ luật dân sự (BLDS) đã ghi nhận một quyền rất quan trọng cho mỗi bên vợ chồng: quyền tự chủ về nghề nghiệp. Điều 233 quy định: “Mỗi bên vợ chồng có quyền tự do thực hiện nghề nghiệp, thu những món lợi và tiền lương và định đoạt nó sau khi đã đóng góp trách nhiệm đối với đời sống chung”. Sự tự chủ về nghề nghiệp có ý nghĩa đảm bảo cho vợ, chồng thực hiện được trách nhiệm của mình đối với đời sống gia đình nhưng không phá vỡ trật tự của hoạt động về nghề nghiệp đã được tiến hành từ trước khi kết hôn hoặc được thiết lập trong thời kỳ hôn nhân. Hơn nữa, quy định này còn mang một giá trị là nhằm giải phóng và phát triển năng lực của cá nhân.

Continue reading

TÁC ĐỘNG CỦA CÁC HÌNH THỨC LỖI ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TRÁCH NHIỆM HỢP ĐỒNG NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGUYÊN TẮC TRUNG THỰC VÀ THIỆN CHÍ

TS. DƯƠNG ANH SƠN –  Khoa Kinh tế – Đi hc Quc gia TP. H Chí Minh

THS. NGUYỄN NGỌC SƠN  –  Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

1. Đặt vấn đề: Trung thực, thiện chí là một trong những nguyên tắc nền tảng của việc ký kết và thực hiện hợp đồng, được ghi nhận không những trong pháp luật hợp đồng của Việt Nam mà còn được quy định trong pháp luật của nhiều nước[1]. Giữa hành vi vi phạm hợp đồng với nguyên tắc nói trên tồn tại mối quan hệ tương hỗ. Chúng tôi cho rằng, vi phạm hợp đồng cố ý là biểu hiện của sự không trung thực, thiện chí, còn không cố ý vi phạm hợp đồng có thể không vì không thiện chí, trung thực.

Lý thuyết về hợp đồng pháp luật của Việt Nam và pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật châu Âu lục địa sử dụng đã chỉ ra rằng, lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý nói chung và trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nói riêng. Trong khi đó pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật Anh-Mỹ lại không coi lỗi là một trong các yếu tố để xác định trách nhiệm hợp đồng. Sự khác biệt nói trên có lẽ là do truyền thống pháp luật, truyền thống được hình thành từ các nguồn gốc không giống nhau. Các văn bản pháp lý quốc tế về hợp đồng, ví dụ Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có lẽ để hài hòa giữa hai hệ thống pháp luật nói trên, thay vì xác định bên vi phạm có lỗi hay không đã xác định hành vi vi phạm hợp đồng có phải là hậu quả của tình huống bất khả kháng hay không.

Continue reading

GIẢI QUYẾT QUYỀN LỢI CỦA VỢ CHỒNG ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT THUÊ CỦA NHÀ NƯỚC

TƯỞNG DUY LƯỢNG – Chánh tòa Dân sự, Tòa án nhân dân tối cao

1. Phải xác định giá trị quyền thuê nhà ở thuộc sở hữu nhà nước là tài sản chung của vợ chồng

Trong nhiều vụ án ly hôn, hai bên đương sự tranh chấp với nhau về quyền thuê nhà của Nhà nước. Đương sự nào cũng yêu cầu được sử dụng diện tích nhà đang thuê củaNhà nước. Đối với trường hợp vợ chồng vừa có quyền sở hữu nhà đất, vừa có diện tích nhà thuê của Nhà nước thì trước năm 2001 các tòa án đều không coi quyền thuê nhà của Nhà nước là tài sản chung của vợ chồng. Sau năm 2001, mặc dù đã có Nghị định 70/2001/NĐ-CP ngày 3/10/2001 của Chính phủ nhưng khi giải quyết, nhiều tòaán vẫn tỏ ra lúng túng, có không ít trường hợp tòa án không coi quyền thuê nhà là tài sản chung vợ chồng, nên không xác định giá trị để chia. Đây là một điều không hợp lý, dưới đây là một ví dụ:

Chị Phạm Thị Thanh, trú tại 38 Đại lộ Hồ Chí Minh, thành phố HD ly hôn anh Nguyễn Đình Chuyền, hiện đang cư trú tại Cộng hòa Liên bang Nga.

Continue reading

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG CỦA NHÀ NƯỚC: BỒI THƯỜNG CHO 6 NĂM HAY 17 NĂM?

HOÀNG LÊ – VĂN ĐOÀN

Sau hơn sáu năm vướng vào vòng tố tụng hình sự, đương sự giờ đã tự do nhưng vẫn chưa được bồi thường oan. Đó là trường hợp của ông Võ Đình Dũng, ngụ thị trấn Thác Mơ, huyện Phước Long, tỉnh Bình Phước.

Không phạm tội tham ô

Trước đây, ông Dũng là nhân viên của Công ty Thương nghiệp huyện Phước Long. Ông Dũng có nhiệm vụ thu mua và sơ chế hạt điều cho công ty. Tháng 11-1990, khi phát hiện đã chi lố cho ông Dũng hơn chín triệu đồng, công ty đã nhiều lần làm việc với ông Dũng nhưng ông Dũng không chấp nhận khoản nợ này.

Đầu năm 1991, VKSND huyện Phước Long ra quyết định khởi tố bị can Dũng về tội tham ô tài sản XHCN và tạm giam bị can hai tháng. Đến tháng 5-1991, ông Dũng mới được trả tự do. Trong thời gian bị tạm giam, ông Dũng không được các cơ quan điều tra lấy lời khai theo quy định và bị bỏ quên thêm 69 ngày nữa mà không hề có lệnh gia hạn việc tạm giam. Sau đó, ông không hề nhận được giấy triệu tập đến làm việc. Mãi đến cuối tháng 11-1997, Công an huyện Phước Long mới có bản kết luận điều tra cho rằng bị can Dũng đã có hành vi phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản XHCN (không phải tội tham ô tài sản XHCN như lúc đầu khởi tố). Tuy nhiên, do thời hạn điều tra đã hết, tội phạm lại ít nghiêm trọng, các cơ quan pháp luật không xử lý hình sự ông Dũng nữa mà chuyển hồ sơ sang TAND huyện xét xử dân sự. Cũng trong ngày, Công an huyện Phước Long đã ra quyết định đình chỉ điều tra vụ án, đình chỉ điều tra bị can Dũng.

Continue reading

TRỢ CẤP ƯU ĐÃI XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH LIÊU – Th trưởng B Lao động TBXH

Việt Nam là nước nằm ở khu vực Đông Nam á với diện tích trên 331 ngàn Km, dân số 77.686.000 người. Người có công với cách mạng theo qui định của pháp luật khoảng 6,3 triệu người, chiếm tỷ lệ trên 8 % dân số. Từ năm 1990 trở lại đây, nhịp độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam khá cao và tương đối ổn định, đời sống của đại bộ phận dân cư được nâng lên, trong đó có nhóm đối tượng của hệ thống an sinh xã hội như người có công, người nghỉ hưu trí, người nghỉ do mất sức lao động, người già cô đơn, người tàn tật….

Song nhìn chung Việt Nam vẫn là một nước nghèo, thu nhập binh quân tính theo đầu người năm 1998 chỉ đạt 335 USD, năm 2000 đạt 400 USD; bên cạnh đó lại thường xuyên phải gánh chịu hậu quả hết sức khốc liệt của thiên tai, bão lụt, hạn hán và chịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực… Điều đó đã ảnh hưởng khá gay gắt đến việc thực hiện các chính sách trong hệ thống an sinh xã hội. Kết hợp hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển xã hội trên nguyên tắc công bằng và tiến bộ xã hội là mối quan tâm hàng đầu của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy ngay từ khi giành được độc lập, thiết lập nền dân chủ cộng hoà cho tới nay, đặc biệt qua hơn 10 năm đổi mới, chúng ta đã từng bước hoàn thiện mạng lưới an sinh xã hội, tạo môi trường pháp lý hành chính thuận lợi bằng việc ban hành chính sách, cơ chế, giải pháp để để bảo đảm cuộc sống của các nhóm đối tượng, đặc biệt là nhám đối tượng ưu đãi xã hội.

Continue reading

PHÁP LUẬT THỤY ĐIỂN VỀ BẢO VỆ DI SẢN VĂN HÓA

image TRẦN ANH TÚ – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Phn m đầu

Pháp luật về bảo vệ các di tích lịch sử ở Thuỵ điển đã có từ rất lâu. Từ năm 1966 đã có “Tuyên ngôn có hiệu lực pháp luật theo đặc quyền của Hoàng gia về di tích lịch sử và cổ vật”. Theo đó, việc can thiệp vào các di tích cổ bị nghiêm cấm, các di tích cổ phải được bảo vệ, gìn giữ để ghi lại những thành tựu của tổ tiên, đặc biệt là những tiến bộ, sự phát triển của Hoàng gia. Các huyệt mộ, các đồ đá mà trên đó có viết bằng các chữ cổ, các toà nhà bị hư hỏng và các di sản còn lại của quá khứ phải được giữ gìn, bảo vệ khỏi sự can thiệp bên ngoài.

Tính từ đó, số lượng các văn bản pháp luật luôn luôn được bổ sung và sửa đổi, thay thế bằng các văn bản mới. Tuy nhiên, các nội dung cốt lõi của vấn đề vẫn được giữ lại, như: Các yếu tố vật chất của di sản văn hoá phải được giữ gìn, nếu như có sự can thiệp cần thiết từ bên ngoài đến một di tích lịch sử thì sự thay đổi về kích thước, hình dáng của di tích phải được các nhà chức trách có trách nhiệm xem xét và quyết định; những thành phần bị thay đổi hoặc mất đi phải được ghi lại và lưu trữ một cách thận trọng. Những thay đổi lớn đối với các di tích phải tuân theo các quy định của luật pháp. ở đây có sự khác nhau về quan điểm đối với các di vật, di tích đã hoàn toàn bỏ đi và không còn giá trị kinh tế song các giá trị về cấu trúc của nó vẫn tồn tại trong xã hội. Vì vậy, các điều luật về bảo vệ các di sản khảo cổ được ban hành sớm hơn các điều luật bảo vệ các giá trị kiến trúc. Tuy vậy, các giá trị kiến trúc của các nhà thờ thu hút được sự chú ý giám sát, bảo vệ của các nhà chức sắc tôn giáo trước khi có Tuyên ngôn của Hoàng Gia.

Continue reading

ẨN SỐ QUAN HỆ GIỮA NGÂN HÀNG VÀ BẤT ĐỘNG SẢN Ở VIỆT NAM

Mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng ở Việt Nam đến nay vẫn là một câu hỏi lớn. Điều này càng được đặc biệt quan tâm hơn khi liên hệ với sự sụp đổ của thị trường tài chính Mỹ.

Tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam 2008 do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) và Tổ chức hợp tác kỹ thuật Đức GTZ phối hợp tổ chức cuối tuần qua, vấn đề nợ xấu của ngân hàng và ảnh hưởng của việc cho vay bất động sản đến chất lượng tài sản của các ngân hàng đã được tập trung thảo luận.

Nguy cơ nợ xấu

Theo nhìn nhận của TS. Võ Trí Thành – Trưởng ban Nghiên cứu chính sách hội nhập, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) – mối quan hệ giữa thị trường bất động sản với ngân hàng ở Việt Nam vẫn chưa rõ ràng và minh bạch. Chính vì vậy, ông Thành liệt kê đây chính là một trong những rủi ro khiến nợ xấu của hệ thống ngân hàng trở nên nghiêm trọng hơn.

Continue reading