KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐIỀU GÌ CÓ THỂ RÚT RA TỪ MỘT HỢP ĐỒNG MUA BÁN CỔ PHẦN?

TS. PHAN VĂN TÍNH – PHI LAO

Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây, đã có những đóng góp tích cực cho phát triển và hội nhập đối với nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, để thị trường hoạt động có hiệu quả, an toàn và ổn định chắc chắn cần phải nghiên cứu để phát hiện những tồn tại và yếu kém nhằm có biện pháp khắc phục để hoàn thiện. Con đường đi ngoằn nghèo của một lô cổ phần mà tác giả sẽ đề cập dưới đây, phần nào, cho chúng ta thấy những gì và cần làm gì để thị trường phát triển một cách ổn định? Vì những lý do khác nhau, trong bài viết tên các doanh nghiệp và cá nhân liên quan được thay đổi.

1. Hành trình dài của một lô cổ phần

Đoạn trường thứ nhất: Ngày 17/11/2005, một cá nhân tên là ông Tkm ký hợp đồng “góp vốn đầu tư”(gọi là HĐ1) với Công ty cổ phần Ctn. Nội dung HĐ1: ông Tkm góp vốn với Ctn để đầu tư mua lô cổ phần của công ty NĐP. Tổng giá trị hợp đồng là 30.600 triệu đồng; 90% vốn là do Ctn dàn xếp; ông Tkm đặt cọc 10%. Ctn cam kết chuyển nhượng cổ phần lại cho ông Tkm, nếu mua được; giá chuyển nhượng lại bằng giá trúng thầu cộng với lãi 11,1% trên 90% số tiền của Ctn. Lợi tức phát sinh ông Tkm hưởng.

Đoạn trường thứ hai:

– Ngày 18/11/2005 (ngay sau khi HĐ1 ký kết), Ctn ký hợp đồng với Ngân hàng Inba (HĐ2). Nội dung cơ bản của hợp đồng này cũng tương tự HĐ1.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

HÀ MY

Trên thực tế, cổ phần hóa ở Trung Quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự ra đời của Công ty Cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh). Sau đó, trong Văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc Vụ viện Trung Quốc đã cho phép “Các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn và vừa có điều kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần hóa”.

Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí điểm cổ phần hóa. Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ phần hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ phần đạt 358 tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ NDT là giá trị cổ phần phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Nhiều công ty cổ phần đã tham gia thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thâm Quyến, một số công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường

Các công ty cổ phần của Trung Quốc được hình thành chủ yếu theo 3 cách: Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp; Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội; Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp… Sau khi tiến hành cổ phần hóa, cấu của doanh nghiệp Trung Quốc được tổ chức theo sơ đồ sau:

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Đối với các loại thuế được tính theo giá trị của đối tượng chịu thuế thì việc xác định trị giá tính thuế là một khâu trung tâm của quá trình hành thu. Thuế bất động sản cũng là một loại thuế được tính theo giá trị. Giá tính thuế thường được xác định theo giá thị trường hoặc tiền cho thuê của bất động sản.

Giá thị trường

Giá thị trường của bất động sản là giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản. Có 3 phương pháp truyền thống được sử dụng trong định giá thị trường của bất động sản là.

Phương pháp giá so sánh: Giá của lô đất, ngôi nhà cần định giá được xác định bằng giá thị trường của lô đất hoặc ngôi nhà có đặc điểm giống nhau (tương tự). Phương pháp này thích hợp khi thị trường bất động sản phát triển và xuất hiện tính tương đồng giữa lô đất, ngôi nhà cần định giá với giá thị trường của lô đất, ngôi nhà tương tự (ví dụ hai lô đất nằm cạnh nhau của cùng một khu vực). Mặt khác, để định giá theo phương pháp này cũng cần một cơ sở dữ liệu tập trung về giao dịch bất động sản để đảm bảo công tác định giá được chính xác, hài hoà.

Phương pháp chi phí: Giá của bất động sản cần định giá được xác định bằng cách xác định giá của lô đất cộng với chi phí xây dựng công trình trên đất.

Continue reading

VỀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG CƠ CHẾ – CHÍNH SÁCH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC QUA VIỆC THÍ ĐIỂM CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

NGUYỄN DUY LÊ

Rất đồng tình với bài viết đầy thuyết phục của tác giả Nguyễn Phương Linh được đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8 năm 2008 với tựa đề “Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhìn từ việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”. Trong bài viết này, với tư cách nhà đầu tư cá nhân – một cổ đông nhỏ của Vietcombank cổ phần ngay từ đầu, với ý thức trách nhiệm chung thường xuyên theo sát tình hình dư luận xã hội xung quanh câu chuyện cổ phần hoá Vietcombank, đặc biệt là nắm bắt tâm tư nguyện vọng, những bức xúc của các cổ đông Vietcombank, bao gồm tổ chức pháp nhân và cá nhân, phản ảnh qua kỳ họp đầu tiên của Đại hội đồng cổ đông được tổ chức vào ngày 26/4/2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, tôi xin tổng hợp lại cùng với những suy nghĩ luận bàn cá nhân theo chủ đề nêu trên…

Trước khi vào từng nội dung cụ thể, xin được đặt vấn đề có tính mở đầu sau đây. Như chúng ta biết, sau đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Vietcombank tiến hành vào cuối năm 2007, Vietcombank đã tiến hành kỳ họp thứ I của Đại hội đồng cổ đông; rồi sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết của một định chế công ty cổ phần đại chúng, kể từ ngày 02/6/2008, Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam đã chính thức hoạt động trên vị thế của NHTMCP. Đây là cuộc chuyển đổi mang dấu ấn lịch sử sau 45 năm tồn tại và phát triển của Vietcombank. Phải khẳng định rằng, việc chuyển đổi từ Vietcombank Nhà nước sang Vietcombank cổ phần đại chúng có trên 15.000 cổ đông lớn nhỏ khác nhau, đã diễn ra một cách suôn sẻ theo đúng lộ trình thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong lĩnh vực tiền tệ – ngân hàng ở nước ta. Ở đây, từng khâu của cuộc cổ phần hoá Vietcombank đều đã được xúc tiến kỹ càng theo sát sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, với sự lãnh đạo điều hành sâu sát của một Ban chỉ đạo Nhà nước cấp Bộ/Ngành do một Phó Thống đốc thường trực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đứng đầu. Những gì phải có để đảm bảo vận hành hoạt động kinh doanh của Vietcombank theo định chế NHTMCP, về cơ bản đã hội đủ…

Continue reading