MỘT SỐ MẢNG CHƯA SÁNG TRONG NỀN KINH TẾ

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa X, XI

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa lên mạng cuối tháng 2/2008 kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2007. Có một số mảng chưa sáng cần được phân tích kỹ, ngoài tỷ lệ lạm phát đã được đề cập nhiều.

1. Liên tục 10 năm qua, chỉ tiêu bội chi ngân sách hàng năm được Quốc hội ấn định là không vượt 5% GDP. Chỉ tiêu này luôn luôn đạt 4,94, 4,95, 5%! Tuy nhiên việc đạt chỉ tiêu này liên tục nhiều năm cũng đồng nghĩa với tích lũy một độ nguy hại nhất định bởi lẽ bội chi ngân sách tự nó không phải là một ưu điểm.

Cảnh báo điều này, tôi và nhiều đại biểu Quốc hội khóa XI đã kiến nghị nên kéo chỉ tiêu xuống 3 – 3,5% GDP, đồng thời tăng cường giám sát để chi ngân sách tiết kiệm hơn, đầu tư công có hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng của phát triển.

Phải chăng tác hại của bội chi ngân sách cao, triền miên và kém hiệu quả đã bắt đầu bộc lộ? Theo Thời báo Kinh tế Sàigòn số 10/2008, đầu năm nay Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đổi một số lượng lớn ngoại tệ ra tiền đồng để bổ sung chi ngân sách.

NHNN chỉ đáp ứng được một phần số ngoại tệ đưa ra vì cơ quan này còn có nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Bộ Tài chính buộc phải rút một số khá lớn tiền đồng gửi ở một số ngân hàng thương mại quốc doanh trong một khoảng thời gian ngắn, ảnh hưởng đến các khoản tài trợ liên ngân hàng dành cho các ngân hàng thương mại cổ phần, dẫn đến các ngân hàng vay mượn lẫn nhau, đua nhau đẩy lãi suất lên, tác động xấu đến lạm phát. Để phát triển bền vững, ngân sách nhà nước phải lành mạnh, cơn lốc bội chi ngân sách kéo dài cần phải được ngăn chặn.

2. Nghèo phải bội chi để phát triển là cần thiết, được con cháu đồng tình và vui lòng trả nợ. Nhưng nhất thiết không thể chấp nhận bội chi ngân sách là hậu quả của “dây chuyền hủy hoại”: tiêu xài lãng phí, đầu tư từ công quỹ kém hiệu quả và tham nhũng.

Báo cáo cũng cho thấy, đà phát triển của các năm trước được tiếp tục. Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 có khả năng sẽ đạt trước thời hạn.

Những kết quả này rất đáng trân trọng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nhiều bất ổn và thiên tai, dịch bệnh dồn dập trong năm qua.

Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đã tăng nhanh và liên tục suốt mấy năm qua. Hơn 21,2% GDP năm 2007. Nếu đầu tư có hiệu quả, ngân sách sẽ nhận được nguồn thu trở lại. Rất tiếc cho tới nay hiệu quả chưa cao, thể hiện qua chỉ số ICOR cao. Để tuân thủ mức bội chi dưới 5% GDP, Chính phủ phải vay trong nước và vay nước ngoài.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng dư nợ trong và ngoài nước vẫn còn trong vùng an toàn, trong khi đó, theo IMF, tổng dư nợ đã lên đến 44% GDP tính đến năm 2005, trong đó nợ nước ngoài chiếm 26,6% GDP. Theo chúng tôi, không chỉ có tổng dư nợ mà động thái của nó, tốc độ tăng tổng dư nợ, cũng rất quan trọng. Quốc hội cần biết rõ, được giải trình, và báo cáo với cử tri vấn đề này.

3. Không thể không nói đến chi tiêu và đầu tư của các “tập đoàn kinh tế nhà nước”. Hiệu quả hoạt động của các tập đoàn trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …) thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi từ các ngân hàng thương mại quốc doanh.

Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm vừa qua là không nhỏ. Trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, thì nhiều “tập đoàn” lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động, kể cả hoạt động ngân hàng, tín dụng và kinh doanh bất động sản một cách ồ ạt.

Làm kinh tế của “tập đoàn” thời hội nhập phải là như vậy hay sao? Bong bóng vỡ thì ai gánh chịu hậu quả? Không ít “tập đoàn” chuẩn bị việc cổ phần hóa, không phải theo hướng tích cực, mà nhằm sớm hợp thức việc tư nhân hóa tài sản công!

Mảng “tập đoàn kinh tế” cần sớm được chấn chỉnh, tháo gỡ những cơ chế ràng buộc đã lỗi thời, lựa chọn bộ máy điều hành trong sạch và có năng lực, để các tập đoàn thực sự là điểm tựa của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Tốc độ phát triển của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là điều mơ ước của nhiều nước. Rất tiếc là nhập siêu ngày càng tăng, năm 2007 là 14,12 tỷ USD, cao nhất cho tới nay.

Có thể vì 2007 là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên của WTO, chưa nắm sát tình hình nên sai số trong ước tính của các bộ ngành chức năng khá cao. Tháng 11/2007, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội kim ngạch nhập khẩu 2007 ước tính57 tỷ USD, tăng 27% so với 2006. Ba tháng sau, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố các con số thực hiện tương ứng là 62,68 tỷ USD và 39,6%.

Kim ngạch nhập nguyên vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng cao, tỷ lệ thuận với kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gia công. Đã nhập khẩu trên 19.000 ô-tô nguyên chiếc và sẽ còn tăng vì nhiều doanh nghiệp FDI chuyển sang nhập nguyên chiếc thay vì lắp ráp (có nghĩa là ngành công nghiệp ô-tô Việt Nam có nguy cơ sẽ cáo chung).

Nhiều mặt hàng tiêu dùng, kể cả nông sản, cũng có mặt ở Việt Nam nhiều hơn và đa dạng hơn. Nếu tình trạng này kéo dài và với tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD như hiện nay, lộ trình để giảm nhập siêu, tăng GDP, chưa phải là trong vài năm tới! Xuất nhập khẩu một năm sau khi gia nhập WTO rất cần được đánh giá khách quan và sâu sắc.

5. Rất ít quốc gia sử dụng ngoại tệ tự do, thoải mái như ở Việt Nam. Ngay cả ở những nước có đồng tiền chuyển đổi được, sự quản lý nhà nước và kỷ luật trong sử dụng ngoại tệ cũng rất nghiêm, khác hẳn với ở ta lỏng lẻo, gần như buông thả mặc dù đã có Pháp lệnh về ngoại hối.

Hiện nay mức độ “đô-la hóa” nền kinh tế Việt Nam đáng báo động. Tình trạng nắm giữ, tích trữ ngoại tệ, thanh toán bằng ngoại tệ trong dân, trong các doanh nghiệp, … gần như để thả nổi.

Rồi đây nếu cho phép bán cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ (mà ý định cho phép hạn chế sẽ bị hai quy tắc NT và MFN của WTO vô hiệu hóa) thì việc quản lý ngoại tệ, chính sách tiền tệ quốc gia sẽ ra sao? Làm thế nào làm chủ được nền tài chính tiền tệ quốc gia trong điều kiện đó?

Năm mảng yếu kém nêu trên đây chưa phải là tất cả nhưng cấp báchcó quan hệ mắt xích với nhau. Mong rằng nguyên nhân của những yếu kém này sẽ được phân tích thấu đáo, và cùng với những bài học kịp thời rút ra từ cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 và cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Ac-hen-ti-na năm 2001, sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam không trượt ngã và vững vàng phát triển.

SOURCE: BÁO TIỀN PHONG

Trích dẫn từ: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=115249&ChannelID=3

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN: VỤ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN 1500 TẤN RỈ MẬT ĐƯỜNG GIỮA HAI CÔNG TY

HUY TRỤ

Vụ tranh chấp hợp đồng mua, bán 1500 tấn mật rỉ đường giữa công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) và công ty TNHHXNK Châu Tuấn (Hà Tĩnh) đã được thẩm vấn – Tòaán nhân dân tối cao quyết định bản án giám đốc thẩm số 04/KDTM – GĐT ngày 5-4-2006, buộc công ty Châu Tuấn (Hà Tĩnh) phải bồi thường cho công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) số tiền 929.693.000đồng.

Sau khi bản án giám đốc thẩm có hiệu lực thi hành, công ty Tiên Sơn đã nhiều lần gửi văn bản (kể cả đi hơn 200 cây số, vào gặp trực tiếp cơ quan chỉ đạo thi hành án của tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị được thi hành bản án.

Điều đáng nói là công ty Châu Tuấn (Hà Tĩnh) có đủ khả năng để thi hành bản án, nhưng chây ì, coi thường kỷ cương phép nước.

Trước tình hình trên, Công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) tiếp tục gửi đơn thư kiến nghị đến các cơ quan chức năng, đến lãnh đạo cao nhất của Đảng – Nhà nước và các cơ quan công luận của Trung ương và địa phương.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: "OAN ÁN" 500 GIẠ LÚA NÀNG THƠM?

HOÀNG HÙNG

Từ tháng 7-2006 đến nay, bà Phạm Thị Kim Phượng (SN 1956, ngụ ấp 4, xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) – sống bằng nghề buôn bán hàng rong- bỗng gánh món nợ khổng lồ trên trời rơi xuống. Mặc dù rất thông cảm cho hoàn cảnh của bà, nhưng các cơ quan pháp luật ở Long An đành bó tay, vì án đã có hiệu lực thi hành.

Nhắm mắt ký, ai ngờ mang họa

Cách đây hơn 20 năm, sau khi sinh đứa con trai mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, người chồng bỏ đi lấy vợ khác, bà Phượng phải bế con về nhà cha mẹ ruột sống bằng nghề bán hàng rong. Đứa con trai Nguyễn Văn Xuân cứ vài tháng là trở bệnh một lần, phải nhập viện khẩn cấp, mỗi lần kéo dài ít nhất một tháng. Năm 1995, bà Phượng có mượn của bà Lê Thị Một, người cùng địa phương 10 triệu đồng để làm vốn mua bán và chữa bệnh cho con. Lãi suất mà chị phải trả cho bà Một là 5%/tháng. Trả lãi được vài tháng thì bà Phượng không còn khả năng chi trả. Đến ngày 24 – 5-2005, bà Một đến bảo mắc nợ nhiều người, bị chồng la rầy và nhờ bà giúp bằng cách ký tên có mượn một số nợ để bà đối phó với ông chồng khó tính. Đổi lại, bà Một không truy cứu số nợ 10 triệu đồng mà bà Phượng đã mượn.

Continue reading

NÂNG TẦM DOANH NHÂN – TRÍ THỨC TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. LÊ THANH BÌNH – Học viện Ngoại giao

1. Những khái niệm liên quan từ góc nhìn văn hóa – truyền thông

Văn hóa doanh nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất, là tổng thể các hoạt động, các biểu hiện dưới dạng sáng tạo vật chất, tinh thần; còn hiểu theo nghĩa tương đối cụ thể là những truyền thống trong các cấu trúc, bí quyết kinh doanh, triết lý – đạo đức kinh doanh, tầm trí thức nhân văn, nhân cách doanh nhân – trí thức chân chính… tạo lập nên một thương hiệu với những quy tắc ứng xử riêng đối với nội bộ và môi trường bên ngoài, gắn kết được các thành viên trong tổ chức doanh nghiệp nhằm kinh doanh hiệu quả, phát triển chính các doanh nghiệp đó, góp phần làm cho cộng đồng và xã hội trở nên văn minh, phát triển bền vững.

Học giả Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi trí bất hưng, phi thương bất hoạt”. Đại thể điều đó có nghĩa là không có trí thức, đất nước không hưng thịnh được; không có kinh doanh – hoạt động thương mại, xã hội ngưng trệ không hoạt động được. Doanh nhân là người làm doanh nghiệp, coi kinh doanh (sản xuất và các dịch vụ thương mại) là nghiệp của mình. Doanh nhân khác với nhà buôn, “con buôn” bởi hoạt động của họ chỉ thuần túy vì lợi nhuận, nhiều khi là sự buôn bán “chụp giật”, vì lợi ích bản thân là chính. Còn doanh nhân là phải làm sao xây dựng, duy trì, phát triển thương hiệu của mình, có tên tuổi, phấn đấu có chỗ đứng lâu dài trong quốc gia và quốc tế; làm giàu chân chính; kết hợp hài hòa các mục đích kinh tế, xã hội, nhân văn. Muốn thế, doanh nhân lớn phải có chiều kích của trí thức lớn mới có thể kinh doanh bài bản, có tầm, đủ sức cạnh tranh lành mạnh với doanh nghiệp trên thương trường quốc gia và quốc tế trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Continue reading

SUY NGẪM 19

our_people Theo Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường, trong một phiên họp liên quan đến cải cách tư pháp: Hiện cả nước chỉ có khoảng 4.000 luật sư và gần 1.000 người tập sự. 80% vụ án chưa có luật sư tham gia tố tụng. Số lượng luật sư ở Việt Nam còn rất thấp so với nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng tăng, trung bình 20.000 dân mới có 1 luật sư, trong khi ở Singapore, tỷ lệ này là 1.000 dân, Thái Lan: 1.700 dân, Nhật Bản: 5.500 dân. Ở các nước phát triển thì Mỹ có 1 luật sư/ 270 dân, Pháp: 500 dân. So với chỉ tiêu của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp đề ra, năm 2010 có 18.000 luật sư, thì con số 4.000 luật sư thực thụ hiện nay còn rất khiêm tốn.

Cũng theo Bộ trưởng nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên tòa, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư. Ngoài số lượng ít, một bất cập nữa là các luật sư tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Hai thành phố này có trên 2.000 luật sư đang hành nghề.

Vấn đề đặt ra là, trong số 20% vụ án có luật sư ở Việt Nam, tỷ lệ bao nhiêu án ý kiến của luật sư được coi làcó trọng lượng trong nội dung các bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan tố tụng khác???

Civillawinfor

KẾT QUẢ KHẢO SÁT KINH NGHIỆM CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TẠI VƯƠNG QUỐC ANH VÀ AI – LEN

Báo cáo của đoàn công tác Bộ nội vụ khảo sát, nghiên cứu hành chính công, dịch vụ công ở Anh thời gian từ 27/1/2004 đến 11/2/2004

1. Cải cách hành chính và Chương trình hiện đại hoá Chính phủ của Vương quốc Anh

Từ năm 1998 Chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Tony Blair vẫn tiếp tục thực hiện một loạt cải cách theo hướng thu hẹp chức năng của Nhà nước, giảm chi tiêu công, sử dụng hiệu quả hơn tiền đóng thuế của người dân, sử dụng những kinh nghiệm quản lí của khu vực tư vào khu vực công và đẩy mạnh chính sách tư nhân hoá trong một số lĩnh vực cung cấp công cộng. Chương trình hiện đại hoá Chính phủ là một chiến lược cải cách và đổi mới quan trọng của Chính phủ nhằm các mục tiêu sau:

– Đảm bảo việc hoạch định chính sách mang tính chiến lược thống nhất và được nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ đa ngành, khắc phục tình trạng chính sách được ban hành để đối phó với các áp lực trước mắt; dịch vụ công phải đáp ứng nhu cầu của người dân chứ không phải vì lợi ích của người cung cấp dịch vụ, do đó phải đặt trọng tâm vào người sử dụng các dịch vụ là người dân và dịch vụ phải có chất lượng cao, hiệu quả, có thể so sánh được với những nơi tốt nhất trên thế giới, không chấp nhận các dịch vụ kém chất lượng.

Continue reading