BÁO CÁO SÔ 114/BC-BTP NGÀY 11/7/2008 CỦA BỘ TƯ PHÁP VỀ TỔNG HỢP KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ QUỐC TRÊN THẾ GIỚI VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

(Tài liệu phục vụ công tác xây dựng Luật Đăng ký bất động sản)

Báo cáo này tổng hợp kết quả nghiên cứu, tham khảo pháp luật của một số quốc gia có hệ thống đăng ký bất động sản phát triển, cụ thể là: Nhật Bản, Hàn Quốc, Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa liên bang Nga. Đồng thời, báo cáo cũng đề cập đến một số nội dung về đăng ký bất động sản của một số quốc gia trong khu vực, như: Trung Quốc, Cam-pu-chia, In-đô-nê-xi-a, Xinh-ga-po, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin.

A. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM TRONG HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN CỦA NHẬT BẢN, HÀN QUỐC, PHÁP, CỘNG HÒA LIÊN BANG ĐỨC VÀ CỘNG HÒA LIÊN BANG NGA

Đa số các quốc gia nêu trên đều có hệ thống đăng ký bất động sản hình thành sớm và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Nhật Bản ban hành Luật Đăng ký bất động sản năm 1899 (Luật số 24 ngày 24/02/1899); Hàn Quốc ban hành Luật Đăng ký bất động sản năm 1960 (Luật số 536 ngày 01/01/1960). Hai văn bản này đều đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần. Pháp ban hành Nghị định về cơ chế công bố các giao dịch về bất động sản năm 1955 (Nghị định ngày 04/01/1955). Cộng hòa Liên bang Đức ban hành Luật về Đăng ký bất động sản năm 1897 (ngày 24/3/1897) và sửa đổi, bổ sung năm 2004 (ngày 09/12/2004).

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: LUẬT SƯ TỐ CÁO NGƯỜI TÌNH

LÊ HÙNG TUẤN

Gần đây, TAND TP Phan Thiết đã đưa vụ đòi nợ vay giữa bà H. với luật sư NHT (Đoàn luật sư tỉnh Bình Thuận) ra xử sơ thẩm. Tòa tuyên luật sư T. phải trả cho bà H. 200 triệu đồng tiền vay cộng 115 triệu đồng tiền lãi. Phiên xử này vắng mặt bị đơn do tòa đã triệu tập nhiều lần nhưng luật sư T. không đến tham gia.

Mượn tiền không trả, bị kiện

Năm 2004, bà H. và luật sư T. quen biết nhau. Hai người cùng đi du lịch nhiều nơi và có chụp ảnh chung với nhau.

Theo bà H., từ tháng 2 đến tháng 9-2004, bà đã cho luật sư T. vay tiền bốn lần, tổng cộng 235 triệu đồng với lãi suất 2%. Do hai người có quan hệ tình cảm với nhau nên không viết giấy nhận nợ. Sau đó, luật sư T. đã trả được 45 triệu đồng tiền gốc và nợ lại 190 triệu đồng. Sau khi luật sư T. trả 45 triệu đồng xong cũng là lúc ông này cố tình tránh mặt bà và không trả lãi hàng tháng như thỏa thuận.

Ngày 12-10-2005, phát hiện luật sư T. đang ngồi trong một quán cà phê ở Phan Thiết, bà H. đã yêu cầu ông này viết giấy nhận nợ, gồm tiền gốc và 10 triệu đồng tiền lãi và hẹn thời hạn trả nợ trong vòng một năm. Sau khi viết xong giấy nhận nợ, từ đó đến nay luật sư T. vẫn không trả tiền nên bà H. phải kiện ra tòa.

Continue reading

QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI BẤT ĐỘNG SẢN

PGS.TS. PHẠM NGỌC CÔN 

Hiện nay quản lý hành chính đối với bất động sản của các nước và khu vực trên thế giới về đại thể có ba loại hình cơ bản sau đây:

Loại hình 1: Thực hành quản lý thống nhất, đồng thời coi trọng việc Chính phủ kinh doanh và khống chế quy hoạch đối với bất động sản.

Ở một số nước và khu vực, mặc dù toàn bộ chế độ kinh tế xã hội thực hành nền kinh tế thị trường trên cơ sở chế độ tư hữu, nhưng do tài nguyên đất đai là có hạn, phảt triển kinh tế lại tương đối nhanh chóng, để sử dụng đầy đủ, hữu hiệu đối với lại tài nguyên khan hiếm này, loại trừ trở ngại đối với việc sử dụng hợp lý đất đai do quyền chiếm hữu đất đai của tư nhân chuyển thành sử hữu Nhà nước hoặc sở hữu Chính phủ, để tiến hành thống nhất khai thác và sử dụng, do đó làm cho Chính phủ trở thành người sở hữu chủ yếu và người cung cấp quan trọng của đất đai nói riêng, bất động sản nói chung, trên mức độ lớn ảnh hưởng đến sự vận hành của thị trường bất động sản. Là người chủ sở hữu Chính phủ có thể kịp thời vận dụng quyền lực hành chính, dùng hình thức quy hoạch để quy định và quản lý kinh doanh bất động sản của tư nhân, làm cho toàn bộ việc khai thác và kinh doanh đất đai nghiêm khắc tuân theo mục tiêu xã hội là sử dụng hợp lý có hiệu quả đất đai và bảo vệ môi trường mà tiến hành một cách có trật tự. Xingapore là một điển hình của các nước và khu vực về việc áp dụng loại hình quản lý này đối với bất động sản.

Continue reading

ĐẶT CỌC MỚI DẮT KHÁCH HÀNG COI ĐẤT: RỦI RO KHÁCH CHỊU!

NGỌC HÀ

Chưa biết “mặt mũi” miếng đất thực tế ra sao đã phải “xì” tiền đặt cọc, chừng xem đất thấy không “ngon”, không mua thì coi như mất tiền!

Lời quảng cáo “Cơ hội kinh doanh bất động sản cho người ít tiền” hay “Chỉ cần vài triệu đồng, bạn có cơ hội mua một nền đất”… đã “câu” được nhiều khách hàng đổ xô đến đặt cọc mua đất, nhà dù chưa biết mặt ngang mũi dọc miếng đất cũng như những rủi ro có thể gặp phải.

“Nộp tiền đi, em dắt đi xem”

Mấy ngày qua, hàng trăm khách hàng đã đến đặt cọc mua đất nền tại Công ty Đ. (trụ sở tại TP.HCM). Theo lời của nhân viên công ty thì họ là nhà phân phối độc quyền cho một dự án khu dân cư với giá đất khá mềm tại huyện Bến Cát (Bình Dương). Số tiền đặt cọc chỉ vài triệu đồng, số tiền trả dần theo thời gian cũng không cao. Một yêu cầu hơi bị lạ là khách hàng phải đặt cọc trước năm triệu đồng mới được dắt đi xem đất. Nghĩa là chưa biết “mặt mũi” miếng đất thực tế ra sao đã phải “xì” tiền, ấy vậy mà việc đăng ký đắt như tôm tươi. Thậm chí có người ở tận Hà Nội còn gọi vào TP.HCM nhờ người thân xếp hàng đặt chỗ giùm.

Continue reading

NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG

THS. NGUYỄN VĂN TẠO

Theo cách hiểu thông thường, hiệu quả kinh doanh biểu hiện mối tương quan giữa chi phí đầu vào và kết quả nhận được ở đầu ra của một quá trình Nếu gọi H là hiệu quả kinh doanh:

                                                                         Kết quả đầu ra                        

Kết quả đầu ra Hiệu quả kinh doanh (H) =

                                                                         Chi phí đầu vào

Công thức này thể hiện hiệu quả của việc bỏ ra một số vốn để thu được kết quả cao hơn tức là đã có một sự xuất hiện của giá trị gia tăng với điều kiện H>1, H càng lớn càng chứng tỏ quá trình đạt hiệu quả càng cao. Để tăng hiệu quả (H), chúng ta có thể sử dụng những biện pháp như: giảm đầu vào, đầu ra không đổi; hoặc giữ đầu vào không đổi, tăng đầu ra; hoặc giảm đầu vào, tăng đầu ra,..

Continue reading

TRANH CHẤP GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG: BỎ VIỆC, PHẢI TRẢ CÔNG ĐÀO TẠO?

VĂN ĐOÀN

Tòa cho rằng vì vi phạm hợp đồng đã ký kết nên người lao động phải hoàn trả cho công ty chi phí đào tạo.

Ngày 23-9, trong phiên xử vụ án đòi bồi thường chi phí đào tạo giữa Công ty Chuyên Việc Promaids ở TP.HCM và bà T. – nhân viên cũ của công ty, TAND quận 4 đã xử cho nguyên đơn thắng kiện. Số tiền thua kiện tuy không lớn nhưng bài học kinh nghiệm rút ra cho nhiều người từ vụ án này lại không nhỏ.

Tại tòa, đại diện Công ty Chuyên Việc cho biết: Tháng 9-2007, bà T. ký cam kết một hợp đồng đào tạo với công ty. Theo đó, công ty có nhiệm vụ đào tạo lý thuyết kỹ năng chăm sóc người già, người bệnh cho bà T. trong thời gian hai tuần tại Bình Dương. Sau đó, bà T. được thực tập ba tuần tại bệnh viện. Tháng 11-2007, sau khi được đào tạo xong, bà T. đã ký hợp đồng làm việc với công ty trong thời hạn một năm. Tất cả điều kiện mà công ty đưa ra trong hợp đồng đều được bà T. chấp nhận và bà đã đồng ý ký tên. Tuy nhiên, trong quá trình làm việc, bà T. đã nhiều lần vi phạm hợp đồng. Đến đầu tháng 7-2008, bà T. nộp đơn xin nghỉ việc trước thời hạn nhưng không có lý do chính đáng. Sau đó, bà T. đã tự ý nghỉ việc và còn đòi công ty phải trả cho bà khoản tiền công cho những ngày bà đã làm việc. Công ty đã ký quyết định sa thải và yêu cầu bà T. phải bồi thường chi phí đào tạo cho công ty nhưng bà không chấp nhận. Nay công ty kiện đòi bà T. phải trả lại cho công ty 2,5 triệu đồng chi phí đào tạo.

Continue reading