SUY NGẪM 25

image Nguồn nhân lực là một trong những sức mạnh cạnh  tranh nhất của Việt Nam (sau môi trường đầu tư), vì:

– Rẻ? Một số nhà đầu tư nước ngoài cho rằng lao động Việt Nam không còn rẻ và yếu tố lao động rẻ cũng không còn yếu tố quyết định;

– Nguồn nhân lực có trình độ cao? Việt Nam đang trong cơn “khát” yếu tố này;

– Thông minh và khéo léo? Đúng, nhưng kiến thức của người lao động còn mang tính chất cá nhân, dao động, thiếu cách xử lý vấn đề và suy nghĩ mang tính toàn cầu để mang nhiều tính ứng dụng thực tiễn;

– Có tính cộng đồng và hợp tác? Thực tế người lao động Việt Nam khi làm việc theo nhóm, tập thể, tính hợp tác rất kém.

– Người lao động tôn trọng người sử dụng lao động và được bảo vệ quyền lợi tốt?Đình công, đấu tranh tự phát đã trở thành thói quen của người lao động Việt Nam.

. . . . .

Sức mạnh cạnh tranh của Việt Nam có thể bị tác động bởi những yếu tố trên trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế???

CIVILLAWINFOR tổng hợp từ vietnamnet.vn, laodong.com.vn, anninhthudo.vn

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BẮC NINH BIẾN VIỆC "DỄ" THÀNH "KHÓ"

image NGÂN HÀ

Một vụ án không quá phức tạp, án tuyên rõ ràng, bên phải thi hành có tài sản nhưng đã 4 năm trôi qua, người được thi hành án (THA) vẫn không nhận được tài sản như bản án đã tuyên. Nguyên nhân chính khiến việc THA bị kéo dài là ở khâu định giá của cơ quan THADS TP.Bắc Ninh quá cao dẫn tới việc tài sản không bán được (về vấn đề này trong năm 2007, ĐS&PL đã từng có bài viết phản ánh – PV). Những tưởng sau khi cơ quan THADS tỉnh Bắc Ninh “vào cuộc” thì vấn đề này sẽ được “khai thông” nhưng…thay vì giải quyết vụ việc, cơ quan này lại ra quyết định “Trả lại đơn yêu cầu thi hành án” cho đương sự!

“Tự làm khó” khi định giá quá cao

Theo bản án phúc thẩm số 15/DSPT ngày 29.4.2004 của TAND tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Việt Hòa ở Niềm Xá, phường Kinh Bắc, TP.Bắc Ninh phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy (cùng ở phường Kinh Bắc) số tiền là 318.800.000 đồng. Nhận đơn yêu cầu THA của ông Trần Thanh (được bà Thúy uỷ quyền), cơ quan THADS TP.Bắc Ninh đã tiến hành kê biên nhà, đất của ông Hòa tại khu Niềm Xá để bán đấu giá. Lúc đầu, cơ quan THA định giá khối tài sản phải THA là 2, 5 triệu đồng/m2. Sau đó, mức giá được định lại còn 1, 2 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, trong tất cả những lần thông báo bán đấu giá tài sản (do Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bắc Ninh thực hiện) đều không có người hỏi mua. Lý do mức giá khởi điểm đưa ra quá cao so với giá đất thực tế tại địa phương!

Continue reading

MÔ HÌNH TÒA ÁN MỚI: TÒA NÀO XỬ SƠ THẨM

HỒ KHẢI HÀ

Người nói án sơ thẩm nên để cho tòa sơ thẩm khu vực “ôm” hết, người lại bảo tòa cấp trên cũng có quyền “trị” án này…

Trong hội thảo về mô hình tổ chức tòa án khu vực do Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp tổ chức mới đây, ngoài việc lựa chọn mô hình tòa án ba hay bốn cấp, vấn đề thẩm quyền giải quyết án của các tòa cũng còn gây nhiều tranh cãi.

Phúc thẩm san sẻ các vụ sơ thẩm…

Theo Phó Chánh tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM Phạm Hùng Việt, tòa sơ thẩm khu vực nên xử một số án sơ thẩm như tòa cấp huyện hiện nay. Ông Việt lựa chọn mô hình tòa bốn cấp (tòa sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm, tòa tối cao) nên theo ông, tòa phúc thẩm sẽ “làm” một số án sơ thẩm như tòa cấp tỉnh hiện nay.

Ý kiến này được nhiều tòa án địa phương ủng hộ. Theo họ, hiện tại tòa sơ thẩm khu vực chỉ nên xử những án hình sự có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, cao hơn thì chuyển cho tòa phúc thẩm. Nói gì thì nói, đối với những án đặc biệt nghiêm trọng thì trình độ thẩm phán tòa sơ thẩm khu vực vẫn chưa kham nổi! Chưa kể nếu tòa cấp trên không san sẻ thì lượng án đổ dồn về tòa sơ thẩm khu vực có thể sẽ gây quá tải. Chánh án TAND tỉnh Long An Huỳnh Công Lý còn nói các án dân sự, kinh doanh thương mại liên quan đến nước ngoài rất phức tạp. Ngay cả tòa cấp tỉnh hiện cũng còn lúng túng, nếu đẩy về cho tòa sơ thẩm khu vực hết sẽ rất căng!

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: DƯỚI BẢO RÕ, TRÊN NÓI CHƯA

HỮU KHÁ

Cấp sơ thẩm lấy bờ tường nhà bị đơn làm ranh giới giữa hai bất động sản nhưng là bờ tường của tầng trệt hay tầng lầu? Nhà ông T. (một trệt, một lầu) ở gần nhà ông X. (một trệt, hai lầu) tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Nếu phần trệt giữa hai nhà cách nhau 3 cm thì phần lầu của nhà ông X. lại lấn qua không gian của nhà ông T. Do không thỏa thuận được nên ông T. đã khởi kiện ông X. ra tòa với yêu cầu ông X. phải vạt bỏ phần tường xây lấn.

Ngày 2-5-2008, TAND quận Hải Châu đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của hai bên đương sự theo hướng lấy bờ tường nhà của ông X. theo phương thẳng đứng làm ranh giới giữa hai căn nhà. Ông X. có nghĩa vụ cắt bỏ phần kiến trúc đã xây vượt khỏi ranh giới và lấn sang nhà ông T. Đồng thời, ông T. phải trả cho ông X. 50 triệu đồng chi phí cắt bỏ phần kiến trúc đã nêu.

Sau khi quyết định này có hiệu lực, ông T. đã tự nguyện nộp tiền cho ông X. kèm theo đề nghị ông X. thi hành án. Ông X. cũng đã nhận tiền và có đơn cam kết thực hiện đúng quyết định của tòa. Song sau đó, ông T. đã nộp đơn khiếu nại ông X. vi phạm cam kết. Vì lẽ ra phải lấy chuẩn là bờ tường tầng trệt để cắt bỏ tất cả các phần kiến trúc xây lấn của cả lầu một và lầu hai thì ông X. lại lấy chuẩn là bờ tường lầu một để vạt bớt lan can của lầu hai.

Phía ông X. khăng khăng “án tuyên sao, tôi làm y vậy”. Theo ông X., quyết định của tòa phải được hiểu là vật kiến trúc ở đâu thì lấy bờ tường ở đó làm ranh giới theo phương thẳng đứng để cắt bỏ. Ông X. từ chối đập bỏ một phần tường của lầu một.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VỤ KIỆN MUA NHÀ TẠI SỐ 2 LÒ ĐÚC, VÌ SAO ÁN CÓ HIỆU LỰC BỊ TRÌ HOÃN THI HÀNH

QUỐC LUẬT

Vụ án dân sự có nguyên đơn là ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La cùng trú tại số 4 Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị đơn là ông Hoàng Tiến Lân Hưng và bà Phạm Thị Phấn cùng trú tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Theo đơn khởi kiện, ông Giai có nhu cầu mua nhà để ở và biết ông Hoàng Tiến Lân Hưng có nhu cầu bán nhà nên ngày 06.5.2004 hai bên đã làm Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất với nội dung: Ông Hoàng Tiến Lân Hưng đã nhận của ông Giai số tiền đặt cọc là 112 triệu đồng để mua lại “Hợp đồng thuê nhà Nhà nước” của ông Hưng tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và hẹn đến ngày 16.6.2004 ông Giai sẽ thanh toán đủ số tiền 438 triệu đồng (tổng số tiền là 550 triệu đồng) còn lại cho ông Hưng và nhận nhà.

Hợp đồng có ghi: Nếu ông Hưng đã nhận tiền đặt cọc nhưng không bán nhà nữa hoặc không thực hiện đúng với các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này thì ông Hưng phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà ông Giai đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt cho ông Giai số tiền bằng số tiền đã đặt cọc. Hợp đồng đã được cả bốn người nêu trên cùng ký. Đến ngày 24.5.2004 ông Giai giao tiếp số tiền 38 triệu đồng đặt cọc cho ông Hưng, ngày 25.5.2004 bản khai chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Giai và ông Hưng được UBND phường Phạm Đình Hổ xác nhận.

Continue reading

TRAO ĐỔI LẠI “QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ LÃI SUẤT TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM?”

ANH TUẤN

Trong bài viết với tiêu đề nêu trên đăng trong Tạp chí Ngân hàng số 20 tháng 10/2008, tác giả Minh Tâm đã phân tích sự liên quan giữa cơ chế “Lãi suất thỏa thuận” hay “tự do hóa lãi suất” với tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Bằng việc đưa ra các số liệu về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm (từ năm 1999 đến 2005), tác giả kết luận cơ chế lãi suất thỏa thuận (áp dụng tại Việt Nam từ tháng 06/2002) là “một trong những nguyên nhân làm cho chỉ số giá cả hàng hóa – dịch vụ tiêu dùng liên tục tăng lên”.

Ở đây, tôi không bàn về các nội dung kinh tế của bài viết, tôi cũng không nghi ngờ gì về khả năng có thể có sự liên quan giữa hai yếu tố là cơ chế lãi suất và chỉ số giá tiêu dùng mà tác giả đã phân tích. Tôi chỉ xin được nêu một vài ý kiến nhỏ về phương pháp phân tích của tác giả. Trong nội dung bài báo trên, tác giả chỉ căn cứ vào một chuỗi chỉ số giá tiêu dùng trong các năm từ 1999 – 2005 (số liệu lần lượt là: 0,1%; -0,6%; -0,2%; 4%; 3%; 8,4%; 9,5%), và kết luận rằng cơ chế “lãi suất thỏa thuận” bắt đầu áp dụng từ năm 2002 là một nguyên nhân làm tăng chỉ số giá tiêu dùng. Về mặt cảm tính, đúng là có vẻ như có sự liên hệ nào đó giữa việc tự do hóa lãi suất với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng, vì số liệu mà tác giả đã dẫn phần nào nói lên điều đó. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào dãy số liệu đó mà kết luận ngay, thì tôi cho rằng chưa đủ cơ sở khoa học.

Việc chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2002 – 2005 tăng lên cao bắt đầu từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận (như bảng số liệu mà tác giả đã dẫn) rất có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Để làm rõ điều này, chúng ta hãy xem xét số liệu trong một giai đoạn dài hơn: Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1991 đến 1998 (là giai đoạn Việt Nam đang áp dụng cơ chế “trần lãi suất”), chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam lần lượt là: 67,4%; 17,5%; 5,3%; 14,4%; 12,7%; 4,5%; 3,6%; 9% (giai đoạn trước năm 1998 tại Việt Nam sử dụng “chỉ số giá bán lẻ hàng hóa”.

Continue reading

BÀN VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN – PHÂN BIỆT CHỨC NĂNG QUẢN LÝ CỦA CƠ QUAN NHÀ NƯỚC VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ CHỨC NĂNG CỦA CƠ QUAN ĐĂNG KÝ

TS. NGUYỄN QUANG TUYẾN – Đại học Luật Hà Nội

I. ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

1. Khái niệm đăng ký bất động sản

Các nước trên thế giới cho dù xác lập mô hình sở hữu đất đai theo hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu cộng đồng (sở hữu tập thể) hay sở hữu tư nhân … đều tiến hành việc đăng ký bất động sản nhằm xác lập hiện trạng và lý lịch pháp lý của một thửa đất. Vậy đăng ký bất động sản là gì? Và việc đăng ký bất động sảnnhằm mục đích gì?

Theo GS. Matsumoto Tsuneo – Đại học Hitotsubashi (Nhật Bản): “Đăng ký bất động sảnlà việc một cơ quan nhà nước tiến hành ghi lưu và nắm giữ thông tin về tình trạng bất động sản, người có quyền đối với bất động sản, nội dung quyền và tình trạng thay đổi” [1];

Theo Luật đăng ký nhà nước đối với các quyền về bất động sản và các giao dịch về bất động sản năm 1997 của Cộng hòa Liên bang Nga:

“1. Đăng ký nhà nước đối với các quyền về bất động sản và các giao dịch về bất động sản là sự kiện pháp lý công nhận và chứng thực bởi Nhà nước, sự phát sinh, hạn chế, chuyển dịch hoặc chấm dứt các quyền về bất động sản theo quy định của Bộ Luật Dân sự Liên bang Nga.

Đăng ký nhà nước là chứng cứ duy nhất về sự tồn tại của quyền đăng ký. Quyền đăng ký đối với bất động sản chỉ có thể bị tranh chấp theo thủ tục thông qua Tòa án.

Continue reading

NHẬN CẦM CỐ/ THẾ CHẤP SỔ TIẾT KIỆM DO NGÂN HÀNG PHÁT HÀNH PHẢI CHĂNG ĐÃ RẤT AN TOÀN?

ĐỖ THẾ MÃI

Hiện nay, sổ tiết kiệm được xem là một trong những tài sản đảm bảo có tính an toàn cao nhất đối với các ngân hàng. Nhiều ngân hàng có thể cho vay với giá trị khoản vay bằng 100% giá trị sổ tiết kiệm (khi thời hạn của khoản vay ngắn hơn thời hạn của sổ tiết kiệm, tổng lãi tiền gửi từ sổ tiết kiệm lớn hơn hoặc bằng tổng lãi của khoản vay và khoản vay phải đáo hạn trước sổ tiết kiệm – trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác).

Hầu hết trong các trường hợp, các ngân hàng chỉ ký kết hợp đồng cầm cố/thế chấp mà không cần các thủ tục công chứng hay đăng ký giao dịch bảo đảm. Biện pháp quản lý tài sản cầm cố duy nhất là giữ bản chính sổ tiết kiệm. Biện pháp quản lý khoản vay hầu như không cần thiết hoặc thực hiện hết sức lơi lỏng bởi khi xảy ra rủi ro, ngân hàng có thể xử lý sổ tiết kiệm ngay để thu hồi nợ mà không gặp nhiều trở ngại. Chính vì vậy, nhiều người thường cho rằng cho vay nhận tài sản đảm bảo là sổ tiết kiệm do chính ngân hàng mình phát hành thì rủi ro gần như không có.

Tuy nhiên, thực tế lại không hẳn như vậy!

Theo quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm (Bộ luật Dân sự 2005 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006), một tài sản có thể được dùng để đảm bảo thực nhiều nghĩa vụ dân sự tại một hoặc nhiều tổ chức tín dụng khác nhau, giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn, bằng hoặc nhỏ hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm (trừ trường hợp nhà ở – đã được quy định tại luật nhà ở hoặc pháp luật có quy định khác). Tiết d Khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 quy định, trường hợp thế chấp một tài sản để đảm bảo thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì hợp đồng đảm bảo đó bắt buộc phải đăng ký giao dịch bảo đảm (cần lưu ý việc đăng ký giao dịch đảm bảo ở đây là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng bảo đảm). Pháp luật cũng không bắt buộc bên bảo đảm phải chuyển giao tài sản/giấy tờ sở hữu tài sản bảo đảm (bản chính hoặc bản sao) cho bên nhận bảo đảm. Như vậy, khi các bên ký kết hợp đồng bảo đảm mà tài sản bảo đảm là sổ tiết kiệm thì việc có giao sổ tiết kiệm cho ngân hàng hay không (hoặc chỉ giao bản sao) là do các bên thỏa thuận (nếu có chuyển giao bản chính sổ tiết kiệm thì là hợp đồng cầm cố, không chuyển giao là hợp đồng thế chấp).

Continue reading

VẤN ĐỀ XỬ LÝ VẬT CHỨNG LÀ TÀI SẢN BẢO ĐẢM TIỀN VAY NHÌN TỪ MỘT VỤ ÁN

LS. ĐỖ HỒNG THÁI

Nguyễn Thị A (ngụ tại thành phố (TP) Vũng Tàu) là chủ sở hữu 3 tàu đánh cá (số hiệu: BV-9244-TS, BV-9342-TS, BV-5741-TS) và đã thế chấp cho Ngân hàng Công thương Việt Nam (NHCT) Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu (cho 3 hợp đồng tín dụng (HĐTD) với tổng nợ gốc 2.250 triệu đồng, thời hạn vay 12 tháng và 60 tháng) theo các hợp đồng thế chấp số 0612.0278 ngày 24/11/2006, số 0612.0299 ngày 28/12/2006 và số 0744.0003 ngày 10/01/2007 (các hợp đồng thế chấp đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm tại Trung tâm Đăng ký giao dịch bảo đảm tại TP. Hồ Chí Minh).

Trong tháng 4/2007, Nguyễn Thị A cùng 4 đồng phạm khác dùng 3 tàu trên đi biển để cắt cáp viễn thông. Khi bị khởi tố hình sự, cơ quan điều tra đã kê biên và giao 3 tàu cá cho gia đình A quản lý. Tại bản án sơ thẩm số 83/2008/HS-ST ngày 04/04/2008, Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã tuyên: Nguyễn Thị A và các đồng phạm khác phạm vào tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”, với các mức án từ 3 đến 12 năm tù; xét thấy: trước khi các bị cáo sử dụng 3 tàu đánh cá làm phương tiện phạm tội thì 3 tàu này đã được thế chấp hợp pháp cho ngân hàng nên bản án đã giao cho NHCT Chi nhánh Bà Rịa – Vũng Tàu cùng Thi hành án và gia đình bà A thanh lý trước hạn 3 HĐTD, xử lý bán 3 tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại, nếu có, tịch thu sung quỹ nhà nước. Ngày 18/04/2008, Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có kháng nghị số 210/VKS đề nghị Toà phúc thẩm căn cứ Điều 41 Bộ luật Hình sự (BLHS) tuyên xử tịch thu 3 chiếc tàu để sung quỹ nhà nước (các bị cáo cũng có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt).

Giao dịch bảo đảm hợp pháp cũng trở nên vô nghĩa!

Tại phiên toà phúc thẩm ngày 19/9/2008, đại diện VKSND tối cao giữ nguyên kháng nghị và Hội đồng xét xử đã tuyên: bác các kháng cáo và chấp nhận kháng nghị về việc xử lý tịch thu 3 tàu cá là vật chứng, với nhận định: mặc dù 3 tàu cá được thế chấp hợp lệ nhưng việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu (của A với 3 tàu cá) nên vẫn đủ điều kiện tịch thu. Phán quyết này đã đẩy các khoản nợ vay có tài sản bảo đảm hợp pháp của bà A tại ngân hàng trở thành các khoản nợ không có bảo đảm, giao dịch bảo đảm trên thực tế cũng trở nên vô nghĩa. Và không ai khác, chính ngân hàng – người đã làm tất cả những việc mà luật quy định phải làm, là người phải gánh chịu một tình huống rủi ro vốn không thể lường định.

Continue reading

MỘT SỐ TỒN TẠI, VƯỚNG MẮC CẦN KHẮC PHỤC TRONG HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP

VĨNH LINH

Hoạt động giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.

. Do đó, công tác giám định tư pháp có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc giải quyết các vụ án, tranh chấp được đảm bảo khách quan, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội. Mặc dù, ngày 29/9/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua Pháp lệnh Giám định tư pháp và Chính phủ ban hành Nghị định số 67/2005/NĐ-CP ngày 19/5/2005 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh này nhưng việc triển khai hoạt động giám định tư pháp trên thực tế vẫn còn những bất cập, vướngmắc sau đây:

– Nghị định số 67/2005/NĐ-CP quy định Sở Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các Sở, ngành chuyên môn giúp UBND tỉnh quản lý Nhà nước một số công việc trong lĩnh vực giám định tư pháp nhưng chưa quy định rõ ràng về cơ chế, đầu mối quản lý, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện hoạt động giám định tư pháp. Bởi vì, các tổ chức giám định và người giám định không thuộc quyền quản lý của Sở Tư pháp, trong khi đó, Bộ Tư pháp chưa có Thông tư hướng dẫn cụ thể nên việc phối hợp tham mưu trong lĩnh vực này gặp rất nhiều khó khăn, không sâu sát và thực hiện không kịp thời, nhất là các quy định về việc trình bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên tư pháp; lựa chọn người giám định tư pháp theo vụ việc. Hiện nay, chỉ có Bộ Y tế là đã ban hành Thông tư hướng dẫn về tiêu chuẩn, điều kiện, trình tự, thủ tục bổ nhiệm, miễn nhiệm giám định viên pháp y và giám định viên pháp y tâm thần, các bộ, ngành khác chưa có hướngdẫn cụ thể.

Continue reading

THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA ĐỐI VỚI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN VĂN CƯỜNG – Viện Khoa học xét xử – TANDTC

Trong những năm gần đây, số lượng các vụ án dân sự – hôn nhân và gia đình có liên quan đến tranh chấp bất động sản ngày một gia tăng; thực tiễn xét xử của Toà án các cấp cũng cho thấy đây là loại án có tính chấp phức tạp, khó giải quyết, từ việc đánh giá chứng cứ, thu thập chứng đến việc áp dụng pháp luật. Do vậy, khi giải quyết các vụ án này, các Tòa án thường lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn, thời gian giải quyết thường kéo dài, qua nhiều cấp xét xử và đôi lúc hướng giải quyết còn chưa thống nhất.

Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hướng lớn đến hiệu quả giải quyết tranh chấp bất động sản đó là hệ thống pháp luật về bất động sản nói chung và pháp luật về đăng ký bất động sản nói riêng hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi sẽ khái quát pháp luật về đăng ký bất động sản nhìn từ thực tiễn giải quyết các tranh chấp về bất động sản tại Tòa án. Những yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về đăng ký bất động sản.

I. PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN NHÌN TỪ THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

1. Một số vướng mắc khi áp dụng quy định của pháp luật xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng nhà, đất.

Khi giải quyết tranh chấp về giao dịch mà đối tương là nhà, đất thì việc áp dụng văn bản pháp luật như sau:

Continue reading

SỰ CẦN THIẾT XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

CỤC ĐĂNG KÝ QUỐC GIA VỀ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM – BỘ TƯ PHÁP

1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về đăng ký bất động sản

Hoạt động đăng ký bất động sản có ý nghĩa quan trọng trong việc công khai và minh bạch quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và các quyền khác liên quan đến bất động sản của cá nhân, tổ chức, góp phần bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, ngăn ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ để giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực này, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản. Thông qua việc đăng ký một mặt Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về bất động sản, mặt khác người sử dụng đất, chủ sở hữu bất động sản thuận lợi hơn trong việc thực hiện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình về bất động sản cũng như tạo nguồn thông tin cung cấp cho mọi cá nhân, tổ chức có nhu cầu tìm hiểu về bất động sản.

Mặc dù thời gian qua, Nhà nước đã áp dụng nhiều giải pháp để tăng cường công tác này và đạt được những kết quả tích cực như: pháp luật về đăng ký bất động sản đã từng bước được hoàn thiện, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền đăng ký được thành lập tới cấp huyện; mô hình “một cửa” ở nhiều địa phương cùng với một số cải cách về thủ tục đăng ký đã tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp, tuy nhiên, hệ thống pháp luật về đăng ký bất động sản ở nước ta đang bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế. Tuy nhiên, trên thực tế, pháp luật về đăng ký bất động sản vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể là:

Continue reading

ĐIỀU KIỆN ĐỂ VIỆT NAM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG

TRẦN VĂN THỌ

Kinh tế Việt Nam đang đứng trước một khúc ngoặt. Những khó khăn hiện nay như lạm phát ở mức cao, cán cân thanh toán quốc tế và ngân sách thâm hụt nặng có thể được giải quyết tạm thời bằng một số biện pháp mạnh, bằng việc thực thi quyết liệt các biện pháp đó trước nguy cơ bất ổn xã hội. Nhưng ở đây tôi muốn bàn về một vấn đề lâu dài hơn, đó là tính chất của giai đoạn phát triển sắp tới. Nếu chúng ta muốn giai đoạn sắp tới phải là giai đoạn tăng trưởng bền vững (sustained growth) thì hiện nay phải xây dựng những tiền đề về cơ chế, chính sách, chiến lược như thế nào? Tăng trưởng bền vững được thực hiện cũng có nghĩa là những biến động vĩ mô trầm trọng như hiện nay sẽ không xảy ra, do đó vấn đề sắp bàn cũng có liên quan đến những nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng hiện nay.

Từ thập niên 1980 ở Trung Quốc và Việt Nam và từ thập niên 1990 ở Đông Âu, các nền kinh tế kế hoạch tập trung từng bước chuyển sang kinh tế thị trường. Vào đầu thập niên 1990, chiến lược chuyển đổi và các biện pháp cụ thể được Ngân hàng thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế và nhiều chuyên gia Mỹ đúc kết thành ba nội dung chính: Tự do hóa (liberalization) các hoạt động kinh tế kể cả ngoại thương; giá cả, hối suất do thị trường tự do quyết định; ổn định hóa (stabilization) kinh tế vĩ mô, giảm chi tiêu Chính phủ; và tư nhân hóa (privatization) doanh nghiệp quốc doanh. Ba biện pháp này được khuyến khích tiến hành đồng loạt trong thời gian ngắn. Các nhà phân tích gọi đây là Đồng thuận Washington (Washington Consensus).

Continue reading

NHỮNG HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH, CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

TS. NGUYỄN ĐÌNH QUANG & NGUYỄN BÁ LINH – TỔNG CÔNG TY BẢO VIỆT

Bối cảnh cạnh tranh trong ngành bảo hiểm

Sự phát triển của hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam là một xu thế tất yếu, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn diện, khi chúng ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Kinh tế thị trường đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sự phong phú về hoạt động kinh doanh, tốc độ tăng trưởng cao về kinh tế, mức thu nhập ngày càng cao của nhiều tầng lớp dân cư, tính phức tạp, đa dạng của các loại rủi ro là những yếu tố quan trọng tác động mạnh đến việc hình thành và tăng nhanh các nhu cầu về bảo hiểm trong xã hội.

Trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm Việt Nam, thời gian đầu, Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam thực sự là doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trên thị trường. Trong bối cảnh lúc bấy giờ có thể hiểu là hầu hết không có sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Ngày 18/12/1993, với việc ban hành Nghị định 100/CP về kinh doanh bảo hiểm của Chính phủ đã đánh dấu một bước ngoặt trong quá trình phát triển ngành bảo hiểm nước ta. Trải qua quá trình hoạt động và phát triển, cùng với việc mở cửa thị trường trong bối cảnh hội nhập, đã có rất nhiều doanh nghiệp bảo hiểm ra đời. Đến nay, trên thị trường đã có 37 doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm (nếu tính cả 2 Công ty mới ra đời là Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bảo Nông) và Công ty Bảo hiểm Quân đội (MIC) thì tổng số lên tới 39 công ty), trong đó có 1 công ty nhà nước, 18 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh… Điều đáng chú ý là thị trường bảo hiểm Việt Nam còn có sự góp mặt của 37 văn phòng đại diện của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.

Continue reading

VẬN DỤNG MÔ HÌNH BANCASSURANCE VÀO THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM Ở VIỆT NAM

PGS. TS. TRẦN HUY HOÀNG

Bancassurance là một thuật ngữ tiếng Pháp dùng để chỉ việc bán chéo các sản phẩm bảo hiểm qua hệ thống ngân hàng cho cùng một cơ sở khách hàng.

Một cách tổng quát hơn, có thể hiểu Bancassurance là một kênh trong chiến lược phân phối sản phẩm của các công ty bảo hiểm (có thể là nhân thọ hoặc phi nhân thọ), liên kết với các ngân hàng thương mại để cung cấp có hiệu quả các sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng của mình.

Bancassurance phát triển đầu tiên ở Mỹ và các nước châu Âu (Pháp, Đức, …). Hiện nay, Bancassurance ngày càng trở nên phổ biến hơn tại các nước châu Á như Malaysia, Singapore, Hồng Kông, Thái Lan…

Việc tham gia cung cấp sản phẩm bảo hiểm của ngân hàng có thể ở nhiều cấp độ khác nhau tuỳ theo thỏa thuận và hình thức liên kết giữa ngân hàng với công ty bảo hiểm:

– Hai bên ký kết hợp đồng thỏa thuận phân phối: Ngân hàng ký thỏa thuận phân phối sản phẩm với công ty bảo hiểm, trong đó ngân hàng đóng vai trò là người đại diện bán hàng hoặc người môi giới bảo hiểm cho công ty bảo hiểm. Ngân hàng phân phối các sản phẩm bảo hiểm (bán riêng rẽ hoặc bán cùng với các sản phẩm ngân hàng) để nhận hoa hồng. Trường hợp này, hai bên không cần hoặc chỉ chia sẻ một ít cơ sở dữ liệu khách hàng và không cần phải đầu tư nhiều về cơ sở vật chất cho quan hệ hợp tác này.

Continue reading

Tư duy phương Tây và TƯ DUY PHƯƠNG ĐÔNG

HOÀNG THẠCH BIÊN

Trong hai nhóm tục ngữ sau, bạn thích các câu tục ngữ trong nhóm nào hơn?

Nhóm 1:

Nhóm 2:

– Có nửa ổ bánh mì còn đỡ hơn là không có ổ bánh mì nào.
– Một người mà đòi chống lại mọi người thì chỉ có thất bại.
– “Ví dụ như” không phải là bằng chứng.
– Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao.
– Không cần coi chừng kẻ thù mà chỉ cần cẩn thận với những người bạn.
– Một người đàn ông có thể mạnh hơn sắt thép nhưng lại mềm yếu hơn một con ruồi.

Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ nhất, bạn có thể tự hào mình có lối tư duy của phương Tây, chính xác hơn là tư duy giống sinh viên Mỹ. Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ hai, bạn có thể tự hào rằng tư duy của bạn thấm nhuần được tư tưởng Á Đông. Đó là kết quả thu được từ một cuộc thử nhiệm của giáo sư Tâm lý Xã hội Mỹ Nisbet. Trong thử nghiệm của mình, ông đưa hai nhóm câu tục ngữ trên cho sinh viên của trường ĐH Michigan và sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và yêu cầu họ cho biết nhóm câu tục ngữ nào khiến họ cảm thấy thích thú. Sinh viên Mỹ cho biết họ thích nhóm 1, còn sinh viên Trung Quốc thì thích nhóm 2.

Vậy giữa hai nhóm câu tục ngữ này có sự khác biệt nào? Rõ ràng, những ý tưởng được thể hiện trong các câu tục ngữ nhóm 2 dung hàm 2 ý tưởng/khái niệm hoàn toàn mâu thuẫn, đối chọi nhau. Ví dụ trong câu đầu, Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao, theo lẽ thường tình, khiêm tốn là trái ngược với sự kiêu ngạo, người ta không thể vừa khiêm tốn, vừa kiêu ngạo. Hoặc trong câu 2, theo logic thì chúng ta chỉ đề phòng kẻ thù chứ ai lại đi đề phòng bạn bè? Nói một cách ngắn gọn, nhóm thứ 1 biểu hiện ý tưởng thuần túy logic, nhóm thứ 2 thì chứa đựng sự mâu thuẫn về logic.

Continue reading

TƯ DUY PHƯƠNG TÂY VÀ TƯ DUY PHƯƠNG ĐÔNG

HOÀNG THẠCH BIÊN

Trong hai nhóm tục ngữ sau, bạn thích các câu tục ngữ trong nhóm nào hơn?

Nhóm 1:

Nhóm 2:

– Có nửa ổ bánh mì còn đỡ hơn là không có ổ bánh mì nào.
– Một người mà đòi chống lại mọi người thì chỉ có thất bại.
– “Ví dụ như” không phải là bằng chứng.
– Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao.
– Không cần coi chừng kẻ thù mà chỉ cần cẩn thận với những người bạn.
– Một người đàn ông có thể mạnh hơn sắt thép nhưng lại mềm yếu hơn một con ruồi.

Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ nhất, bạn có thể tự hào mình có lối tư duy của phương Tây, chính xác hơn là tư duy giống sinh viên Mỹ. Nếu bạn thích nhóm tục ngữ thứ hai, bạn có thể tự hào rằng tư duy của bạn thấm nhuần được tư tưởng Á Đông. Đó là kết quả thu được từ một cuộc thử nhiệm của giáo sư Tâm lý Xã hội Mỹ Nisbet. Trong thử nghiệm của mình, ông đưa hai nhóm câu tục ngữ trên cho sinh viên của trường ĐH Michigan và sinh viên trường ĐH Bắc Kinh và yêu cầu họ cho biết nhóm câu tục ngữ nào khiến họ cảm thấy thích thú. Sinh viên Mỹ cho biết họ thích nhóm 1, còn sinh viên Trung Quốc thì thích nhóm 2.

Vậy giữa hai nhóm câu tục ngữ này có sự khác biệt nào? Rõ ràng, những ý tưởng được thể hiện trong các câu tục ngữ nhóm 2 dung hàm 2 ý tưởng/khái niệm hoàn toàn mâu thuẫn, đối chọi nhau. Ví dụ trong câu đầu, Quá khiêm tốn là biểu hiện một nửa của sự tự cao, theo lẽ thường tình, khiêm tốn là trái ngược với sự kiêu ngạo, người ta không thể vừa khiêm tốn, vừa kiêu ngạo. Hoặc trong câu 2, theo logic thì chúng ta chỉ đề phòng kẻ thù chứ ai lại đi đề phòng bạn bè? Nói một cách ngắn gọn, nhóm thứ 1 biểu hiện ý tưởng thuần túy logic, nhóm thứ 2 thì chứa đựng sự mâu thuẫn về logic.

Continue reading

CẦN HẾT SỨC THẬN TRỌNG XEM XÉT VIỆC THÀNH LẬP CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ

VÕ VĂN KIỆT

Hiện nay, việc xây dựng các tập đoàn kinh tế Nhà nước đang diễn ra khá rộng mà chưa thấy có đủ cơ sở phân tích khoa học và thực tiễn kinh nghiệm cần thiết. Thực tế mô hình này đã có thành công ở một số quốc gia, trong những giai đoạn nhất định, nhưng cũng không ít nền kinh tế bị chao đảo vì chịu ảnh hưởng nặng bởi sự thua lỗ của các tập đoàn kinh tế.

Các tập đoàn kinh tế của các nước trên thế giới có lịch sử khá lâu. Hầu hết các tập đoàn đều xuất phát từ các công ty gia đình nhỏ, nhưng hoạt động rất hiệu quả, dưới sự lãnh đạo của những nhà quản lý giỏi dần trở thành tập đoàn khổng lồ. Quá trình này không diễn ra nhanh chóng mà thường phải mất hàng chục năm, gần như không có tập đoàn nào hình thành trong thời gian vài ba năm.

Các tổ chức kinh tế gọi là lớn của chúng ta (các Tổng công ty 90, 91) là nền tảng để hình thành các tập đoàn, nói chung quy mô còn khiêm tốn. Thêm nữa, khả năng quản lý hệ thống, quản lý theo mô hình công ty mẹ – công ty con, vấn đề sở hữu… còn nhiều bất cập. Yếu tố then chốt đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động tốt là cơ chế quản lý, quan hệ giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp với Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu lại chưa được làm rõ, thực tế hiện nay ở ta vẫn là chia sẻ trách nhiệm. Khi xảy ra sự cố, người điều hành doanh nghiệp thường đẩy trách nhiệm lên trên. Như vậy, người trực tiếp điều hành vừa không đủ quyền tự chủ lại không phải chịu trách nhiệm về kết quả điều hành của mình dẫn đến tình trạng “Cha chung không ai khóc”. Do đó, tình trạng lạm dụng tài sản của Nhà nước mưu lợi cho cá nhân: Lợi thì doanh nghiệp hưởng, thua thiệt thì Nhà nước chịu vẫn phổ biến mà điển hình là các vụ lình xình ở Tổng công ty Dầu khí, Tổng Công ty Điện lực (nay đã thành tập đoàn). Trong khi đó, quan hệ trách nhiệm giữa người trực tiếp điều hành doanh nghiệp và chủ sở hữu ở các nước khác đã được xác định rạch ròi từ nhiều chục năm nay.

Continue reading

KHAI THÔNG CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƯỜNG BẤT ĐỘNG SẢN VN

TS. TRƯƠNG QUANG THÔNG

Thị trường bất động sản VN, dù đã trải qua những cơn sốt nóng, lạnh trong vòng hơn một thập kỷ vừa qua, vẫn được đánh giá là một thị trường hấp dẫn và đầy tiềm năng. Thế nhưng, trong quá trình phát triển, những mối quan hệ giữa thị trường bất động sản và thị trường tài chính VN đã thể hiện ra như thế nào? Trong tình hình giá băng của thị trừơng bất động sản hiện nay, những tín hiệu khai thông các nguồn vốn mới đã đặt ra cho chúng ta những vấn đề gì cần phải giải quyết? Đó là mục đích của bài viết nầy.

Tổng quan về thị trường bất động sản VN

Từ tính hấp dẫn …

Nhân tố hấp dẫn lớn nhất của thị trường bất động sản VN là dân số đông và trẻ, với hơn 85 triệu người, đứng hàng thứ 15 trên thế giới về quốc gia đông dân số, trong đó 60% dân số có độ tuổi dưới 30. Tốc độ tăng dân số vẫn còn ở mức cao, xấp xỉ 1,5%/năm. Theo Tổng cục Thống kê, tính đến hết năm 2006, 27% dân số VN sống ở các đô thị và dự báo đến năm 2020, cư dân đô thị VN sẽ là chiếm hơn 45% dân số cả nước.

Nhân tố thứ hai là kinh tế đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng trưởng mạnh trong các năm qua và theo dự báo, cả những năm sắp tới. Từ đó, phát sinh nhu cầu đất đai, xây dựng nhà xưởng, nhu cầu văn phòng và nhu cầu nhà ở, khách sạn cho những người nước ngoài đến VN để sinh sống, làm việc.

Continue reading