SUY NGẪM 25

image Nguồn nhân lực là một trong những sức mạnh cạnh  tranh nhất của Việt Nam (sau môi trường đầu tư), vì:

– Rẻ? Một số nhà đầu tư nước ngoài cho rằng lao động Việt Nam không còn rẻ và yếu tố lao động rẻ cũng không còn yếu tố quyết định;

– Nguồn nhân lực có trình độ cao? Việt Nam đang trong cơn “khát” yếu tố này;

– Thông minh và khéo léo? Đúng, nhưng kiến thức của người lao động còn mang tính chất cá nhân, dao động, thiếu cách xử lý vấn đề và suy nghĩ mang tính toàn cầu để mang nhiều tính ứng dụng thực tiễn;

– Có tính cộng đồng và hợp tác? Thực tế người lao động Việt Nam khi làm việc theo nhóm, tập thể, tính hợp tác rất kém.

– Người lao động tôn trọng người sử dụng lao động và được bảo vệ quyền lợi tốt?Đình công, đấu tranh tự phát đã trở thành thói quen của người lao động Việt Nam.

. . . . .

Sức mạnh cạnh tranh của Việt Nam có thể bị tác động bởi những yếu tố trên trong thời đại hội nhập kinh tế quốc tế???

CIVILLAWINFOR tổng hợp từ vietnamnet.vn, laodong.com.vn, anninhthudo.vn

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ TỈNH BẮC NINH BIẾN VIỆC "DỄ" THÀNH "KHÓ"

image NGÂN HÀ

Một vụ án không quá phức tạp, án tuyên rõ ràng, bên phải thi hành có tài sản nhưng đã 4 năm trôi qua, người được thi hành án (THA) vẫn không nhận được tài sản như bản án đã tuyên. Nguyên nhân chính khiến việc THA bị kéo dài là ở khâu định giá của cơ quan THADS TP.Bắc Ninh quá cao dẫn tới việc tài sản không bán được (về vấn đề này trong năm 2007, ĐS&PL đã từng có bài viết phản ánh – PV). Những tưởng sau khi cơ quan THADS tỉnh Bắc Ninh “vào cuộc” thì vấn đề này sẽ được “khai thông” nhưng…thay vì giải quyết vụ việc, cơ quan này lại ra quyết định “Trả lại đơn yêu cầu thi hành án” cho đương sự!

“Tự làm khó” khi định giá quá cao

Theo bản án phúc thẩm số 15/DSPT ngày 29.4.2004 của TAND tỉnh Bắc Ninh, ông Nguyễn Việt Hòa ở Niềm Xá, phường Kinh Bắc, TP.Bắc Ninh phải trả cho bà Nguyễn Thị Thúy (cùng ở phường Kinh Bắc) số tiền là 318.800.000 đồng. Nhận đơn yêu cầu THA của ông Trần Thanh (được bà Thúy uỷ quyền), cơ quan THADS TP.Bắc Ninh đã tiến hành kê biên nhà, đất của ông Hòa tại khu Niềm Xá để bán đấu giá. Lúc đầu, cơ quan THA định giá khối tài sản phải THA là 2, 5 triệu đồng/m2. Sau đó, mức giá được định lại còn 1, 2 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, trong tất cả những lần thông báo bán đấu giá tài sản (do Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Bắc Ninh thực hiện) đều không có người hỏi mua. Lý do mức giá khởi điểm đưa ra quá cao so với giá đất thực tế tại địa phương!

Continue reading

MÔ HÌNH TÒA ÁN MỚI: TÒA NÀO XỬ SƠ THẨM

HỒ KHẢI HÀ

Người nói án sơ thẩm nên để cho tòa sơ thẩm khu vực “ôm” hết, người lại bảo tòa cấp trên cũng có quyền “trị” án này…

Trong hội thảo về mô hình tổ chức tòa án khu vực do Ban chỉ đạo Cải cách tư pháp tổ chức mới đây, ngoài việc lựa chọn mô hình tòa án ba hay bốn cấp, vấn đề thẩm quyền giải quyết án của các tòa cũng còn gây nhiều tranh cãi.

Phúc thẩm san sẻ các vụ sơ thẩm…

Theo Phó Chánh tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM Phạm Hùng Việt, tòa sơ thẩm khu vực nên xử một số án sơ thẩm như tòa cấp huyện hiện nay. Ông Việt lựa chọn mô hình tòa bốn cấp (tòa sơ thẩm khu vực, tòa phúc thẩm, tòa thượng thẩm, tòa tối cao) nên theo ông, tòa phúc thẩm sẽ “làm” một số án sơ thẩm như tòa cấp tỉnh hiện nay.

Ý kiến này được nhiều tòa án địa phương ủng hộ. Theo họ, hiện tại tòa sơ thẩm khu vực chỉ nên xử những án hình sự có khung hình phạt từ 15 năm tù trở xuống, cao hơn thì chuyển cho tòa phúc thẩm. Nói gì thì nói, đối với những án đặc biệt nghiêm trọng thì trình độ thẩm phán tòa sơ thẩm khu vực vẫn chưa kham nổi! Chưa kể nếu tòa cấp trên không san sẻ thì lượng án đổ dồn về tòa sơ thẩm khu vực có thể sẽ gây quá tải. Chánh án TAND tỉnh Long An Huỳnh Công Lý còn nói các án dân sự, kinh doanh thương mại liên quan đến nước ngoài rất phức tạp. Ngay cả tòa cấp tỉnh hiện cũng còn lúng túng, nếu đẩy về cho tòa sơ thẩm khu vực hết sẽ rất căng!

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: DƯỚI BẢO RÕ, TRÊN NÓI CHƯA

HỮU KHÁ

Cấp sơ thẩm lấy bờ tường nhà bị đơn làm ranh giới giữa hai bất động sản nhưng là bờ tường của tầng trệt hay tầng lầu? Nhà ông T. (một trệt, một lầu) ở gần nhà ông X. (một trệt, hai lầu) tại quận Hải Châu, TP Đà Nẵng. Nếu phần trệt giữa hai nhà cách nhau 3 cm thì phần lầu của nhà ông X. lại lấn qua không gian của nhà ông T. Do không thỏa thuận được nên ông T. đã khởi kiện ông X. ra tòa với yêu cầu ông X. phải vạt bỏ phần tường xây lấn.

Ngày 2-5-2008, TAND quận Hải Châu đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của hai bên đương sự theo hướng lấy bờ tường nhà của ông X. theo phương thẳng đứng làm ranh giới giữa hai căn nhà. Ông X. có nghĩa vụ cắt bỏ phần kiến trúc đã xây vượt khỏi ranh giới và lấn sang nhà ông T. Đồng thời, ông T. phải trả cho ông X. 50 triệu đồng chi phí cắt bỏ phần kiến trúc đã nêu.

Sau khi quyết định này có hiệu lực, ông T. đã tự nguyện nộp tiền cho ông X. kèm theo đề nghị ông X. thi hành án. Ông X. cũng đã nhận tiền và có đơn cam kết thực hiện đúng quyết định của tòa. Song sau đó, ông T. đã nộp đơn khiếu nại ông X. vi phạm cam kết. Vì lẽ ra phải lấy chuẩn là bờ tường tầng trệt để cắt bỏ tất cả các phần kiến trúc xây lấn của cả lầu một và lầu hai thì ông X. lại lấy chuẩn là bờ tường lầu một để vạt bớt lan can của lầu hai.

Phía ông X. khăng khăng “án tuyên sao, tôi làm y vậy”. Theo ông X., quyết định của tòa phải được hiểu là vật kiến trúc ở đâu thì lấy bờ tường ở đó làm ranh giới theo phương thẳng đứng để cắt bỏ. Ông X. từ chối đập bỏ một phần tường của lầu một.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ: VỤ KIỆN MUA NHÀ TẠI SỐ 2 LÒ ĐÚC, VÌ SAO ÁN CÓ HIỆU LỰC BỊ TRÌ HOÃN THI HÀNH

QUỐC LUẬT

Vụ án dân sự có nguyên đơn là ông Trần Văn Giai và bà Triệu Thị La cùng trú tại số 4 Thịnh Yên, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội, bị đơn là ông Hoàng Tiến Lân Hưng và bà Phạm Thị Phấn cùng trú tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Theo đơn khởi kiện, ông Giai có nhu cầu mua nhà để ở và biết ông Hoàng Tiến Lân Hưng có nhu cầu bán nhà nên ngày 06.5.2004 hai bên đã làm Hợp đồng đặt cọc mua nhà đất với nội dung: Ông Hoàng Tiến Lân Hưng đã nhận của ông Giai số tiền đặt cọc là 112 triệu đồng để mua lại “Hợp đồng thuê nhà Nhà nước” của ông Hưng tại số 2 Lò Đúc, phường Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội và hẹn đến ngày 16.6.2004 ông Giai sẽ thanh toán đủ số tiền 438 triệu đồng (tổng số tiền là 550 triệu đồng) còn lại cho ông Hưng và nhận nhà.

Hợp đồng có ghi: Nếu ông Hưng đã nhận tiền đặt cọc nhưng không bán nhà nữa hoặc không thực hiện đúng với các điều khoản đã ghi trong hợp đồng này thì ông Hưng phải thanh toán lại toàn bộ số tiền mà ông Giai đã đặt cọc đồng thời phải nộp phạt cho ông Giai số tiền bằng số tiền đã đặt cọc. Hợp đồng đã được cả bốn người nêu trên cùng ký. Đến ngày 24.5.2004 ông Giai giao tiếp số tiền 38 triệu đồng đặt cọc cho ông Hưng, ngày 25.5.2004 bản khai chuyển nhượng hợp đồng thuê nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước giữa ông Giai và ông Hưng được UBND phường Phạm Đình Hổ xác nhận.

Continue reading

TRAO ĐỔI LẠI “QUAN NIỆM THẾ NÀO VỀ LÃI SUẤT TRONG KINH TẾ THỊ TRƯỜNG Ở VIỆT NAM?”

ANH TUẤN

Trong bài viết với tiêu đề nêu trên đăng trong Tạp chí Ngân hàng số 20 tháng 10/2008, tác giả Minh Tâm đã phân tích sự liên quan giữa cơ chế “Lãi suất thỏa thuận” hay “tự do hóa lãi suất” với tốc độ tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Bằng việc đưa ra các số liệu về mức tăng chỉ số giá tiêu dùng hàng năm (từ năm 1999 đến 2005), tác giả kết luận cơ chế lãi suất thỏa thuận (áp dụng tại Việt Nam từ tháng 06/2002) là “một trong những nguyên nhân làm cho chỉ số giá cả hàng hóa – dịch vụ tiêu dùng liên tục tăng lên”.

Ở đây, tôi không bàn về các nội dung kinh tế của bài viết, tôi cũng không nghi ngờ gì về khả năng có thể có sự liên quan giữa hai yếu tố là cơ chế lãi suất và chỉ số giá tiêu dùng mà tác giả đã phân tích. Tôi chỉ xin được nêu một vài ý kiến nhỏ về phương pháp phân tích của tác giả. Trong nội dung bài báo trên, tác giả chỉ căn cứ vào một chuỗi chỉ số giá tiêu dùng trong các năm từ 1999 – 2005 (số liệu lần lượt là: 0,1%; -0,6%; -0,2%; 4%; 3%; 8,4%; 9,5%), và kết luận rằng cơ chế “lãi suất thỏa thuận” bắt đầu áp dụng từ năm 2002 là một nguyên nhân làm tăng chỉ số giá tiêu dùng. Về mặt cảm tính, đúng là có vẻ như có sự liên hệ nào đó giữa việc tự do hóa lãi suất với mức tăng chỉ số giá tiêu dùng, vì số liệu mà tác giả đã dẫn phần nào nói lên điều đó. Tuy nhiên, nếu chỉ nhìn vào dãy số liệu đó mà kết luận ngay, thì tôi cho rằng chưa đủ cơ sở khoa học.

Việc chỉ số giá tiêu dùng giai đoạn 2002 – 2005 tăng lên cao bắt đầu từ khi Việt Nam áp dụng cơ chế lãi suất thỏa thuận (như bảng số liệu mà tác giả đã dẫn) rất có thể chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Để làm rõ điều này, chúng ta hãy xem xét số liệu trong một giai đoạn dài hơn: Số liệu thống kê cho thấy từ năm 1991 đến 1998 (là giai đoạn Việt Nam đang áp dụng cơ chế “trần lãi suất”), chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam lần lượt là: 67,4%; 17,5%; 5,3%; 14,4%; 12,7%; 4,5%; 3,6%; 9% (giai đoạn trước năm 1998 tại Việt Nam sử dụng “chỉ số giá bán lẻ hàng hóa”.

Continue reading