TRANH CHẤP VỀ SỞ HỮU TÀI SẢN: DỨT RUỘT KIỆN CON

LÊ VĂN NHUNG

Năm 1987, ông Trần Văn T. đã mua một mảnh vườn diện tích hơn 1.853 m2, trên có một căn nhà nhỏ tại xã Trà Đa, TP Pleiku (Gia Lai). Giấy tờ mua bán viết tay được chính quyền xã Trà Đa lúc bấy giờ xác nhận. Sau đó, ông T. đưa vợ con từ tỉnh Bắc Giang vào sinh sống. Trên mảnh vườn ấy, ông bà trồng cà phê và một số cây ăn quả.

Quên cả tình thân

Đến năm 1990, ông bà T. chuyển về sinh sống tại nơi khác trong TP Pleiku, để lại mảnh vườn cho vợ chồng đứa con gái đầu ở nhờ. “Lúc bấy giờ do vợ chồng con gái mới từ Bắc vào quá khó khăn, chưa có nhà ở nên tôi cho chúng ở nhờ để giữ gìn tài sản”. Ông bà T. dự định để dành mảnh vườn đó sau này chia phần cho cả tám người con. Vì vậy, đến năm 2001, khi con trai út trưởng thành, ông bà đã yêu cầu con gái cắt bớt một phần đất để cho em thì vợ chồng con gái bất ngờ trở mặt, cương quyết không chịu. Không những thế, họ còn quát tháo ầm ĩ, chửi cha mắng mẹ thậm tệ.

Bức xúc, ông T. khiếu nại đến UBND xã Trà Đa thì mới “té ngửa” ra là vợ chồng con gái đã lén đi làm “giấy đỏ” từ năm 1997. Đứa con rể thừa nhận tất cả việc làm này nhưng vẫn không chịu trả lại đất, nói mình đã được cấp “giấy đỏ” thì đất là của mình. Đứa con gái thì biện bạch rằng đã đổi một số vật liệu gồm gỗ và 10 tấm tôn cũ để lấy mảnh vườn của cha mẹ.

Continue reading

KHÔNG CHỈ LÀ ĐỊA ĐIỂM, ĐỊA ĐIỂM VÀ ĐỊA ĐIỂM

MINH AN (Dịch từ Business Know-how)

Trong kinh doanh bán lẻ, không một doanh nghiệp có thể bỏ qua yếu tố địa điểm kinh doanh. Đây thực sự là một bài toán cần phải có lời giải chuẩn xác nhất. Nhưng có phải tất cả đều chỉ là Địa điểm, Địa điểm và … Địa điểm?

Quyết định địa điểm kinh doanh một trong những quyết định quan trọng nhất của một doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có thể thường xuyên thay đổi các kế hoạch kinh doanh và chiến lược bán hàng, nhưng một khi đặt bút ký một hợp đồng thuê hay mua lại địa điểm kinh doanh đồng nghĩa với một sự ổn định lâu dài và không thể thay đổi dễ dàng. Hãy nghĩ về những yếu tố quyết định địa điểm kinh doanh mới của mình. Câu trả lời sẽ giúp doanh nghiệp tìm ra địa điểm kinh doanh thích hợp nhất cho sự phát triển lâu dài.

Khoan hãy bàn đến sản phẩm hay dịch vụ của một doanh nghiệp, chìa khoá để tìm kiếm một địa điểm kinh doanh tuyệt vời đó là việc thường xuyên xuống phố. Các doanh nghiệp có thể sử dụng một nhà môi giới bất động sản giúp đỡ tìm ra các địa điểm tiềm năng, nhưng bản thân doanh nghiệp (chủ doanh nghiệp hay người phụ trách) nên trực tiếp ghé thăm từng địa điểm đó vào các thời điểm khác nhau trong ngày, vào các ngày khác nhau trong tuần, để đảm bảo rằng nó đúng là một địa điểm tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Một địa điểm kinh doanh có thể trông tuyệt vời vào buổi sáng, nhưng khá đơn độc vào buổi trưa, hay xung quanh có thể đông nghịt vào chiều tối thứ Hai vì tắc đường, nhưng đến cuối tuần thì vắng tanh tại các bãi đỗ xe.

Continue reading

PHÂN BIỆT CẢI CHÍNH PHẦN GIỚI TÍNH TRONG GIẤY KHAI SINH VÀ XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH THEO NHỮNG QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH

THANH XUÂN

Cải chính hộ tịch và xác định lại hộ tịch của một cá nhân là một trong những việc quan trọng trong cuộc sống của một con người. Sự kiện cải chính, xác định lại hộ tịch của một người có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạt động dân sự của họ trong sự điều chỉnh bằng các quy định pháp lý mà họ phải tuân thủ khi là công dân trong một xã hội.

Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 36 khẳng định cá nhân có quyền được xác định lại giới tính và việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính. Đồng thời việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, nội dung điều luật đã rõ việc xác định giới tính của một người chỉ thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh nghĩa là mang yếu tố tự nhiên không có sự tác động của con người. Hoặc trong trường hợp giới tính của người đó chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ về giới tính, như vậy một cá nhân mới sinh ra mà giới tính của người đó chưa xác định rõ ràng là nam hay nữ cần có sự can thiệp của y học để xác định  rõ giới tính của người đó.

Continue reading

HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG LAO ĐỘNG: NHỮNG NỖ LỰC PHÁP LÝ

XUÂN HOA

Năm 1997, Việt Nam đã gia nhập Công ước 100 và 111. Đây là 2 trong số 8 Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Để hỗ trợ việc thực hiện Công ước, từ đó đến nay hệ thống pháp luật quốc gia đã nhiều sự thay đổi đáng kể, ghi nhận một nỗ lực pháp lý trong hành trình trả lại sự công bằng cho nữ giới.

Sát cánh cùng Công ước

Ra đời vào thập niên 50 của thế kỷ XX, Công ước 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và lao động nữ và Công ước 111 về chống phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho chặng đường tìm lại sự công bằng cho phụ nữ. Với những quy định của mình, 2 Công ước đòi hỏi các quốc gia thành viên đảm bảo và thúc đẩy việc trả công bình đẳng cho lao động nam và lao động nữ thực hiện các công việc có giá trị ngang nhau, cũng như theo đuổi một chính sách nhằm tăng cường sự bình đẳng về cơ hội và xóa bỏ sự phân biệt, đối xử trong công việc. Năm 1997, Việt Nam đã gia nhập Công ước 100 và 111. Đây là 2 trong số 8 Công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Để hỗ trợ việc thực hiện Công ước, từ đó đến nay hệ thống pháp luật quốc gia đã nhiều sự thay đổi đáng kể.

Continue reading

MANG BẰNG TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC… ĐI CẦM ĐỒ

CẨM QUYÊN

Chuyện thật mà nghe như đùa! Nhiều sinh viên tốt nghiệp ra trường không xin được việc làm, trong lúc túng quẫn đã mang tấm bằng cử nhân đến hiệu cầm đồ chỉ để lấy ít tiền!

Đem máy vi tính, đồ dùng, xe cộ,… đến hiệu cầm đồ thì vẫn có cơ may chuộc lại được và có thể hiểu được vì túng thiếu nhưng đem tấm bằng tốt nghiệp chỉ được cấp một lần duy nhất đi cắm thì quả thực không ổn tí nào.

Với các loại giấy tờ tùy thân, các chủ hiệu cầm đồ không mặn mà lắm nhưng với các loại bằng tốt nghiệp, đặc biệt là bằng đại học thì chủ hiệu nào cũng hồ hởi đón nhận. Dân cầm đồ bằng tốt nghiệp thường “rỉ tai” nhau những địa chỉ quen cầm bằng tốt nghiệp với giá khá cao, thủ tục nhanh gọn, sòng phẳng. Đó là hiệu cầm đồ ngay cạnh trường THPT Quang Trung (đường Láng, quận Đống Đa) và một cửa hiệu cầm đồ trên phố Lý Nam Đế.

Anh Hiển, chủ hiệu cầm đồ ở phố Lý Nam Đế kể: “Cầm bằng tốt nghiệp cũng có “mùa vụ” của nó. Đối với các tân cử nhân ra trường 4, 5 tháng, công việc chưa ổn định, thiếu tiền sinh hoạt, cắm hết các thứ rồi sẽ đem tấm bằng tốt nghiệp đến. Nhiều cử nhân ra trường đã lâu nhưng không kiếm được việc làm hoặc làm việc mà không cần đến bằng ĐH thì bất cứ lúc nào túng tiền họ cũng mang đến cắm”.

Continue reading

KINH DOANH CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM ĐIỀU GÌ CÓ THỂ RÚT RA TỪ MỘT HỢP ĐỒNG MUA BÁN CỔ PHẦN?

TS. PHAN VĂN TÍNH – PHI LAO

Hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây, đã có những đóng góp tích cực cho phát triển và hội nhập đối với nền kinh tế nước nhà. Tuy nhiên, để thị trường hoạt động có hiệu quả, an toàn và ổn định chắc chắn cần phải nghiên cứu để phát hiện những tồn tại và yếu kém nhằm có biện pháp khắc phục để hoàn thiện. Con đường đi ngoằn nghèo của một lô cổ phần mà tác giả sẽ đề cập dưới đây, phần nào, cho chúng ta thấy những gì và cần làm gì để thị trường phát triển một cách ổn định? Vì những lý do khác nhau, trong bài viết tên các doanh nghiệp và cá nhân liên quan được thay đổi.

1. Hành trình dài của một lô cổ phần

Đoạn trường thứ nhất: Ngày 17/11/2005, một cá nhân tên là ông Tkm ký hợp đồng “góp vốn đầu tư”(gọi là HĐ1) với Công ty cổ phần Ctn. Nội dung HĐ1: ông Tkm góp vốn với Ctn để đầu tư mua lô cổ phần của công ty NĐP. Tổng giá trị hợp đồng là 30.600 triệu đồng; 90% vốn là do Ctn dàn xếp; ông Tkm đặt cọc 10%. Ctn cam kết chuyển nhượng cổ phần lại cho ông Tkm, nếu mua được; giá chuyển nhượng lại bằng giá trúng thầu cộng với lãi 11,1% trên 90% số tiền của Ctn. Lợi tức phát sinh ông Tkm hưởng.

Đoạn trường thứ hai:

– Ngày 18/11/2005 (ngay sau khi HĐ1 ký kết), Ctn ký hợp đồng với Ngân hàng Inba (HĐ2). Nội dung cơ bản của hợp đồng này cũng tương tự HĐ1.

Continue reading

CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

HÀ MY

Trên thực tế, cổ phần hóa ở Trung Quốc đã được thực hiện từ năm 1984 với sự ra đời của Công ty Cổ phần Hữu hạn Bách hóa Thiên Kiều (Bắc Kinh). Sau đó, trong Văn kiện quan trọng được ban hành tháng 12 năm 1986, Quốc Vụ viện Trung Quốc đã cho phép “Các địa phương có thể chọn ra một vài doanh nghiệp lớn và vừa có điều kiện, thuộc chế độ sở hữu toàn dân để thực hiện thí điểm cổ phần hóa”.

Đến cuối năm 1993, Trung Quốc đã có hơn 3.000 đơn vị thực hiện thí điểm cổ phần hóa. Tính đến cuối năm 1996, Trung Quốc có hơn 9.200 DNNN đã chuyển thành công ty cổ phần, với tổng số vốn là 600 tỷ NDT, hơn 4.300 công ty cổ phần hữu hạn đăng ký hoạt động theo Luật Doanh nghiệp, với tổng số vốn cổ phần đạt 358 tỷ NDT, trong đó 150 tỷ NDT là vốn huy động từ xã hội, 35 tỷ NDT là giá trị cổ phần phát hành trong nội bộ doanh nghiệp, 80 tỷ NDT là vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Nhiều công ty cổ phần đã tham gia thị trường chứng khoán Thượng Hải, Thâm Quyến, một số công ty cổ phần đã niêm yết trên thị trường

Các công ty cổ phần của Trung Quốc được hình thành chủ yếu theo 3 cách: Bán cổ phiếu cho CNVC trong nội bộ doanh nghiệp; Phát hành cổ phiếu công khai ra xã hội; Công ty cổ phần hình thành bằng cách nắm giữ cổ phiếu giữa các doanh nghiệp… Sau khi tiến hành cổ phần hóa, cấu của doanh nghiệp Trung Quốc được tổ chức theo sơ đồ sau:

Continue reading

PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH GIÁ TÍNH THUẾ BẤT ĐỘNG SẢN

TẠP CHÍ THUẾ – Đối với các loại thuế được tính theo giá trị của đối tượng chịu thuế thì việc xác định trị giá tính thuế là một khâu trung tâm của quá trình hành thu. Thuế bất động sản cũng là một loại thuế được tính theo giá trị. Giá tính thuế thường được xác định theo giá thị trường hoặc tiền cho thuê của bất động sản.

Giá thị trường

Giá thị trường của bất động sản là giá được hình thành theo quan hệ cung cầu trên thị trường bất động sản. Có 3 phương pháp truyền thống được sử dụng trong định giá thị trường của bất động sản là.

Phương pháp giá so sánh: Giá của lô đất, ngôi nhà cần định giá được xác định bằng giá thị trường của lô đất hoặc ngôi nhà có đặc điểm giống nhau (tương tự). Phương pháp này thích hợp khi thị trường bất động sản phát triển và xuất hiện tính tương đồng giữa lô đất, ngôi nhà cần định giá với giá thị trường của lô đất, ngôi nhà tương tự (ví dụ hai lô đất nằm cạnh nhau của cùng một khu vực). Mặt khác, để định giá theo phương pháp này cũng cần một cơ sở dữ liệu tập trung về giao dịch bất động sản để đảm bảo công tác định giá được chính xác, hài hoà.

Phương pháp chi phí: Giá của bất động sản cần định giá được xác định bằng cách xác định giá của lô đất cộng với chi phí xây dựng công trình trên đất.

Continue reading

VỀ NHỮNG BẤT CẬP TRONG CƠ CHẾ – CHÍNH SÁCH CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC QUA VIỆC THÍ ĐIỂM CỔ PHẦN HOÁ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM

NGUYỄN DUY LÊ

Rất đồng tình với bài viết đầy thuyết phục của tác giả Nguyễn Phương Linh được đăng trên Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8 năm 2008 với tựa đề “Pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước nhìn từ việc cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam”. Trong bài viết này, với tư cách nhà đầu tư cá nhân – một cổ đông nhỏ của Vietcombank cổ phần ngay từ đầu, với ý thức trách nhiệm chung thường xuyên theo sát tình hình dư luận xã hội xung quanh câu chuyện cổ phần hoá Vietcombank, đặc biệt là nắm bắt tâm tư nguyện vọng, những bức xúc của các cổ đông Vietcombank, bao gồm tổ chức pháp nhân và cá nhân, phản ảnh qua kỳ họp đầu tiên của Đại hội đồng cổ đông được tổ chức vào ngày 26/4/2008 tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia Mỹ Đình, Hà Nội, tôi xin tổng hợp lại cùng với những suy nghĩ luận bàn cá nhân theo chủ đề nêu trên…

Trước khi vào từng nội dung cụ thể, xin được đặt vấn đề có tính mở đầu sau đây. Như chúng ta biết, sau đợt phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) của Vietcombank tiến hành vào cuối năm 2007, Vietcombank đã tiến hành kỳ họp thứ I của Đại hội đồng cổ đông; rồi sau khi hoàn tất các thủ tục pháp lý cần thiết của một định chế công ty cổ phần đại chúng, kể từ ngày 02/6/2008, Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam đã chính thức hoạt động trên vị thế của NHTMCP. Đây là cuộc chuyển đổi mang dấu ấn lịch sử sau 45 năm tồn tại và phát triển của Vietcombank. Phải khẳng định rằng, việc chuyển đổi từ Vietcombank Nhà nước sang Vietcombank cổ phần đại chúng có trên 15.000 cổ đông lớn nhỏ khác nhau, đã diễn ra một cách suôn sẻ theo đúng lộ trình thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong lĩnh vực tiền tệ – ngân hàng ở nước ta. Ở đây, từng khâu của cuộc cổ phần hoá Vietcombank đều đã được xúc tiến kỹ càng theo sát sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, với sự lãnh đạo điều hành sâu sát của một Ban chỉ đạo Nhà nước cấp Bộ/Ngành do một Phó Thống đốc thường trực của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đứng đầu. Những gì phải có để đảm bảo vận hành hoạt động kinh doanh của Vietcombank theo định chế NHTMCP, về cơ bản đã hội đủ…

Continue reading

SUY NGẪM 21

imageEVN –  Nhân vật “điển hình” của các “ông lớn” độc quyền luôn tồn tại trong ngụy biện và  mâu thuẫn:

– Mùa khô, “ông lớn” cắt điện vì lý do, không đủ nước để chạy các nhà máy thủy điện;

– Mùa mưa, “ông lớn” cắt điện vì các nhà máy nhiệt điện đang ở giai đoạn trùng tu;

– Khi cả nhà máy thủy điện và nhiệt điện cùng chạy, “ông lớn” cắt điện vì lý do sự cố lưới điện;

– Để “góp phần” giảm thiểu sự thiếu hụt điện cho đất nước, “ông lớn”  từ chối 13 dự án điện, với tổng công suất lên tới 13.800 MW vì thiếu vốn.

“Ông lớn” luôn kêu “lỗ”  và giải pháp khắc phục là ông luôn yêu cầu tăng giá điện.

Với tất cả những “thành tích” trên, “ông lớn” tự cho mình xứng đáng được thưởng với đề xuất được trích khoảng 1.002 tỷ đồng lợi nhuận để làm quỹ khen thưởng.

Civillawinfor cho rằng, đã đến lúc chủ sở hữu của EVN phải thể hiện vai trò ông chủ, không nên để những người đại diện sở hữu của mình ở EVN luôn làm xấu mặt  mình đến thế.

Civillawinfor

TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA ĐẠI HỌC

istockphoto_5873323-happy-graduation GS. CAO HUY THUẦN –  Giáo sư emeritus Đại Học Picardie (Pháp)

Các anh chị thân mến, thế hệ chúng tôi đã học bài “tập đọc và học thuộc lòng” thế này trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư lớp ba:“Bác hỏi tôi đi học để làm gì, tôi xin nói bác nghe. Tôi đi học để biết đọc, biết viết, biết tính toán ...”  Đó là tóm tắt câu mở đầu. Và câu cuối là:“Nhưng tôi đi học cốt nhất là biết luân lý, để hiểu cách ăn ở thành người con hiếu thảo, người dân lương thiện”. Hiểu rộng ra là để làm người.

Đồng thời với chúng tôi hồi đó, tại mẫu quốc, các cậu bé của nước Đệ Tam Cộng Hòa Pháp được dạy để làm công dân dưới mái trường mà mỗi giáo viên tiểu học là một người lính tiền phong chống lại giáo dục của Nhà Thờ ngự trị qua bao thế kỷ.

Học để làm người, học để làm công dân, học để tự do, quan niệm giáo dục như một công ích đó ngày nay đã nhường bước cho môt khuynh hướng khác, xem tất cả đều là thị trường, nhà trường cũng chỉ là nơi mua bán, ít ra là ở cấp đại học. Tôi nhấn mạnh hai chữ “khuynh hướng”, bởi vì giáo dục chưa trở thành hoàn toàn thương mại ở bất cứ đâu, dù là Mỹ, và bởi vì, khắp nơi, khái niệm công ích vẫn còn được sử dụng, hoặc để chống trả, hoặc để che đậy một thực tế đã đổi khác. Nhưng dù che hay chắn, khuynh hướng thương mại đang ở trên đà thắng thế khắp nơi, và tình trạng che chắn ngày nay được xem như giai đoạn chuyển tiếp, giao thời, cái cũ đang bị cuốn đi dưới dòng lũ của toàn cầu hóa. Nêu viễn tượng đó lên trước hội thảo này, tôi không nghĩ là động đến vấn đề gì mới, mua bán trong nhà trường là chuyện bình thường ở ta. Nhưng nêu lên để suy nghĩ về chức năng của đại học trước thách thức của thời đại mới thì chắc không đến nỗi thừa.

Continue reading

Vài nét về xã hội dân sự trong lịch sử và KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NƯỚC TA

THS. VŨ VĂN NHIÊM – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Thuật ngữ “xã hội dân sự” đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và trở nên tương đối thịnh hành vào thời Khai sáng. Một thời gian dài sau đó, nó ít được nhắc đến, hoặc có chăng, chỉ được giới khoa học đề cập một cách tản mạn.

Có thể do vai trò của xã hội dân sự ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ chuyển đổi của những năm cuối thập niên 80, những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX và một vài lý do khác, nên ở nước ta, thuật ngữ xã hội dân sự ít được bàn luận vì nó thường được cho là mang hàm ý tiêu cực. Cho đến gần đây, cụm từ này đôi lúc vẫn còn được xem là nhạy cảm. Tuy nhiên, trong tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay và trong xu thế hội nhập, “ xã hội dân sự” là thuật ngữ thường được nhắc đến  và được bàn luận khá cởi mở.

Trên tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn trao đổi một số vấn đề về xã hội dân sự thông qua bài viết sau đây.

I. MỘT VÀI NÉT VỀ “XÃ HỘI DÂN SỰ” VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÓ QUA CÁC GIAI ĐOẠN

Xã hội dân sự là thuật ngữ được xem xét và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong lịch sử tư tưởng, chính trị, pháp lý thế giới, và hiện nay cũng vậy, nó được tiếp cận dưới những góc độ và bình diện khác rất khác nhau (kể cả trên thế giới và trong nước).[1] Chúng tôi cho rằng không cần thiết (và cũng không thể đặt ra mục đích phải có một khái niệm khuôn mẫu về xã hội dân sự). Tuy nhiên, trước khi bàn bạc, trao đổi về xã hội dân sự, nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta, thì việc tìm hiểu những nội hàm cơ bản cũng như sự hình thành, phát triển của thuật ngữ này là rất cần thiết.

Continue reading

VÀI NÉT VỀ XÃ HỘI DÂN SỰ TRONG LỊCH SỬ VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI NƯỚC TA

THS. VŨ VĂN NHIÊM – Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh

Thuật ngữ “xã hội dân sự” đã xuất hiện cách đây hàng ngàn năm và trở nên tương đối thịnh hành vào thời Khai sáng. Một thời gian dài sau đó, nó ít được nhắc đến, hoặc có chăng, chỉ được giới khoa học đề cập một cách tản mạn.

Có thể do vai trò của xã hội dân sự ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong thời kỳ chuyển đổi của những năm cuối thập niên 80, những năm đầu thập niên 90 thế kỷ XX và một vài lý do khác, nên ở nước ta, thuật ngữ xã hội dân sự ít được bàn luận vì nó thường được cho là mang hàm ý tiêu cực. Cho đến gần đây, cụm từ này đôi lúc vẫn còn được xem là nhạy cảm. Tuy nhiên, trong tiến trình dân chủ hóa ở nước ta hiện nay và trong xu thế hội nhập, “ xã hội dân sự” là thuật ngữ thường được nhắc đến  và được bàn luận khá cởi mở.

Trên tinh thần đó, chúng tôi mạnh dạn trao đổi một số vấn đề về xã hội dân sự thông qua bài viết sau đây.

I. MỘT VÀI NÉT VỀ “XÃ HỘI DÂN SỰ” VÀ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NÓ QUA CÁC GIAI ĐOẠN

Xã hội dân sự là thuật ngữ được xem xét và định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trong lịch sử tư tưởng, chính trị, pháp lý thế giới, và hiện nay cũng vậy, nó được tiếp cận dưới những góc độ và bình diện khác rất khác nhau (kể cả trên thế giới và trong nước).[1] Chúng tôi cho rằng không cần thiết (và cũng không thể đặt ra mục đích phải có một khái niệm khuôn mẫu về xã hội dân sự). Tuy nhiên, trước khi bàn bạc, trao đổi về xã hội dân sự, nhất là trong điều kiện hiện nay ở nước ta, thì việc tìm hiểu những nội hàm cơ bản cũng như sự hình thành, phát triển của thuật ngữ này là rất cần thiết.

Continue reading

TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG: TAI NẠN TRONG KHI SỬ DỤNG THANG MÁY CÓ ĐƯỢC BỒI THƯỜNG?

TRẦN NGỌC

Chiều 11-7, ông Bùi Viết Khảm, 63 tuổi (ngụ quận Tân Bình, TP.HCM), đến Viện Y dược học dân tộc TP.HCM để khám bệnh. Sau đó, từ lầu ba ông Khảm đi thang máy xuống lầu một của viện để nhận thuốc. Khi cửa thang máy ở lầu ba vừa mở, ông Khảm bước vào và… rơi thẳng xuống nóc ca-bin thang máy đang nằm ở tầng trệt! Lập tức, ông được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu trong tình trạng vỡ xương chậu, gãy hai ngón tay ở bàn tay phải… Kế tiếp, ông phải lần lượt điều trị bệnh ở hai bệnh viện Thống Nhất và Chấn thương chỉnh hình.

Theo ông Khảm, thang máy trên thuộc loại bán tự động, dễ gây tai nạn cho người sử dụng nhưng Viện Y dược học dân tộc đã không có sự cảnh báo cần thiết (như dán bảng nội quy ngay tại cửa thang máy…). Ngoài tầng trệt có người ngồi trực, các tầng còn lại trống trơn, ai muốn đi sao cũng được. Sau sự cố, viện này chỉ đến thăm ông một lần rồi thôi. Không thể chấp nhận sự thờ ơ trên, ông Khảm đã gửi đơn yêu cầu viện phải bồi thường các thiệt hại phát sinh.

Ngày 12-8, trong cuộc họp hòa giải tại Công an phường 10, quận Phú Nhuận, phía ông Khảm đòi viện bồi thường 70 triệu đồng. Thế nhưng phía viện chỉ đồng ý hỗ trợ và thanh toán cho ông Khảm những chi phí điều trị ngoài chế độ bảo hiểm y tế.

Continue reading

HỌC LUẬT: HỌC CẢM NHẬN CÔNG LÝ VÀ KIẾN TẠO CÔNG LÝ

LÊ NGỌC SƠN – CAO NHẬT

Có một thực tế là nhiều người trẻ, kể cả những người đang học luật theo kiểu thuộc đến từng điều, lại có sự hiểu biết cũng như hành xử theo luật rất non nớt. PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, Chủ nhiệm Bộ môn Luật Kinh doanh, Khoa luật, ĐHQG Hà Nội đã chia sẻ với Sinh viên Việt Nam một góc nhìn mới về vấn đề này.

Cảm nhận công lý

PGS nghĩ sao, khi số đông người ta nghĩ rằng: Học luật là chỉ cần học thuộc các văn bản và đưa ra áp dụng khi cần thiết?

Mỗi năm, Quốc hội thông qua trung bình 30 luật và sửa nhiều luật khác. Còn Chính phủ ban hành khoảng 200 Nghị định, các Bộ lại ban hành hàng nghìn Thông tư, và 64 tỉnh thành sẽ có nhiều quyết định… Vì vậy nếu học luật chỉ để thuộc luật thì có lẽ chỉ cần một cái máy ghi âm. Học luật vì vậy là học cảm nhận về công lý và kiến tạo công lý theo nghĩa học luật để bảo vệ các quyền, bảo vệ sự công bằng, bình đẳng. Giúp các bên xác định luật chơi và tương tác làm sao để đảm bảo xã hội tiến triển một cách hòa bình.

Nhiều người lo âu về việc dạy luật hiện nay. Là người dạy và nghiên cứu luật, PGS thấy thực trạng dạy luật ở Việt Nam hiện nay như thế nào?

Continue reading

CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG CẤP GIẤY PHÉP ĐĂNG KÝ KINH DOANH HIỆN NAY

NGUYỄN THỊ PHƯỢNG

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đóng góp một phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước. Trong những năm qua, khu vực doanh nghiệp đã có sự phát triển, mở rộng vượt bậc cả về quy mô, chất lượng và số lượng.

1. Thực trạng thủ tục cấp giấy phép đăng ký kinh doanh

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đóng góp một phần rất lớn vào sự phát triển của nền kinh tế, góp phần làm thay đổi bộ mặt kinh tế của đất nước. Trong những năm qua, khu vực doanh nghiệp đã có sự phát triển, mở rộng vượt bậc cả về quy mô, chất lượng và số lượng. Số lượng thành viên tham gia và các loại hình doanh nghiệp được bổ sung thêm hàng chục nghìn thành viên mới; xu hướng và chất lượng kinh doanh của các doanh nghiệp được cải thiện đáng kể.

Trong thời gian qua, công tác cải cách hành chính đã tập trung giải quyết được nhiều vấn đề, song để tạo điều kiện cho những cá nhân, tổ chức đăng ký kinh doanh góp phần mở rộng thêm số lượng doanh nghiệp thì vẫn còn nhiều hạn chế. Một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng này là do thủ tục cấp giấy phép kinh doanh còn phức tạp, rườm rà. Trong khi ở một số nước trên thế giới, để được cấp giấy phép kinh doanh, doanh nghiệp chỉ cần mất từ hai đến ba ngày, như tại Canada là ba ngày, ở Úc là hai ngày, nhưng ở Việt Nam thì phải mất một tháng rưỡi (lâu hơn 25 lần so với thế giới)[1]. Trong đó, các thủ tục mất thời gian nhất là làm Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế, khắc con dấu, mua hóa đơn.

Continue reading

NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI – NHÀ NHƯỢNG QUYỀN VIỆT NAM CẦN BIẾT

NGUYỄN HOÀNG ÂN

Nhượng quyền thương mại cùng với các hình thức kinh doanh khác đã tạo nên một bức tranh sống động của nền kinh tế thế giới. Hình thành từ thế kỷ thứ 19, hình thức này không ngừng được mở rộng, phát huy tính hiệu quả trong kinh doanh.

Hàng năm hệ thống này tạo ra hàng triệu công ăn việc làm, đạt doanh số trên 1000 tỷ USD và phát triển không ngừng trên thế giới. Theo báo cáo của Lãnh sự quán Hoa kỳ năm 2004, tại Mỹ có trên 90% doanh nghiệp kinh doanh theo hình thức này tồn tại sau 10 năm trong khi đó có trên 82% doanh nghiệp kinh doanh độc lập bị đóng cửa cũng trong thời gian như vậy.

Rõ ràng, hình thức này đã phát huy nhiều tính ưu việt so với các hình thức kinh doanh khác. Tại Việt Nam, hình thức nhượng quyền thương mại hình thành vào những năm 90 của thế kỷ 20 và mang tính tự phát rất cao. Trung Nguyên có thể coi là nhà tiên phong tại Việt Nam áp dụng hình thức kinh doanh này bằng cách phát triển hệ thống đại lý của mình theo hình thức nhượng quyền.

Cũng như các nước khác, hình thức này cũng đã phát huy tính hiệu quả của nó trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Đến nay theo Hiệp hội Nhượng quyền Quốc tế, Việt Nam có trên 70 hệ thống kinh doanh nhượng quyền và ngày càng phát triển.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TRAO ĐỔI TÀI SẢN: THỎA THUẬN MIỆNG ĐỔI ĐẤT, CÓ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ HAY KHÔNG?

MINH NGUYÊN

Sau ba năm xét xử với năm bản án khác nhau, các cấp tòa vẫn chưa thống nhất hợp đồng đổi đất giữa các đương sự có vô hiệu hay không. Nguyên đơn trong vụ án này là ông Tâm (ngụ tại huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương), bị đơn là bà T. (ngụ cùng địa phương).

Chưa rõ đất của ai

Theo ông Tâm thì vào năm 1977, cha ông đã đổi cho bà T. hơn 3.000 m2 đất tại huyện Tân Uyên để lấy gần 4.000 m2 đất nằm gần nhà. Việc đổi chác này chỉ thỏa thuận miệng. Đến năm 1993, cha ông Tâm mới biết số đất mà bà T. đổi cho mình thuộc quyền sử dụng của ông Đ. (là người thân của bà T.). Ngại rắc rối xảy ra, cha ông Tâm đã chủ động trả lại cho ông Đ. gần 4.000 m2 đất trên, đồng thời yêu cầu bà T. trả lại cho mình hơn 3.000 m2 đất.

Phía bà T. cũng xác nhận có việc đổi đất như ông Tâm trình bày. Thế nhưng bà T. lại không thừa nhận số đất đem đổi là của ông Đ. Mặt khác, cha ông Tâm tự ý trả lại đất cho ông Đ. mà chưa được sự đồng ý của bà thì coi như ông ấy tự ý từ bỏ quyền sử dụng đất. Với các lý do này, bà không đồng ý trả đất.

Continue reading

QUỐC HỘI VỚI VIỆC THỰC HIỆN CEDAW

logo_cedaw TS. BÙI NGỌC THANH

CEDAW là Công ước của Liên hợp quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, là văn bản pháp luật quốc tế quy định về các quyền của phụ nữ. Công ước gồm 6 phần với 30 điều, đó được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 18-12- 1979 và có hiệu lực từ ngày 5-9- 1981.

Đến nay đó có hơn 180 nước ký tham gia công ước. Ngoài phần V và phần VI gồm 14 điều là những vấn đề tổ chức bộ máy và thể thức hoạt đông của Ủy ban Xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ thì bốn phần đầu gồm 16 Điều là nội dung chính của Công ước. Các nội dung này có thể chia làm 2 nhóm vấn đề.

Nhóm thứ nhất là Pháp luật hóa nguyên tắc bình đẳng nam – nữ, bình đẳng giới. Trước hết, mỗi nước phải ghi vào Hiến pháp các điều khoản về quyền bình đẳng nam – nữ. Tiếp đó, các đạo luật phải thể hiện chi tiết, cụ thể các quyền này; đặc biệt là Luật hình sự phải thể hiện rõ việc xóa bỏ phân biệt đối xử với phụ nữ. Sau đó Nhà nước phải thể hiện bằng các chính sách có tính khả thi, có hiệu quả để bảo đảm cho việc đối xử bình đẳng.

Tất cả các đạo luật, các chính sách đều phải nhằm mục tiêu bảo đảm sự phát triển và sự tiến bộ đầy đủ, toàn diện của phụ nữ.

Nhóm thứ hai là những nội dung cơ bản của việc xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử. Ở nhóm này có thể đề cập tới 10 nội dung cơ bản:

Continue reading