SUY NGẪM 20

70105000-125893sm Trong phiên thảo luận của  Quốc hội ngày 22/10/2008 về Dự thảo Luật Qui hoạch đô thị, Phó BT thành ủy, Chủ tịch HĐND TPHCM cho rằng, làm quy hoạch thì không nên chỉ chú ý hạ tầng kỹ thuật mà bỏ quên hạ tầng xã hội. “TP.HCM có những khu chế xuất như Linh Trung có tới 150.000 dân mà không một cái chợ nào có trong quy hoạch. Vậy làm sao mà quản lý được đô thị?“.

Bà cũng đưa ra một ví dụ, có khu dân cư dành cho công nhân có hàng chục chợ tạm hình thành tự phát, giờ không quản lý được gây nhiều khó khăn cho công tác qui hoạch.

Civillawinfor không hiểu, phải chăng từ trước đến nay chúng ta xây dựng đô thị không có qui hoạch? Trách nhiệm qui hoạch và thẩm quyền phê duyệt qui hoạch thuộc về ai trên địa bàn TPHCM nói riêng và  ở các đô thị khác trên cả nước??? Continue reading

CẢI TỔ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

TS. NGUYỄN QUANG A

Quan niệm “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” của Đảng CSVN trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực. Từ chỗ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đồng nghĩa với khu vực các doanh nghiệp quốc doanh “chiếm tỉ trọng lớn cả trong sản xuất và lưu thông” (Đại hội VI của Đảng CSVN tháng 12.1986), đến tháng 3.1989 vẫn coi kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, song “không nhất thiết chiếm tỉ trọng lớn trong mọi ngành, nghề”.

Vào đầu các năm 1990, kinh tế quốc doanh nắm vai trò chi phối nền kinh tế với 12 nghìn xí nghiệp (toàn bộ vốn đều thuộc Nhà nước), chiếm tỉ trọng lớn và giữ những vị trí then chốt trong các ngành phi nông nghiệp. Cương lĩnh 1991 của Đảng CSVN nêu gọn “kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế”.
Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-xã hội 1991-2000, được thông qua tại Đại hội VII của Đảng CSVN năm 1991 nói rõ hơn : “Kinh tế quốc doanh được củng cố và phát triển trong những ngành và lĩnh vực then chốt, nắm những doanh nghiệp trọng yếu và đảm đương những hoạt động mà các thành phần khác không có điều kiện hoặc không muốn đầu tư kinh doanh…
Những cơ sở không cần giữ hình thức quốc doanh thì Nhà nước chuyển hình thức kinh doanh, hình thức sở hữu hoặc giải thể, đồng thời có chính sách giải quyết việc làm và đời sống cho người lao động”. Đại hội X của Đảng CSVN nêu quan điểm “phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”.

Continue reading

TƯ VẤN PHÁP LUẬT TRONG DOANH NGHIỆP

LỆ HẰNG – Bộ Tư pháp

Trong vài năm trở lại đây, khi nền kinh tế Việt Nam hội nhập với nền kinh tế thế giới và Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì doanh nghiệp Việt Nam đã dần nhận thấy vai trò của tư vấn pháp luật và việc các doanh nghiệp sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp luật trong nhiều trường hợp đã không còn mới mẻ và xa lạ, đặc biệt là khi có các sự cố xảy ra như bị truy cứu trách nhiệm vì vi phạm pháp luật, tranh chấp hợp đồng, đòi nợ…

1. Sự cần thiết của tư vấn pháp luật:

          Tư vấn pháp luật là hoạt động cung cấp thông tin pháp luật, giải thích pháp luật cho doanh nghiệp và định hướng hành vi của doanh nghiệp trong những điều kiện, hoàn cảnh pháp luật đã dự liệu trước. Tư vấn pháp luật sẽ đưa ra các giả thiết và những giải pháp tối ưu để doanh nghiệp lựa chọn khi có các vấn đề liên quan đến pháp luật. Điều này nhằm mục đích đưa hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vận hành trong hành lang pháp lý và nắm bắt tối đa cơ hội kinh doanh và phòng ngừa rủi ro trong hoạt động.

2. Doanh nghiệp có cần tư vấn pháp lý không?

          Câu hỏi này nếu đặt ra các chắc chắn sẽ được đa số lãnh đạo các doanh nghiệp trả lời là có. Tuy nhiên trên thực tế, trong quá trình thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp chưa coi trọng yếu tố pháp luật thậm chí còn lơ là, không quan tâm đến những thay đổi trong các chính sách pháp luật, điều này tập trung phần lớn trong bộ phận các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sẽ thật là sai lầm nếu doanh nghiệp tiếp tục hướng đi trên bởi khi nền kinh tế phát triển, pháp luật sẽ ngày một hoàn thiện hơn, điều chỉnh chặt chẽ hơn các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, trong bối cảnh hội nhập quốc tế đang ngày một sâu và rộng, các quốc gia thường xuyên ký kết các hiệp định thương mại song phương với nhau, tích cực tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế … thì những quy định pháp luật về kinh doanh là vô cùng phức tạp. Doanh nghiệp sẽ không khỏi lúng túng khi va chạm với hệ thống pháp luật. Để đảm bảo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đúng pháp luật, phòng tránh rủi ro pháp lý trong kinh doanh thì doanh nghiệp rất cần phải có tư vấn pháp luật.

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT: TÒA ÁN HAI CẤP XÉT XỬ THEO HƯỚNG “LỠ CHIẾM ĐẤT XỬ MUA LUÔN”

MINH NGUYÊN

Ông Nguyễn Văn Đức có 10 ngàn m2 đất ở xã Trí Bình (huyện Châu Thành, Tây Ninh) đã được cấp “giấy đỏ” vào năm 2003. Thế nhưng đất của ông đã bị người khác lấn chiếm trái phép và có nguy cơ ông phải “bán rẻ” cho người này.

Theo ông Đức, tháng 6-2006, ông Nguyễn Văn Triều đã xây nhà kiên cố trên phần đất của ông Đức. Ngày 8-6-2006, tổ kiểm tra gồm cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường, địa chính xã đến lập biên bản yêu cầu ông Triều đình chỉ xây dựng. Biên bản có ghi ông Triều cho rằng miếng đất này là đất của ông, không tranh chấp với ai, trước khi xây dựng ông có báo với UBND xã. Ngày hôm sau, tổ kiểm tra đến làm việc lại phát hiện ông Triều tiếp tục xây dựng. tổ tiếp tục lập biên bản buộc đình chỉ xây dựng nhà trái phép, nếu cố tình vi phạm sẽ bị xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên, khi tổ kiểm tra đi thì ông Triều vẫn tiếp tục cho xây nhà.

Thấy không ăn thua, ông Đức khởi kiện ông Triều tại TAND huyện Châu Thành. Tòa đã ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời buộc ông Triều đình lại mọi hành vi xây dựng trên diện tích đất đang tranh chấp để bảo đảm cho việc xét xử. Song ông Triều vẫn tiếp tục thi công cho đến khi hoàn thành căn nhà mà không bị cơ quan chức năng xử lý.

 

Continue reading

ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC BẢO HIỂM TIỀN GỬI VIỆT NAM

TS. ĐINH DŨNG SỸ – Vụ Pháp luật – VP Chính phủ

Trong một bài viết với nhan đề: “Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề cần quan tâm nghiên cứu khi xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi”  chúng tôi đã có một số trao đổi bước đầu về địa vị pháp lý của tổ chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (BHTG). Để nhận diện rõ hơn vị trí, vai trò của tổ chức này trong cơ cấu các định chế tài chính của nền kinh tế thị trường cũng như trong vai trò công cụ bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, chúng tôi xin được tiếp tục trao đổi một số khía cạnh về địa vị pháp lý của tổ chức này, nhằm góp phần vào việc nghiên cứu xây dựng Luật BHTG trong thời gian tới.

1. Về bản chất, tổ chức BHTG ở Việt Nam dù được tổ chức và hoạt động dưới bất kỳ hình thức nào, là tổ chức tài chính của Nhà nước, một định chế tài chính độc lập, hoạt động theo luật hay có tên gọi là một Tổng công ty thì nó vẫn mang bản chất của một tổ chức bảo hiểm. Và do vậy, họat động của BHTG vẫn cơ bản dựa theo nguyên lý của hoạt động bảo hiểm là bù đắp rủi ro theo cơ chế lấy số đông bù cho số ít.

2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của BHTG trong hệ thống các cơ quan và các định chế bảo đảm an toàn tài chính quốc gia. BHTG với tư cách là một tổ chức bảo hiểm, hoạt động theo những nguyên lý của bảo hiểm. Tuy nhiên, trong kinh tế hiện đại, BHTG không phải chỉ là một tổ chức bảo hiểm đơn thuần, làm nhiệm vụ thu phí của nhiều người tham gia bảo hiểm để bù đắp, để khắc phục hậu quả cho một số ít người bị rủi ro. BHTG có và phải thực hiện được vai trò nhất định trong việc tham gia quản lý rủi ro của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tham gia bảo hiểm khác, và hơn nữa là có vai trò trong giám sát và góp phần bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia.

Continue reading

CÂU HỎI ÔN THI VẤN ĐÁP LUẬT DÂN SỰ HỌC PHẦN I VÀ II – KHÓA 32 – ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI (THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ VÀ KHÔNG THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ) – Tài liệu chính thức

HỌC PHẦN 1: KHÁI NIỆM CHUNG VỀ LUẬT DÂN SỰ – QUAN HỆ PHÁP LUẬT DÂN SỰ – GIAO DỊCH DÂN SỰ – ĐẠI DIỆN – THỜI HẠN – THỜI HIỆU

1. Phân tích đối tượng và phạm vi điều chỉnh của Luật Dân sự?

2. Phân tích các đặc điểm của phương pháp điều chỉnh của Luật dân sự trong quan hệ sở hữu?

3. Nguồn của Luật dân sự? Phân tích các loại nguồn của Luật dân sự?

4. Mối liên hệ giữa Luật Dân sự với Luật hình sự, Luật hành chính, Luật thương mại?

5. Phân tích các đặc điểm của quan hệ tài sản do Luật Dân sự Việt Nam điều chỉnh?

6. Áp dụng tương tự Luật Dân sự ? (Nguyên nhân, điều kiện và hậu quả)

7. Khách thể của quan hệ pháp luật dân sự? Các loại khách thể của quan hệ pháp luật dân sự?

8. Phân tích các nguyên tắc của Luật Dân sự thể hiện bản chất của quan hệ dân sự?

9. Phân tích các đặc điểm của quan hệ nhân thân do Luật Dân sự Việt Nam điều chỉnh?

10. Phân tích các căn cứ làm phát sinh, chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự?

11. Quan hệ pháp luật dân sự và các đặc điểm của nó?

Continue reading

ÁP DỤNG THỜI HIỆU KHỞI KIỆN VỀ QUYỀN THỪA KẾ THEO QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ

TRẦN THỊ TÚY – Bộ Tư pháp

Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2005 (BLDS) quy định thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm mở thừa kế theo Điều 633 Bộ luật Dân sự là thời điểm người có tài sản chết). Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế quy định tại điều này được coi là khá rõ ràng và phù hợp hơn so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995.

            Tuy nhiên, trên thực tế khi áp dụng quy định này cho thấy trong một số trường hợp còn chưa thống nhất về cách hiểu. Sau đây là một ví dụ:

            Vợ chồng Ông Nguyễn Văn A và bà Nguyễn Thị B có hai người con trai là C và D nhưng đều đã chết khi còn bé, hai vợ chồng ông A bà B nhận bà K về làm con nuôi khi bà K mới 5 tuổi (con nuôi hợp pháp). Năm 1980 ông A chết không để lại di chúc, tài sản mà vợ chồng ông A bà B có được là 200m2 đất (đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu ruộng đất đứng tên bà B) và một ngôi nhà cấp 4. Bà K lấy chồng nhưng vẫn ở với bà B đến năm 1984 mới về quê chồng. Năm 1991 bà B chết không để lại di chúc. Sau khi bà B chết ông H (cháu gọi ông A bằng Bác) đến ở và quản lý toàn bộ tài sản của vợ chồng ông A bà B để lại. Năm 1993 bà K yêu cầu ông H trả lại toàn bộ tài sản do bố, mẹ bà để lại nhưng ông H không đồng ý, do ông H chưa có nhà nên bà K đã cho ông H ở nhờ thêm một thời gian. Tháng 12 năm 2005, do có nhu cầu sử dụng nhà đất nên bà K yêu cầu ông H trả lại nhà do bố, mẹ để lại.

Continue reading

HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI CỦA PHILIPIN

ĐINH THU HIỀN

Hệ thống An sinh xã hội của Philippin (SSS) là một cơ quan Chính phủ, có hệ thống tổ chức độc lập tự quản thực hiện chính sách theo quy định của pháp luật. Hội đồng quản lý là cơ quan hoạch định chính sách của hệ thống An sinh xã hội và có các quyền hạn và nghĩa vụ được quy định tại Luật An sinh xã hội.

SSS có nhiệm vụ đóng góp thực hiện công bằng xã hội và cung cấp một sự bảo trợ có ý nghĩa cho các thành viên và gia đình của họ nhằm chống lại rủi ro về tàn tật, ốm đau, thai sản, tuổi già, tử vong hoặc các phát sinh khác do hậu quả, do mất thu nhập hoặc các gánh nặng tài chính.
Mục tiêu của SSS là triển khai chương trình bảo trợ bền vững, toàn dân và công bằng thông qua một hệ thống dịch vụ đạt tiêu chuẩn quốc tế. “Bền vững” ở đây có nghĩa là bảo trợ xã hội được đảm bảo qua nhiều thế hệ. “Toàn dân” có nghĩa là bảo trợ xã hội sẽ được cung cấp cho mọi người dân định cư tại Philippin, kể cả là công dân và không phải là công dân Philippin không tính đến tín ngưỡng, giới tính, tuổi tác, địa vị và tình trạng kinh tế, đặc biệt là những người bị yếu thế. Như vậy không ai trở thành gánh nặng cho xã hội, vì được hệ thống SSS đảm bảo. “ Bình đẳng” là cả trong việc tham gia và bình đẳng về trợ cấp cho mọi người. Trợ cấp là một khoản có ý nghĩa và đủ đáp ứng được mức sống nhất định, về tiêu chuẩn dịch vụ quốc tế thì dịch vụ An sinh xã hội phải chính xác đầy đủ, đúng hạn và đảm bảo sự hài lòng của mọi thành viên.

Continue reading

ĐẶT TÊN CÔNG TY: DỄ NGHĨ NHƯNG KHÓ LÀM

register-domain-name TRẦN PHƯƠNG MINH

(Theo (Theo http://www.businesspowerlaw.com và một số tài liệu khác)

Thông thường, đứng trước mỗi một dự án kinh doanh mới, bạn thường phải lập một công ty để thực hiện. Những lúc như thế này, việc lựa chọn tên công ty sẽ rất quan trọng và luôn là một bước đi phức tạp trong tiến trình triển khai dự án kinh doanh. Trên cương vị là một nhà quản lý, bạn nên quan tâm đến các yếu tố có liên quan khi suy nghĩ về một cái tên mới được đưa ra.

Tên công ty được pháp luật bảo hộ là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh, đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây:

a) Là tập hợp các chữ cái, có thể kèm theo chữ số, phát âm được;

b) Có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với các chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực kinh doanh.

Tại bất cứ quốc gia nào, có một số loại tên công ty sẽ không được pháp luật bảo hộ cũng như bạn không được phép dùng nó đến đặt cho công ty mình:

Thứ nhất, tên gọi của các cơ quan hành chính, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoặc các chủ thể không liên quan tới hoạt động kinh doanh;

Thứ hai, tên gọi nhằm mục đích thực hiện chức năng của tên thương mại nhưng không có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh của các cơ sở kinh doanh trong cùng một lĩnh vực;

Continue reading

SỐ LIỆU VỀ CÁC VỤ KIỆN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ MÀ VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN TÍNH TỚI THÁNG 5/2008

SOURCE: CỤC QUẢN LÝ CẠNH TRANH – BỘ CÔNG THƯƠNG

123

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC: CHƯA ĐÁP ỨNG ĐƯỢC MONG ĐỢI CỦA NGƯỜI DÂN

XUÂN BÍNH

Những hành vi gây thiệt hại cho công dân trong hoạt động của công chức thuộc cơ quan hành chính đều phải bồi thường thiệt hại. Cần mở rộng phạm vi điều chỉnh của luật, xử sai án dân sự cũng phải bồi thường.

Án dân sự cũng có”oan sai”

Các quy định về bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra đã được ban hành từ khi Bộ luật Dân sự 1995 ra đời. Tuy nhiên, các quy định này gần như không thể thực hiện được do thiếu các quy định cụ thể về một cơ chế xác định trách nhiệm bồi thường, cũng như các thủ tục để người dân khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường. Việc bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra chỉ được hiện thực hóa một phần khi có Nghị quyết 388 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ban hành năm 2004. Tuy nhiên, Nghị quyết 388 chỉ giới hạn việc bồi thường trong lĩnh vực điều tra, truy tố, xét xử oan sai của các cơ quan tiến hành tố tụnh hình sự. Vì thế, đến nay vẫn chưa có một cơ chế để tất cả các công chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trước công dân đối với thiệt hại họ đã gây ra trong quá trình thực thi công vụ.

Theo Dự thảo Luật Bồi thường nhà nước đang được xây dựng thì tới đây, tất cả các hoạt động của công chức trong lĩnh vực quản lý hành chính và tư pháp mà gây ra thiệt hại cho công dân đều phải bồi thường. Trong quá trình thực thi công vụ, công chức có vi phạm pháp luât hoặc thực hiện không đúng bổn phận, chức trách được giao mà gây thiệt hại đến quyền và tài sản của công dân sẽ phải bồi thường.

Continue reading

TIỀN GỬI TẠI CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH – MỘT ĐỐI TƯỢNG BẢO HIỂM ĐẶC THÙ

TS. NGUYỄN NHƯ MINH – Phó Tổng Giám đốc Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Không phải chỉ có đến ngày nay mà vào những năm đầu thế kỷ 20 vấn đề bảo hiểm tiền gửi (BHTG) đã được đặt ra, ghi nhận bằng sự ra đời của tổ chức BHTG đầu tiên trên thế giới vào năm 1932, đó là Công ty BHTG Mỹ (FDIC). Ngày nay, những vấn đề nhức nhối và hậu quả nặng nề đối với nền kinh tế- xã hội vẫn tiếp tục xẩy ra khi người gửi tiền đổ xô đến rút tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi: trong thập kỷ trước chính phủ Achentina phải từ nhiệm vì người rút tiền; gần đây nhất, cuối năm 2007 đầu năm 2008 chính phủ Anh đã phải quốc hữu hóa Ngân hàng Northern Rock chịu thiệt hại hơn 50 tỷ Euro, chính phủ Mỹ cũng đã phải cho phá sản một trong những ngân hàng lớn của nước này là Bear Stearns. Vấn đề ngăn ngừa và xử lý rủi ro liên quan đến tiền gửi vẫn luôn luôn thời sự cho đến ngày nay.

        Bảo hiểm tiền gửi là một biện pháp phòng ngừa rủi ro được nhiều quốc gia thực hiện nhằm bảo vệ các khoản tiền gửi của khách hàng trong trường hợp ngân hàng không có khả năng chi trả cho khách hàng. Trên thế giới, hầu hết các hệ thống BHTG đều do chính phủ thành lập hoặc là một bộ phận của ngân hàng trung ương, do đó tổ chức BHTG là định chế an toàn, có thể tạo lập và duy trì được lòng tin của người gửi tiền ngay cả trong thời điểm khó khăn nhất. Có BHTG, nghĩa là chính phủ bảo đảm an toàn các khoản tiền gửi, nhờ vậy người gửi tiền hoàn toàn yên tâm khi gửi tiền vào các tổ chức nhận tiền gửi. Ngoài việc bảo vệ người gửi tiền, BHTG còn có mục đích là ngăn ngừa những vụ hoảng loạn của ngân hàng, đảm bảo an toàn, ổn định hoạt động hệ thống tài chính ngân hàng, góp phần ổn định nền kinh tế.

Continue reading

GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÁC CƠ QUAN PHÁP LUẬT CỦA CÁC NƯỚC THÀNH VIÊN THUỘC ASEAN

asean_map VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ, BỘ TƯ PHÁP – Tài liệu chuẩn bị cho ALAWMM 6

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations-ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 trên cơ sở Tuyên bố Băng-cốc, Thái Lan. Khi mới thành lập, ASEAN gồm 5 nước là In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin, Xin-ga-po và Thái Lan. Năm 1984, ASEAN kết nạp thêm Bru-nây Da-ru-xa-lam làm thành viên thứ 6. Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội. Ngày 23/7/1997, kết nạp Lào và Mi-an-ma. Ngày 30/4/1999, kết nạp Căm-pu-chia, hoàn thiện ASEAN-10.

Các nước ASEAN (trừ Thái Lan) đều trải qua giai đoạn lịch sử là thuộc địa của các nước phương Tây và giành được độc lập vào các thời điểm khác nhau sau chiến tranh thế giới thứ hai. Mặc dù ở trong cùng một khu vực địa lý, song các nước ASEAN rất khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo, văn hoá và chế độ chính trị có nước theo chế độ cộng hoà, có nước theo chế độ quân chủ lập hiến hay chuyên chế, có nước theo chủ nghĩa xã hội. Qua gần 40 năm hình thành và phát triển, cho đến nay các lĩnh vực hợp tác trong ASEAN ngày càng mở rộng và phát triển, từ hợp tác kinh tế, văn hoá, khoa học và công nghệ, phát triển xã hội, đến hợp tác về pháp luật nhằm xây dựng ASEAN thành một nhóm hài hoà các dân tộc Đông Nam á, hướng ngoại, sống trong hoà bình, ổn định và thịnh vượng, gắn bó nhau trong quan hệ đối tác trong phát triển năng động và trong một cộng đồng các xã hội chăm sóc lẫn nhau.

Trong lĩnh vực hợp tác về luật pháp, cho đến nay, đã có 5 Hội nghị cấp Bộ trưởng hoặc người đứng đầu của cơ quan pháp luật các nước ASEAN đã được tổ chức để điều hành các chương trình hợp tác trong các lĩnh vực này. Để góp phần cung cấp thêm thông tin cho bạn đọc, sau đây chúng tôi xin giới thiệu khát quát về các cơ quan pháp luật của các nước ASEAN.

Continue reading

DỰ THẢO LUẬT TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI: ÁP DỤNG CHO MỌI TRANH CHẤP

BÁ TÚ
Theo tổ chức Star – Vietnam, Dự thảo Luật Trọng tài thương mại của Việt Nam đang được soạn thảo có sự tiến bộ về nhiều mặt

Dự thảo đã thể hiện rất rõ nguyên tắc được quốc tế công nhận đó là những quy tắc áp dụng đối với quy trình tố tụng trọng tài sẽ do các bên thoả thuận. Dự thảo giúp cho pháp luật về trọng tài của Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, cụ thể là Luật Trọng tài mẫu quốc tế UNCITRAL. Thậm chí dự thảo có một điểm khác biệt quan trọng so với luật mẫu đó là mở rộng phạm vi áp dụng với mọi loại tranh chấp chứ không hạn chế ở các tranh chấp thương mại.

Mở rộng thẩm quyền trọng tài

Nhìn chung, các quốc gia trên thế giới đều quan niệm trọng tài là mô hình giải quyết tranh chấp quan trọng. Tổng thư ký Trọng tài quốc tế (ICC) Jactson Fry đã khẳng định, trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp lựa chọn có nhiều ưu thế, trong đó nổi bật là tính nhanh gọn, bí mật và phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm… Ông cũng nhấn mạnh, đây là con đường mà các DN nước ngoài tin tưởng và các DN Việt Nam cũng nên tin tưởng lựa chọn.

Continue reading

TRANH CHẤP BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ: BỊ LẤN ĐẤT CÒN BỊ KIỆN BỒI THƯỜNG?

THÁI HIẾU

UBND huyện cho một công ty thuê đất để xây dựng khu du lịch nhưng lại không xác định rõ vị trí thửa đất… dẫn đến tranh chấp với một hộ dân. Gia đình ông Nguyễn Văn Mẫu là chủ sử dụng hợp pháp gần 2.400 m2 đất tại khu vực tổ 24, ấp 5, xã Vĩnh Xương, huyện Tân Châu, tỉnh An Giang. Tháng 5-2006, Công ty cổ phần Thương mại-Du lịch Hàng Châu II có ký hợp đồng thuê của UBND huyện Tân Châu 560 m2 đất nằm kế bên miếng đất trên của ông Mẫu để xây dựng khu du lịch cửa khẩu Vĩnh Xương.

Bị chiếm đất khi vắng mặt?

Vì phải đi làm ăn xa nên gia đình ông Mẫu không có mặt trong buổi bàn giao mốc ranh đất (28-4-2006) giữa huyện và công ty. Căn cứ vào biên bản có chữ ký của cán bộ địa chính xã và những người không có liên quan tới khu đất, công ty đã dựa theo mốc ranh giao đất ghi trong biên bản để xây dựng.

Cuối tháng 8-2006, khi công trình được xây dựng xong thì cũng là lúc ông Mẫu trở về và phát hiện một phần đất của mình bị lấn chiếm. Nếu chiếu theo “giấy đỏ” được cấp thì diện tích đất thực tế của ông bị hụt hơn 290 m2 đất. Để đòi lại đất của gia đình, ông đã trồng trụ đá và kéo các nhánh cây chắn ngang một phần lối đi phụ bên hông khu du lịch nhằm làm mốc ranh.

Continue reading

CÒN NHIỀU ĐIỀU MÙ MỜ CHUNG QUANH QUY ĐỊNH VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT

LS. TRƯƠNG THANH ĐỨC – BaoViet Bank

Là đạo luật đã được ban hành và sửa đổi, bổ sung nhiều nhất trong hệ thống pháp luật của nước ta, nhưng Luật Đất đai vẫn luôn ở trong tình trạng phức tạp, rối ren và bất cập.

1. Cần loại bỏ khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất: 

Khái niệm bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất trong Luật Đất đai năm 2003 đã bị “vô hiệu hoá”. Vì theo Bộ luật Dân sự năm 2005, chỉ còn thế chấp, chứ không còn bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất. Dùng quyền sử dụng đất để bảo đảm nghĩa vụ dân sự cho mình hay cho người khác thì cũng đều được gọi chung là thế chấp. Vì vậy, đề nghị khai tử 44 chữ “bảo lãnh” trong Luật hiện hành.
Hai luật vênh nhau làm cho Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 về giao dịch bảo đảm phải quy định: Việc bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29-10-2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai được chuyển thành việc thế chấp quyền sử dụng đất.

2. Phải trả lại quyền chính đáng cho chủ đất:

Dự luật đã sửa đổi một quy định bất hợp lý tại khoản 7, Điều 113 của Luật hiện hành là: Hộ gia đình và cá nhân chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất “để vay vốn sản xuất, kinh doanh” (không được thế chấp để phục vụ nhu cầu đời sống, kể cả vay vốn để học tập hay trị bệnh cứu người) bằng việc được thế chấp “theo quy định của pháp luật về dân sự” (khoản 33, Điều 1 của Dự thảo). Tuy nhiên, Dự luật vẫn không sửa đổi quy định tại khoản 2, Điều 110 của Luật hiện hành là: Tổ chức kinh tế chỉ được thế chấp bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng “để vay vốn”. Vậy, tại sao lại không được thế chấp để được bảo lãnh, mở L/C, bao thanh toán hay rộng hơn nữa là để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ hợp đồng kinh doanh thương mại của tổ chức kinh tế?

Continue reading

DOANH NGHIỆP VIỆT NAM QUẢN TRỊ RỦI RO TÀI CHÍNH NHƯ THẾ NÀO?

PGS.TS. NGUYỄN THỊ NGỌC TRANG

Những biến động ngày càng phức tạp của giá cả nguyên liệu, lãi suất, tỷ giá, đã làm cho  rủi ro tài chính của các doanh nghiệp ngày càng trở nên khó lường. Tuy nhiên, liệu điều đó có dẫn đến việc các công cụ phái sinh dùng để phòng ngừa rủi ro tài chính đang được quan tâm nhiều hơn và sử dụng rộng rãi hơn chăng? Để làm sáng tỏ vấn đề này, một cuộc điều tra khảo sát về thực tiễn ứng dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính cho các doanh nghiệp VN đã được thực hiện.

1. Phương pháp nghiên cứu điều tra và xử lý số liệu

Mô phỏng theo phương pháp nghiên cứu của trường kinh doanh Wharton trong những năm 1995 và 1998 về việc sử dụng sản phẩm phái sinh trong phòng ngừa rủi ro tài chính ở Mỹ, chúng tôi đã thiết kế bảng câu hỏi điều tra về các vấn đề liên quan đến việc sử dụng và mối quan tâm đến sản phẩm phái sinh của các doanh nghiệp VN.

Điểm khác biệt so với hai bảng điều tra của Wharton là đưa vào mẫu nghiên cứu cả những doanh nghiệp tài chính, trong khi điều tra của Wharton là không đưa vào mẫu nghiên cứu các doanh nghiệp tài chính. Điều này xuất phát từ thực tiễn của VN trong thời gian qua là biến động lãi suất, tỷ giá đã tác động rất mạnh mẽ đến hệ thống ngân hàng và buộc hệ thống ngân hàng đứng trước những rủi ro tài chính rất lớn. Mặt khác, do đặc thù của VN khác với Mỹ: Trong khi các ngân hàng của Mỹ hầu hết đều sử dụng sản phẩm phái sinh vì đặc điểm kinh doanh của họ và độ chín muồi của thị trường Mỹ thì các ngân hàng VN có thể vẫn không quan tâm đến sản phẩm này mà vẫn chấp nhận rủi ro nhiều hơn với niềm tin rằng thiệt hại là không dễ xảy ra và có thể chấp nhận được.

Continue reading

LUẬT BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC SẼ KHÔNG LÀM CÔNG CHỨC "RUN TAY"

THỜI BÁO KINH TẾ – Dự kiến cuối năm 2009, Quốc hội sẽ thông qua Luật Bồi thường Nhà nước và Cục Bồi thường Nhà nước sẽ được thành lập. Xung quanh vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Dương Đăng Huệ, Vụ trưởng Vụ Pháp luật dân sự và kinh tế, Bộ Tư pháp.

Xin ông cho biết thực trạng của pháp luật về bồi thường Nhà nước hiện nay?

Những quy định về bồi thường Nhà nước của nước ta đã có từ lâu, tuy nhiên các quy định này lại nằm phân tán ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau, không có hệ thống và hiệu lực pháp lý của các văn bản điều chỉnh trực tiếp có giá trị thấp.

Bên cạnh đó, thủ tục giải quyết bồi thường chưa có quy định thống nhất và hạn chế quyền của bên bị thiệt hại. Đối với việc giải quyết bồi thường thiệt hại như Nghị định 47 quy định về việc xét giải quyết bồi thường thông qua một Hội đồng xét duyệt mà không quy định về thủ tục giải quyết tại tòa án.

Các loại thiệt hại được Nhà nước bồi thường được quy định còn chung chung, chưa cụ thể nên khó áp dụng. Các quy định trước đây chỉ quy định bồi thường thiệt hại về tinh thần, vật chất nhưng còn những thiệt hại khác như: phục hồi vị trí công tác, chế độ hưu trí đối với cá nhân thì chưa rõ.

Continue reading

LẠM BÀN VỀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG NGÂN HÀNG SAU CỔ PHẦN HÓA

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Việc Đảng và Nhà nước có chủ trương chuyển đổi doanh nghiệp 100% nhà nước thành công ty cổ phần (cổ phần hoá) không chỉ nhằm đa dạng hoá sở hữu, nâng cao năng lực tài chính của doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện cho người lao động làm chủ, gắn bó lâu dài với doanh nghiệp, nâng cao thu nhập và cải thiện cuộc sống của họ.

Trong lĩnh vực ngân hàng, Đảng và Nhà nước đã quyết định cổ phần hoá tất cả các ngân hàng thương mại nhà nước (một loại hình doanh nghiệp nhà nước). Trước đây, toàn hệ thống ngân hàng có 5 ngân hàng thương mại nhà nước, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng Phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long (MHB) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank). Theo lộ trình cổ phần hoá được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Vietcombank đã chính thức chuyển đổi thành Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam từ ngày 02/6/2008. Dự kiến, Nhà nước tiếp tục cổ phần hoá MHB trong năm 2008 và Vietinbank, BIDV trong năm 2009(1).

Continue reading