TRÍ THỨC CÓ VỊ TRÍ KHÔNG THỂ THAY THẾ TRONG SỰ NGHIỆP CÔNG NGHIỆP HÓA VÀ HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

educ-symbol  GS. TƯƠNG LAI

Trí thức luôn là câu chuyện thời sự, chẳng phải bây giờ người ta mới sôi nổi luận bàn mà đây là chủ đề xuyên thời gian. Thì các cụ ta xưa chẳng luôn bận tâm răn dạy con cháu “nhân bất học bất tri lý”đó sao. Có phải vì thế mà trong thang bậc giá trị xã hội, các cụ để kẻ sĩ đứng đầu. Nguyễn Công Trứ thì còn hào hùng hơn, trong “Luận kẻ sĩ”, ông khẳng định “Có giang san thời sĩ đã có tên”.

      Tác giả của “Luận kẻ sĩ” ấy từng là bậc kinh bang tế thế, một danh tướng cầm quân dẹp cường khấu ở Lạng Sơn, bắt Phiên tặc ở thành Trấn Tây, trừ Hải tặc ở ngoài Đông Hải … đồng thời cũng là người chỉ huy công cuộc lấn biển mở đất ở Kim Sơn, Tiền Hải, đắp đê ngăn mặn ở Hải Dương vùng châu thổ sông Hồng, rồi khơi dòng Mê kông ở Long Xuyên vùng đồng bằng sông Cửu Long…Cũng là một người “lấy chính đạo” để chống tham nhũng ngay giữa triều đình. Quả thật đúng như ông tâm nguyện “Trong lăng miếu ra tài lương đống, Ngoài biên thùy rạch mũi can tương”. Về thơ văn, con người ấy cũng chiếm riêng một góc độc đáo trong lịch sử văn hóa nước nhà.
      Với tám mươi tuổi đời, tuyên ngôn của ông “Trong vũ trụ đã đành phận sự, Phải có danh mà đối với núi sông” đã được sự nghiệp của ông chứng minh. Đương nhiên phải hiêèu chữ “danh” ông nói đây theo nghĩa rộng, vượt khỏi “vòng danh lợi” hạn hẹp và có khi thấp kém, mà “danh” là sự nghiệp làm nên sử sách, là sự cống hiến cho giang sơn tổ quốc. Cái “danh” ấy được khởi nguồn từ một ý tưởng cao cả: “Vũ trụ chi gian giai phận sự”, xem việc trong trời đất là phận sự của mình.

Continue reading

THANH TRA 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2008: PHÁT HIỆN 966,57 TỶ ĐỒNG VÀ 45,6 NGHÌN ĐÔ LA

CPV – “6 tháng đầu năm 2008, Thanh tra Chính phủ đã kết luận 8 cuộc thanh tra, phát hiện sai phạm 966,57 tỷ đồng và 45,6 nghìn USD. Đã kiến nghị thu gồi 668,6 tỷ đồng và 45,6 nghìn USD; kiến nghị xử lý hành chính 9 tập thể, 29 cá nhân; chuyển 2 vụ việc sang cơ quan điều tra để xem xét trách nhiệm hình sự”.

Đó là kết quả mà Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng cho biết tại Hội nghị phối hợp về công tác phòng, chống tham nhũng trong 6 tháng đầu năm 2008 giữa Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam được diễn ra vào sáng nay (5/7) tại Hà Nội.

Ông Trương Vĩnh Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư TW Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng; ông Huỳnh Đảm, UVTW Đảng, Chủ tịch Ủy ban TW MTTQ Việt Nam chủ trì Hội nghị. Tham gia Hội nghị còn có ông Vũ Trọng Kim, UVTW Đảng, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban TW MTTQ Việt Nam; bà Nguyễn Thị Thanh Hòa, UVTW Đảng, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam cùng đại diện các Bộ, Ban, Ngành của Trung ương.

Continue reading

CÂU HỎI THẢO LUẬN VẤN ĐỀ 4 MODUL 1 – LUẬT DÂN SỰ: GIAO DỊCH DÂN SỰ – ĐẠI DIỆN – THỜI HẠN, THỜI HIỆU

1. CÂU HỎI TỔNG HỢP:

  1. Xác định điều kiện có hiệu lực đối với giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương;
  2. Xác định các trường hợp giao dịch vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch nhưng giao dịch vẫn có hiệu lực;
  3. Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu tuyệt đối và giao dịch dân sự vô hiệu tương đối;
  4. Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu toàn bộ và giao dịch dân sự vô hiệu một phần;
  5. Phân biệt giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện với giao dịch dân sự vô hiệu do đối tượng bị cấm tham gia giao dịch;
  6. Phân biệt giao dịch dân sự xác lập do do bị lừa dối và giao dịch dân sự giả tạo;
  7. Cho 5 ví dụ êề giao dịch dân sự phải tuân thủ hình thức bắt buộc theo luật định. Ý nghĩa của việc qui định hình thức giao dịch bắt buộc;
  8. Cho năm ví dụ về đối tượng của giao dịch là công việc;
  9. Phân biệt giữa giao dịch dân sự vô hiệu do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình với giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện;

Continue reading

CƠ CHẾ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG WTO

WTO TS. NGUYỄN THỊ THU TRANG – Ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

Lời nói đầu

Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) chính thức ra đời kể từ ngày 1/1/1995 là kết quả của Vòng đàm phán Urugoay (1986-1995) với tiền thân là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947). WTO được coi như một thành công đặc biệt trong sự phát triển thương mại và pháp lý cuỗi thế kỷ XX với một hệ thống đồ sộ các hiệp định, thoả thuận, danh mục nhượng bộ thuế quan điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ thương mại của các quốc gia thành viên.

Với các mục tiêu đầy tham vọng là thúc đẩy tiến trình tự do hoá thương mại trên toàn cầu, nâng cao mức sống của người dân các nước thành viên và giải quyết các bất đồng về lợi ích giữa các quốc gia trong khuôn khổ hệ thống thương mại đa biên, sự vận hành của WTO đã và sẽ có tác động to lớn đối với tương lai lâu dài của kinh tế thế giới cũng như kinh tế của từng quốc gia. Theo tính toán, có tới trên 95% hoạt động thương mại trên thế giới hiện nay được điều chỉnh bởi các Hiệp định của Tổ chức này.

Để đảm bảo việc thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các qui định trong Hiệp định, ngăn chặn các biện pháp thương mại vi phạm các Hiệp định, góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu to lớn của WTO, một cơ chế giải quyết các tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức này đã được thiết lập. Cơ chế này là sự hiện thực hoá xu thế pháp lý hoá quá trình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế ngày nay, dần dần thay thế các phương thức giải quyết tranh chấp mang tính chính trị, ngoại giao trong lĩnh vực này.

Continue reading

CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUÓC TẾ

THS. NGUYỄN TIẾN VINH – Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội

I. Luật lệ của WTO về bán phá giá và biện pháp chống phá giá

Hiện tượng bán phá giá có nguồn gốc khá sớm trong thực tiễn thương mại quốc tế. Mặc dù còn có những quan điểm khác nhau, song pháp luật các nước đều coi đây là một trong những hành vi thương mại không lành mạnh. Một số nước đã có những đạo luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế từ rất sớm [1]. Trên bình diện quan hệ thương mại đa biên, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 là văn kiện pháp lý đầu tiên quy định về vấn đề này (Điều VI). Năm 1967, các Bên ký kết của GATT đã thỏa thuận “Hiệp định về thực hiện điều VI của GATT”, thường được gọi là Bộ luật chống bán phá giá. Trong vòng đàm phán Tokyo, Hiệp định này được sửa đổi, bổ sung vào năm 1979.

Cuối cùng, với kết quả của Vòng đàm phán Uruguay, vấn đề bán phá giá và biện pháp chống bán phá giá được điều chỉnh bởi “Hiệp định về thực hiện điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại năm 1994” (sau đây gọi tắt là Hiệp định ADP). Là một trong những hiệp định thương mại đa biên của WTO, Hiệp định này được xếp trong Phụ lục I A của Hiệp định Marrakech thành lập Tổ chức Thương mại thế giới, có hiệu lực bắt buộc đối với tất cả các nước thành viên của WTO.

Continue reading

BẢO VỆ THƯƠNG HIỆU VÀ NHÃN HIỆU ĐỂ CẠNH TRANH VÀ HỘI NHẬP

VCCI.COM.VN – Gần đây, báo chí thường xuyên đề cập đến vấn đề vi phạm quyền sở hữu thương hiệu (1), làm nhái nhãn hiệu hàng hoá. Trường hợp của Cà phê Trung Nguyên và Dầu khí Việt Nam (PetroVietnam) là những ví dụ sinh động về các vấn đề mà các doanh nghiệp đang gặp phải khi bảo vệ thương hiệu của mình ở nước ngoài. Các doanh nghiệp này đã phát hiện ra thương hiệu của mình bị đánh cắp trước khi doanh nghiệp triển khai đăng ký bảo hộ thương hiệu tại thị trường Mỹ và hiện đang gặp nhiều khó khăn trong việc đàm phán giành lại thương hiệu của mình.

Tại thị trường nội địa, những nhãn hiệu nước khoáng như “La Vie” của Công ty Liên doanh La Vie hay thức ăn gia súc như “Con Heo Vàng” của Công ty TNHH thương mại VIC… cũng liên tục bị làm nhái. Bảo vệ tốt quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) nói chung, thương hiệu nói riêng là vô cùng quan trọng nếu Việt Nam muốn cạnh tranh trên thị trường thế giới. Nếu bảo hộ thương hiệu kém thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp Việt Nam ở cả thị trường trong nước và nước ngoài, và hạn chế tính hấp dẫn của Việt Nam đối với đầu tư nước ngoài.

Continue reading

MỘT SỐ MẢNG CHƯA SÁNG TRONG NỀN KINH TẾ

GS.TSKH. NGUYỄN NGỌC TRÂN – Phó chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội khóa X, XI

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa lên mạng cuối tháng 2/2008 kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2007. Có một số mảng chưa sáng cần được phân tích kỹ, ngoài tỷ lệ lạm phát đã được đề cập nhiều.

1. Liên tục 10 năm qua, chỉ tiêu bội chi ngân sách hàng năm được Quốc hội ấn định là không vượt 5% GDP. Chỉ tiêu này luôn luôn đạt 4,94, 4,95, 5%! Tuy nhiên việc đạt chỉ tiêu này liên tục nhiều năm cũng đồng nghĩa với tích lũy một độ nguy hại nhất định bởi lẽ bội chi ngân sách tự nó không phải là một ưu điểm.

Cảnh báo điều này, tôi và nhiều đại biểu Quốc hội khóa XI đã kiến nghị nên kéo chỉ tiêu xuống 3 – 3,5% GDP, đồng thời tăng cường giám sát để chi ngân sách tiết kiệm hơn, đầu tư công có hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng của phát triển.

Phải chăng tác hại của bội chi ngân sách cao, triền miên và kém hiệu quả đã bắt đầu bộc lộ? Theo Thời báo Kinh tế Sàigòn số 10/2008, đầu năm nay Bộ Tài chính đề nghị Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đổi một số lượng lớn ngoại tệ ra tiền đồng để bổ sung chi ngân sách.

NHNN chỉ đáp ứng được một phần số ngoại tệ đưa ra vì cơ quan này còn có nhiệm vụ kiềm chế lạm phát. Bộ Tài chính buộc phải rút một số khá lớn tiền đồng gửi ở một số ngân hàng thương mại quốc doanh trong một khoảng thời gian ngắn, ảnh hưởng đến các khoản tài trợ liên ngân hàng dành cho các ngân hàng thương mại cổ phần, dẫn đến các ngân hàng vay mượn lẫn nhau, đua nhau đẩy lãi suất lên, tác động xấu đến lạm phát. Để phát triển bền vững, ngân sách nhà nước phải lành mạnh, cơn lốc bội chi ngân sách kéo dài cần phải được ngăn chặn.

2. Nghèo phải bội chi để phát triển là cần thiết, được con cháu đồng tình và vui lòng trả nợ. Nhưng nhất thiết không thể chấp nhận bội chi ngân sách là hậu quả của “dây chuyền hủy hoại”: tiêu xài lãng phí, đầu tư từ công quỹ kém hiệu quả và tham nhũng.

Báo cáo cũng cho thấy, đà phát triển của các năm trước được tiếp tục. Nhiều chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm 2006-2010 có khả năng sẽ đạt trước thời hạn.

Những kết quả này rất đáng trân trọng trong bối cảnh nền kinh tế thế giới nhiều bất ổn và thiên tai, dịch bệnh dồn dập trong năm qua.

Đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước đã tăng nhanh và liên tục suốt mấy năm qua. Hơn 21,2% GDP năm 2007. Nếu đầu tư có hiệu quả, ngân sách sẽ nhận được nguồn thu trở lại. Rất tiếc cho tới nay hiệu quả chưa cao, thể hiện qua chỉ số ICOR cao. Để tuân thủ mức bội chi dưới 5% GDP, Chính phủ phải vay trong nước và vay nước ngoài.

Theo báo cáo của Chính phủ, tổng dư nợ trong và ngoài nước vẫn còn trong vùng an toàn, trong khi đó, theo IMF, tổng dư nợ đã lên đến 44% GDP tính đến năm 2005, trong đó nợ nước ngoài chiếm 26,6% GDP. Theo chúng tôi, không chỉ có tổng dư nợ mà động thái của nó, tốc độ tăng tổng dư nợ, cũng rất quan trọng. Quốc hội cần biết rõ, được giải trình, và báo cáo với cử tri vấn đề này.

3. Không thể không nói đến chi tiêu và đầu tư của các “tập đoàn kinh tế nhà nước”. Hiệu quả hoạt động của các tập đoàn trên nhiều mặt (doanh thu/vốn, sử dụng lao động, …) thấp hơn các doanh nghiệp ngoài nhà nước và nước ngoài, mặc dù được hưởng nhiều ưu đãi từ các ngân hàng thương mại quốc doanh.

Lãng phí, thất thoát và tiêu cực ở những nơi đã được thanh tra và kiểm toán hai năm vừa qua là không nhỏ. Trong khi chưa làm rõ lĩnh vực chính, chức năng nhiệm vụ được giao khi thành lập được chuyên tâm thực hiện ra sao, thì nhiều “tập đoàn” lại mở ra rất nhiều loại hình hoạt động, kể cả hoạt động ngân hàng, tín dụng và kinh doanh bất động sản một cách ồ ạt.

Làm kinh tế của “tập đoàn” thời hội nhập phải là như vậy hay sao? Bong bóng vỡ thì ai gánh chịu hậu quả? Không ít “tập đoàn” chuẩn bị việc cổ phần hóa, không phải theo hướng tích cực, mà nhằm sớm hợp thức việc tư nhân hóa tài sản công!

Mảng “tập đoàn kinh tế” cần sớm được chấn chỉnh, tháo gỡ những cơ chế ràng buộc đã lỗi thời, lựa chọn bộ máy điều hành trong sạch và có năng lực, để các tập đoàn thực sự là điểm tựa của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

4. Tốc độ phát triển của tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là điều mơ ước của nhiều nước. Rất tiếc là nhập siêu ngày càng tăng, năm 2007 là 14,12 tỷ USD, cao nhất cho tới nay.

Có thể vì 2007 là năm đầu tiên Việt Nam là thành viên của WTO, chưa nắm sát tình hình nên sai số trong ước tính của các bộ ngành chức năng khá cao. Tháng 11/2007, Chính phủ báo cáo trước Quốc hội kim ngạch nhập khẩu 2007 ước tính57 tỷ USD, tăng 27% so với 2006. Ba tháng sau, Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố các con số thực hiện tương ứng là 62,68 tỷ USD và 39,6%.

Kim ngạch nhập nguyên vật liệu vẫn chiếm tỷ trọng cao, tỷ lệ thuận với kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng gia công. Đã nhập khẩu trên 19.000 ô-tô nguyên chiếc và sẽ còn tăng vì nhiều doanh nghiệp FDI chuyển sang nhập nguyên chiếc thay vì lắp ráp (có nghĩa là ngành công nghiệp ô-tô Việt Nam có nguy cơ sẽ cáo chung).

Nhiều mặt hàng tiêu dùng, kể cả nông sản, cũng có mặt ở Việt Nam nhiều hơn và đa dạng hơn. Nếu tình trạng này kéo dài và với tỷ giá giữa đồng Việt Nam và USD như hiện nay, lộ trình để giảm nhập siêu, tăng GDP, chưa phải là trong vài năm tới! Xuất nhập khẩu một năm sau khi gia nhập WTO rất cần được đánh giá khách quan và sâu sắc.

5. Rất ít quốc gia sử dụng ngoại tệ tự do, thoải mái như ở Việt Nam. Ngay cả ở những nước có đồng tiền chuyển đổi được, sự quản lý nhà nước và kỷ luật trong sử dụng ngoại tệ cũng rất nghiêm, khác hẳn với ở ta lỏng lẻo, gần như buông thả mặc dù đã có Pháp lệnh về ngoại hối.

Hiện nay mức độ “đô-la hóa” nền kinh tế Việt Nam đáng báo động. Tình trạng nắm giữ, tích trữ ngoại tệ, thanh toán bằng ngoại tệ trong dân, trong các doanh nghiệp, … gần như để thả nổi.

Rồi đây nếu cho phép bán cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài bằng ngoại tệ (mà ý định cho phép hạn chế sẽ bị hai quy tắc NT và MFN của WTO vô hiệu hóa) thì việc quản lý ngoại tệ, chính sách tiền tệ quốc gia sẽ ra sao? Làm thế nào làm chủ được nền tài chính tiền tệ quốc gia trong điều kiện đó?

Năm mảng yếu kém nêu trên đây chưa phải là tất cả nhưng cấp báchcó quan hệ mắt xích với nhau. Mong rằng nguyên nhân của những yếu kém này sẽ được phân tích thấu đáo, và cùng với những bài học kịp thời rút ra từ cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1997 và cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Ac-hen-ti-na năm 2001, sẽ giúp nền kinh tế Việt Nam không trượt ngã và vững vàng phát triển.

SOURCE: BÁO TIỀN PHONG

Trích dẫn từ: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=115249&ChannelID=3

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN TÀI SẢN: VỤ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN 1500 TẤN RỈ MẬT ĐƯỜNG GIỮA HAI CÔNG TY

HUY TRỤ

Vụ tranh chấp hợp đồng mua, bán 1500 tấn mật rỉ đường giữa công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) và công ty TNHHXNK Châu Tuấn (Hà Tĩnh) đã được thẩm vấn – Tòaán nhân dân tối cao quyết định bản án giám đốc thẩm số 04/KDTM – GĐT ngày 5-4-2006, buộc công ty Châu Tuấn (Hà Tĩnh) phải bồi thường cho công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) số tiền 929.693.000đồng.

Sau khi bản án giám đốc thẩm có hiệu lực thi hành, công ty Tiên Sơn đã nhiều lần gửi văn bản (kể cả đi hơn 200 cây số, vào gặp trực tiếp cơ quan chỉ đạo thi hành án của tỉnh Hà Tĩnh) đề nghị được thi hành bản án.

Điều đáng nói là công ty Châu Tuấn (Hà Tĩnh) có đủ khả năng để thi hành bản án, nhưng chây ì, coi thường kỷ cương phép nước.

Trước tình hình trên, Công ty Tiên Sơn (Thanh Hóa) tiếp tục gửi đơn thư kiến nghị đến các cơ quan chức năng, đến lãnh đạo cao nhất của Đảng – Nhà nước và các cơ quan công luận của Trung ương và địa phương.

Continue reading

TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN: "OAN ÁN" 500 GIẠ LÚA NÀNG THƠM?

HOÀNG HÙNG

Từ tháng 7-2006 đến nay, bà Phạm Thị Kim Phượng (SN 1956, ngụ ấp 4, xã Thanh Phú, huyện Bến Lức, tỉnh Long An) – sống bằng nghề buôn bán hàng rong- bỗng gánh món nợ khổng lồ trên trời rơi xuống. Mặc dù rất thông cảm cho hoàn cảnh của bà, nhưng các cơ quan pháp luật ở Long An đành bó tay, vì án đã có hiệu lực thi hành.

Nhắm mắt ký, ai ngờ mang họa

Cách đây hơn 20 năm, sau khi sinh đứa con trai mắc phải căn bệnh hiểm nghèo, người chồng bỏ đi lấy vợ khác, bà Phượng phải bế con về nhà cha mẹ ruột sống bằng nghề bán hàng rong. Đứa con trai Nguyễn Văn Xuân cứ vài tháng là trở bệnh một lần, phải nhập viện khẩn cấp, mỗi lần kéo dài ít nhất một tháng. Năm 1995, bà Phượng có mượn của bà Lê Thị Một, người cùng địa phương 10 triệu đồng để làm vốn mua bán và chữa bệnh cho con. Lãi suất mà chị phải trả cho bà Một là 5%/tháng. Trả lãi được vài tháng thì bà Phượng không còn khả năng chi trả. Đến ngày 24 – 5-2005, bà Một đến bảo mắc nợ nhiều người, bị chồng la rầy và nhờ bà giúp bằng cách ký tên có mượn một số nợ để bà đối phó với ông chồng khó tính. Đổi lại, bà Một không truy cứu số nợ 10 triệu đồng mà bà Phượng đã mượn.

Continue reading

NÂNG TẦM DOANH NHÂN – TRÍ THỨC TRONG XÂY DỰNG VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

PGS.TS. LÊ THANH BÌNH – Học viện Ngoại giao

1. Những khái niệm liên quan từ góc nhìn văn hóa – truyền thông

Văn hóa doanh nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất, là tổng thể các hoạt động, các biểu hiện dưới dạng sáng tạo vật chất, tinh thần; còn hiểu theo nghĩa tương đối cụ thể là những truyền thống trong các cấu trúc, bí quyết kinh doanh, triết lý – đạo đức kinh doanh, tầm trí thức nhân văn, nhân cách doanh nhân – trí thức chân chính… tạo lập nên một thương hiệu với những quy tắc ứng xử riêng đối với nội bộ và môi trường bên ngoài, gắn kết được các thành viên trong tổ chức doanh nghiệp nhằm kinh doanh hiệu quả, phát triển chính các doanh nghiệp đó, góp phần làm cho cộng đồng và xã hội trở nên văn minh, phát triển bền vững.

Học giả Lê Quý Đôn đã tổng kết: “Phi trí bất hưng, phi thương bất hoạt”. Đại thể điều đó có nghĩa là không có trí thức, đất nước không hưng thịnh được; không có kinh doanh – hoạt động thương mại, xã hội ngưng trệ không hoạt động được. Doanh nhân là người làm doanh nghiệp, coi kinh doanh (sản xuất và các dịch vụ thương mại) là nghiệp của mình. Doanh nhân khác với nhà buôn, “con buôn” bởi hoạt động của họ chỉ thuần túy vì lợi nhuận, nhiều khi là sự buôn bán “chụp giật”, vì lợi ích bản thân là chính. Còn doanh nhân là phải làm sao xây dựng, duy trì, phát triển thương hiệu của mình, có tên tuổi, phấn đấu có chỗ đứng lâu dài trong quốc gia và quốc tế; làm giàu chân chính; kết hợp hài hòa các mục đích kinh tế, xã hội, nhân văn. Muốn thế, doanh nhân lớn phải có chiều kích của trí thức lớn mới có thể kinh doanh bài bản, có tầm, đủ sức cạnh tranh lành mạnh với doanh nghiệp trên thương trường quốc gia và quốc tế trong giai đoạn hiện nay và sắp tới.

Continue reading

SUY NGẪM 19

our_people Theo Bộ trưởng Tư pháp Hà Hùng Cường, trong một phiên họp liên quan đến cải cách tư pháp: Hiện cả nước chỉ có khoảng 4.000 luật sư và gần 1.000 người tập sự. 80% vụ án chưa có luật sư tham gia tố tụng. Số lượng luật sư ở Việt Nam còn rất thấp so với nhu cầu dịch vụ pháp lý ngày càng tăng, trung bình 20.000 dân mới có 1 luật sư, trong khi ở Singapore, tỷ lệ này là 1.000 dân, Thái Lan: 1.700 dân, Nhật Bản: 5.500 dân. Ở các nước phát triển thì Mỹ có 1 luật sư/ 270 dân, Pháp: 500 dân. So với chỉ tiêu của Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp đề ra, năm 2010 có 18.000 luật sư, thì con số 4.000 luật sư thực thụ hiện nay còn rất khiêm tốn.

Cũng theo Bộ trưởng nếu tính hoạt động của luật sư tham gia bào chữa các phiên tòa, chúng ta mới có 20% vụ án có luật sư. Ngoài số lượng ít, một bất cập nữa là các luật sư tập trung chủ yếu ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Hai thành phố này có trên 2.000 luật sư đang hành nghề.

Vấn đề đặt ra là, trong số 20% vụ án có luật sư ở Việt Nam, tỷ lệ bao nhiêu án ý kiến của luật sư được coi làcó trọng lượng trong nội dung các bản án, quyết định của Tòa án và các cơ quan tố tụng khác???

Civillawinfor

KẾT QUẢ KHẢO SÁT KINH NGHIỆM CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TẠI VƯƠNG QUỐC ANH VÀ AI – LEN

Báo cáo của đoàn công tác Bộ nội vụ khảo sát, nghiên cứu hành chính công, dịch vụ công ở Anh thời gian từ 27/1/2004 đến 11/2/2004

1. Cải cách hành chính và Chương trình hiện đại hoá Chính phủ của Vương quốc Anh

Từ năm 1998 Chính phủ Công Đảng của Thủ tướng Tony Blair vẫn tiếp tục thực hiện một loạt cải cách theo hướng thu hẹp chức năng của Nhà nước, giảm chi tiêu công, sử dụng hiệu quả hơn tiền đóng thuế của người dân, sử dụng những kinh nghiệm quản lí của khu vực tư vào khu vực công và đẩy mạnh chính sách tư nhân hoá trong một số lĩnh vực cung cấp công cộng. Chương trình hiện đại hoá Chính phủ là một chiến lược cải cách và đổi mới quan trọng của Chính phủ nhằm các mục tiêu sau:

– Đảm bảo việc hoạch định chính sách mang tính chiến lược thống nhất và được nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ đa ngành, khắc phục tình trạng chính sách được ban hành để đối phó với các áp lực trước mắt; dịch vụ công phải đáp ứng nhu cầu của người dân chứ không phải vì lợi ích của người cung cấp dịch vụ, do đó phải đặt trọng tâm vào người sử dụng các dịch vụ là người dân và dịch vụ phải có chất lượng cao, hiệu quả, có thể so sánh được với những nơi tốt nhất trên thế giới, không chấp nhận các dịch vụ kém chất lượng.

Continue reading

KINH NGHIỆM VIẾT MỘT BÀI TẬP TÌNH HUỐNG (CASE STUDY)

 

“Con người ta có ba cái đầu: một cái do bẩm sinh, một cái có được từ trong sách, một cái có được từ trong cuộc sống”

MONTAIGNE

 

lincolnpicNghiên cứu tình huống là gì?

Phương pháp học bằng cách nghiên cứu tình huống (Case study) giống như tìm cách giải quyết một bài toán hóc búa. Một tình huống được lấy làm ví dụ phải là tình huống có vấn đề thực sự. Đó là tình huống chứa đủ thông tin để người đọc nắm bắt và phân tích. Một tình huống thú vị thường giống một câu chuyện có yếu tố khám phá mà người viết tạo ra nhằm lôi cuốn sự quan tâm của bạn đọc.

Một tình huống tốt còn hay không dừng lại ở sự mô tả chung chung. Đó là sự sắp xếp thông tin để người đọc có cảm thấy mình đang phải đối mặt với mọi thứ như chính tác giả. Trong khi đó, sự sắp xếp khéo léo sẽ gói ghém mọi thứ theo một trật tự. Nó cho người đọc biết mọi thứ, kể cả biết trước kết cục. Vì thế, người đọc chẳng phải động não bao nhiêu cả.

Khi bạn viết một tình huống, để giúp người đọc có cảm giác chinh phục được thử thách như chính người trong cuộc, một số gợi ý sau có thể giúp bạn.

Có 3 bước cơ bản khi viết một tình huống, đó là: nghiên cứu, phân tích và bắt tay vào viết. Bạn bắt đầu với việc nghiên cứu nhưng trong quá trình bắt tay vào viết, đôi lúc bạn cần quay lại giai đoạn nghiên cứu vì đôi khi thông tin bạn đang có vẫn chưa đủ.

Continue reading

XÂY DỰNG LUẬT ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN: LÚNG TÚNG TỪ MỤC TIÊU BAN ĐẦU

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ không trình dự luật Đăng ký bất động sản cho Quốc hội trong kỳ họp tới. Quyết định này được đưa ra sau khi có ý kiến không thuận lợi của các ủy ban chuyên môn về sự cần thiết của việc ban hành luật này.

Nhiều người băn khoăn: trong điều kiện đã có các hệ thống đăng ký được thiết lập theo quy định trong các luật khác, đặc biệt là luật Đất đai và luật Nhà ở, mục tiêu của luật Đăng ký bất động sản là gì?

Hệ thống không ổn khi có hai lãnh địa

Cho đến nay, các hệ thống đăng ký nhà, đất chưa cho thấy được tác dụng tích cực trong việc bảo đảm an toàn pháp lý cho tài sản của người dân khi giao dịch, nhưng lại gây quá nhiều phiền phức và tốn kém.

Với hai hệ thống đăng ký riêng biệt đối với quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà như cách làm hiện nay, là việc không hay, không khoa học. Các hệ thống này ra đời chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu quản lý chuyên biệt của các cơ quan nhà nước, hơn là để tạo thuận lợi cho việc thực hiện các quyền của người dân đối với tài sản. Một bộ được giao quản lý đất đai, bộ khác quản lý nhà ở và không ai chịu nhường nhịn, phối hợp với ai; hệ quả tất yếu là mỗi hệ thống đăng ký trở thành một lãnh địa mà hệ thống còn lại không thể liên kết.

Continue reading

TRANH CHẤP THỰC HIỆN NGHĨA VỤ TÀI SẢN: MÓN NỢ NỬA TỶ CỦA ANH CHỒNG "HỜ", NỢ CHUNG HAY NỢ RIÊNG?

HOÀNG YẾN

VKSND huyện Cần Giuộc (Long An) vừa kháng nghị một bản án dân sự sơ thẩm vì cho rằng TAND huyện này tuyên buộc một cặp vợ chồng hờ phải liên đới trả nợ gần nửa tỷ đồng là sai. Theo VKS, đây chỉ là món nợ riêng của một bên, không thể buộc người còn lại phải gánh giùm…

Anh chồng hờ “quý hóa”

Theo hồ sơ, đầu tháng 5, chị P. (ngụ huyện Bình Chánh, TP.HCM) cùng anh A. làm đám cưới nhưng chưa đăng ký kết hôn. Chung sống được nửa tháng, anh A. bỗng dưng… biến mất, không để lại một lời nhắn gửi gì.

Chưa hết bất ngờ, chị P. lại càng điếng hồn khi mấy ngày sau bỗng nhiên bị anh H. đến đòi món nợ gần nửa tỷ đồng mà anh A. đã vay. Dĩ nhiên là chị không chịu trả bởi không biết gì về món nợ này. Trong thời gian chung sống ngắn ngủi, anh A. cũng chẳng hề nói gì đến nó cả.

Sau đó, anh H. nộp đơn kiện đòi nợ ra TAND huyện Cần Giuộc nơi anh và anh A. đang sống. Theo đơn, đầu năm 2008, anh A. đã ba lần mượn tiền của anh: Lần đầu mượn 80 triệu đồng, lần hai mượn 150 triệu đồng, lần cuối mượn 237 triệu đồng. Anh A. có làm giấy nợ tổng cộng 467 triệu đồng và thỏa thuận từ ngày 20-4 đến 31-5 sẽ trả dứt nợ. Vì anh A. không chịu trả nên anh buộc phải nhờ tòa phân xử.

Continue reading

CẢI CÁCH CÁC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC

ZHOU FANGSHENG [1] –  WANG XIAOLU [2]

Cải cách doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở Trung Quốc là một bộ phận chủ yếu của cải cách kinh tế đã tiến hành được 24 năm, kể từ năm 1978. DNNN được chuyển đổi từ tư cách là các cơ quan giúp việc của Chính phủ theo cơ chế kế hoạch hoá tập chung sang các doanh nghiệp hoạt động độc lập theo cơ chế thị trường.

Đây là một quá trình khó khăn, phức tạp qua nhiều thăm dò và thử nghiệm từ những bài học và kinh nghiệm thu lượm được. Không có một mô hình sẵn có nào có thể áp đặt cho những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam, những quốc gia đang trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Chúng ta phải tìm con đường cải cách riêng cho chính mình dựa trên điều kiện thực tiễn của mình. Tuy nhiên, do hai nước có nhiều đặc điểm rất chung và những khó khăn tương tự nhau nên có nhiều chủ đề chung có thể cùng thảo luận và nhiều thông tin có thể trao đổi với nhau.

1. Tóm lược lịch sử cải cách DNNN ở Trung Quốc

Cải cách DNNN ở Trung Quốc bắt đầu từ năm 1978, được chia làm 3 giai đoạn.

Continue reading

LÀM THẾ NÀO ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CỦA LOẠI HÌNH TÍN DỤNG CHO VAY BẤT ĐỘNG SẢN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

house_for_sale THS. NGUYỄN THỊ MỸ DUNG

Bất động sản (BĐS) là tài sản có giá trị rất lớn nên hành vi lựa chọn và quyết định mua bán hoàn toàn khác biệt so với các sản phẩm dịch vụ thông thường. Một khi phát huy được vai trò tín dụng BĐS, sẽ giúp hoạt động của thị trường BĐS trở nên nhộn nhịp, từ đó, tác động đến cung – cầu thị trường và kéo theo sự phát triển của các ngành khác. Do vậy, hoạt động tín dụng BĐS là tài trợ mua bán, xây dựng hoặc cũng có thể là nâng cấp tài sản thực như nhà cửa, khu căn hộ, nhà kho… và trong một số trường hợp còn bao gồm cả đất đai nhằm mục đích đầu tư và sử dụng.

Tín dụng BĐS thường là những khoản vay có giá trị lớn và thời gian dài. Đối tượng phục vụ của loại tín dụng này rất đa dạng, không những dành cho khách hàng là doanh nghiệp mà còn cả khách hàng là cá nhân. Khi đối tượng cho vay khách hàng là cá nhân thì chất lượng thông tin của khách hàng thường không cao, nên cho vay bất động sản là một lĩnh vực chứa nhiều tiềm ẩn rủi ro. Do vậy, các ngân hàng luôn thận trọng khi tham gia vào lĩnh vực này. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng có một chiến lược kinh doanh cho từng đối tượng khách hàng khác nhau. Khi đánh giá mức độ tham gia của ngân hàng vào lĩnh vực BĐS, chúng ta cần phân biệt rõ hai trường hợp: Cho vay kinh doanh BĐS và cho vay mua BĐS để sử dụng cho chính nhu cầu của người vay. Việc cho vay kinh doanh BĐS sẽ chịu rủi ro trực tiếp khi thị trường BĐS có biến động giá hoặc bị đóng băng, do người kinh doanh BĐS không thể thu hồi hoặc thu hồi không đủ vốn từ việc bán các BĐS đã đầu tư. Còn trường hợp, việc cho vay mua BĐS để phục vụ cho chính nhu cầu của người vay, nếu người vay có nguồn thu nhập ổn định không phụ thuộc vào thị trường BĐS, thì khi thị trường BĐS biến động hoặc đóng băng, họ vẫn có khả năng trả nợ ngân hàng.

Continue reading

TĂNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỂ THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN HOẠT ĐỘNG LÀNH MẠNH, MINH BẠCH HƠN

NGUYỄN MINH PHONG – ĐẶNG CẨM THÚY – NGUYỄN MINH LONG

Tính đến hết tháng 9-2008, Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đã thu hút được 152 công ty niêm yết; Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội: 133 công ty. Có khoảng 80 công ty chứng khoán với hơn 32.000 tài khoản của các cá nhân và tổ chức được mở và đang thực hiện giao dịch tại hai sàn. Tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán khoảng gần 27% GDP. Thực tiễn cho thấy, trong số các nhân tố tác động đến sự hoạt động minh bạch và lành mạnh của thị trường chứng khoán Việt Nam, thì công tác thông tin và giám sát xử phạt các vi phạm hành chính có ý nghĩa ngày càng quan trọng …

1- Kinh doanh chứng khoán và vai trò của thông tin

Sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK)  là đặc trưng và thước đo sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đồng thời cũng là công cụ đắc lực để huy động vốn dài hạn cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội của một nước, một khu vực, thậm chí toàn cầu. Như tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh khác, kinh doanh chứng khoán cũng nhằm mục đích cuối cùng và cao nhất là đem lại lợi nhuận (từ nguồn lợi tức hoặc chênh lệch giá giữa khi mua và bán chứng khoán), hoặc nhằm thoả mãn những lợi ích riêng nào đó của các nhà đầu tư (chẳng hạn, việc tìm kiếm quyền kiểm soát một công ty hoặc gây tổn hại, thậm chí phá sản cho một công ty cạnh tranh đối địch…).

Continue reading

BỨC TÂM THƯ CỦA MỘT SINH VIÊN "KHÁT HỌC"

bosn0003_3 VIETNAMNET – “…Nhưng điều khiến em lo sợ hơn cả, là em sẽ biến thành một cái máy chỉ biết học thuộc lòng những chân lý đã được định sẵn, những kiến thức lạc hậu từ những cuốn giáo trình ra đời cách đây 40 năm, để đạt được một tấm bằng đại học khá giỏi. Và trong suốt quãng đời còn lại, em sẽ chẳng bao giờ dám nói KHÔNG trước khi biết gật đầu đồng ý, chẳng bao giờ dám nghĩ, dám nói và dám sống bằng con người THẬT của mình trước những vấn đề của cá nhân và của cả cộng đồng, xã hội. Và rồi, sự ổn định, nhàm chán, kiểu sống cam chịu và vâng lời mà em đã hấp thu suốt những năm tháng sinh viên sẽ dần dần bào mòn và giết chết cái Tôi, giết chết những ước mơ, những khát vọng, những thực thể sống động làm nên ý nghĩa tồn tại của cuộc đời em.”

Thầy kính mến,
Cũng như các bạn khác, em bước chân vào cổng trường Đại học với niềm háo hức của tân sinh viên sau bao nhiêu nỗ lực, cố gắng của bản thân và gia đình. Đứng trước ngôi trường rộng lớn này, em cảm thấy như tương lai tươi sáng đang hiện ra trước mắt. Nhưng tháng đầu tiên trên giảng đường Đại học đã qua đi, niềm vui chưa dứt, nỗi âu lo đã xuất hiện. Em đã không còn cảm thấy hứng thú với việc học tập nữa…
Đêm trước ngày đầu tiên đi học, thậm chí em còn hồi hộp đến mức không ngủ được. Mãi đến gần sáng mới chợp mắt một chút, không ngờ lại lên lớp muộn. Em vừa chạy đến trường vừa lo sợ sẽ bị phạt như hồi cấp 3. Nhưng khi em đến, xin phép vào lớp, thầy vẫn bình thản giảng bài. Rồi 5 phút sau có mấy bạn vào lớp, thầy vẫn giảng. 15 phút sau lác đác thêm mấy bạn nữa thầy vẫn không nói gì. Và lúc ấy em chợt nhớ tới câu nói của chị cùng phòng ký túc xá nói chuyện hồi sáng: “Em cứ đi từ từ thôi, các thầy cô dạy Đại học không để ý đến em đâu”.

Continue reading