KINH DOANH BẢO HIỂM – Một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại

THS. NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

Bảo hiểm được coi là dịch vụ tài chính, là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM), khi NHTM làm đại lý bảo hiểm, thành lập công ty liên doanh bảo hiểm, hay thành lập công ty con kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm trực thuộc.

NHTM cũng có thể tham gia kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thông qua hình thức đầu tư vốn mua cổ phần, trở thành cổ đông chính trong các công ty bảo hiểm.

Bảo hiểm cũng là đối tác cạnh tranh của NHTM, bởi vì lĩnh vực kinh doanh này thu hút một lượng vốn nhàn rỗi khá lớn của dân cư. Các công ty kinh doanh bảo hiểm là đối tác kinh doanh của NHTM, khi tổ chức này đầu tư vốn vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi, mua trái phiếu, tín phiếu hay uỷ thác đầu tư.

Hoạt động bảo hiểm có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của NHTM, bởi vì nó làm cho hoạt động của NHTM trở nên an toàn hơn, dù trong lĩnh vực cho vay vốn, đầu tư vốn, hay thẻ tín dụng, thuê mua,…

Nói tóm lại, bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, có thể là một nghiệp vụ của NHTM, nhưng phổ biến là các công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh doanh bảo hiểm riêng. Đối với các công ty bảo hiểm đây là một loại hình kinh doanh rủi ro. Còn đối với các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm thì đó là một công cụ phòng ngừa rủi ro. Bảo hiểm đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới.

Continue reading

KINH DOANH BẢO HIỂM – MỘT HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

THS. NGUYỄN THỊ MINH NGUYỆT

Bảo hiểm được coi là dịch vụ tài chính, là một hoạt động dịch vụ của ngân hàng thương mại (NHTM), khi NHTM làm đại lý bảo hiểm, thành lập công ty liên doanh bảo hiểm, hay thành lập công ty con kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm trực thuộc.

NHTM cũng có thể tham gia kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm thông qua hình thức đầu tư vốn mua cổ phần, trở thành cổ đông chính trong các công ty bảo hiểm.

Bảo hiểm cũng là đối tác cạnh tranh của NHTM, bởi vì lĩnh vực kinh doanh này thu hút một lượng vốn nhàn rỗi khá lớn của dân cư. Các công ty kinh doanh bảo hiểm là đối tác kinh doanh của NHTM, khi tổ chức này đầu tư vốn vào NHTM dưới các hình thức tiền gửi, mua trái phiếu, tín phiếu hay uỷ thác đầu tư.

Hoạt động bảo hiểm có mối quan hệ mật thiết với hoạt động của NHTM, bởi vì nó làm cho hoạt động của NHTM trở nên an toàn hơn, dù trong lĩnh vực cho vay vốn, đầu tư vốn, hay thẻ tín dụng, thuê mua,…

Nói tóm lại, bảo hiểm là một loại hình dịch vụ tài chính trong nền kinh tế, có thể là một nghiệp vụ của NHTM, nhưng phổ biến là các công ty, tổng công ty, tập đoàn kinh doanh bảo hiểm riêng. Đối với các công ty bảo hiểm đây là một loại hình kinh doanh rủi ro. Còn đối với các tổ chức và cá nhân mua bảo hiểm thì đó là một công cụ phòng ngừa rủi ro. Bảo hiểm đã có lịch sử hình thành và phát triển từ lâu trên thế giới.

Continue reading

MỘT VÀI Ý KIẾN VỀ BẢO MẬT VÀ QUẢN LÝ RỦI RO CÁC GIAO DỊCH NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ

NGUYỄN ANH TUẤN – Viettinbank

1. Những hình thức gian lận mới và những biện pháp bảo mật lỗi thời

Một điểm yếu căn bản của mô hình bảo mật hiện đang được áp dụng phổ biến là đặt trọng tâm vào xác thực người dùng trước khi giao dịch trong khi bỏ qua việc xác thực từng giao dịch. Tuy nhiên, điểm yếu đó chưa được nhìn nhận một cách thấu đáo. Thay vì thừa nhận điểm yếu không thể chối cãi của mô hình bảo mật dựa trên xác thực người dùng, nhiều nơi lại đổ lỗi cho biện pháp thực hiện. Xác thực bằng mật khẩu được thay thế bằng xác thực hai yếu tố (two-factor authentication), thẻ từ được thay thế bằng thẻ chip để chống làm giả. Và quả thực, việc sử dụng biện pháp xác thực hai yếu tố hay tăng độ phức tạp của các token định danh đem lại tác dụng tức thì: gian lận giảm nhanh trong một thời gian ngắn. Nhưng hãy cảnh giác, những biện pháp cải tiến tạm thời đó không giúp chúng ta ngăn chặn và đẩy lùi gian lận trong môi trường thương mại điện tử.

Các phương pháp xác thực hai yếu tố hiện đang được quảng bá rộng rãi như giải pháp cho nạn đánh cắp mật khẩu trên Internet. Xác thực hai yếu tố có thể chặn đứng nạn đánh cắp mật khẩu nhờ yếu tố biến động theo thời gian nhưng không giúp chúng ta chống lại những cách tấn công kiểu mới như ngựa thành Troa hay phishing. Hiện nay đã bắt đầu xuất hiện những cách tấn công hệ thống xác thực người dùng rất khó chống đỡ, đó là:

– Người trung gian: Hacker dựng một website ngân hàng giả và lừa người dùng truy cập vào đó. Khi người dùng nhập mật khẩu (dù là mật khẩu có sử dụng xác thực hai yếu tố), hacker liền dùng mật khẩu để truy cập trang web thực sự. Người dùng sẽ không bao giờ nhận ra họ vào nhầm trang web giả trong khi hacker tranh thủ chèn thêm giao dịch gian lận cùng với giao dịch thật của khách hàng.

Continue reading

NHÀ GIÁO NHÂN DÂN, ƯU TÚ DÀNH CHO "SẾP"

BẢO LOAN

100% người nhận danh hiệu  Nhà giáo ưu tú (NGƯT) của Hà Nội đều là cán bộ hoặc nguyên cán bộ quản lý.  Trong 17 NGƯT của Bắc Ninh cũng chỉ có tên 1 giáo viên. Danh sách ở các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Nam, Đắc Lắc, Cà Mau… đều “trắng” giáo viên.

Ngày 17/11, Chủ tịch nước ký quyết định công nhận danh hiệu cao quý Nhà giáo nhân dân (NGND) và NGƯT cho 917 thầy cô giáo. Đây là đợt công nhận có số lượng NGND và NGƯT cao nhất từ trước tới nay.

Trong số đó, thành phần cán bộ quản lý, hiệu trưởng các trường chiếm tỷ lệ khá cao. Số người được nhận danh hiệu cao quý của nghề đứng lớp ở giáo viên lại không nhiều.

Theo danh sách 815 NGƯT, có 301 NGƯT thuộc khối các tỉnh, thành phố. Trong số đó, cán bộ quản lý cấp trường, phòng, Sở GD-ĐT, chủ tịch công đoàn và nguyên là cán bộ quản lý chiếm hơn 200 người. Ngoài ra, còn có 22 NGƯT đặc cách nguyên là cán bộ quản lý các cấp.

Ví dụ, Sở GD-ĐT Hà Nội có 21 NGƯT (1 đặc cách) thì tất cả đều là cán bộ quản lý, hoặc nguyên cán bộ quản lý các cấp, trong đó chủ yếu của Hà Nội cũ và 4 cán bộ của tỉnh Hà Tây cũ.

Hải Phòng có 13 NGƯT, nhưng trong đó cũng chỉ có 2 giáo viên, còn lại đều là hiệu trưởng của các trường từ mầm non đến THPT và 1 chủ tịch công đoàn quận.

Tương tự, tỉnh Bắc Ninh có 17 NGƯT thì cũng chỉ có 1 giáo viên; Thanh Hóa có 16 NGƯT (2 giáo viên), Thừa Thiên – Huế 14 NGƯT (1 giáo viên); Kiên Giang 21 NGƯT (3 giáo viên). Các tỉnh Lai Châu, Bắc Kạn, Hà Nam, Đắc Lắc, Đắc Nông, Đồng Nai, Hậu Giang Cà Mau… đều “trắng” giáo viên. Tỉnh Cao Bằng năm nay là địa phương không có ai được lọt vào danh sách này.

Continue reading

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ ĐẶT RA NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC CHO ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ

THS. NGUYỄN THỊ KIM THANH

Điều hành chính sách tiền tệ (CSTT) đó là quá trình kiểm soát cung tiền, tín dụng của Ngân hàng Trung ương (NHTƯ) bằng tổng thể các biện pháp nhằm đạt được mục tiêu cuối cùng là ổn định hệ thống tiền tệ, ổn định giá cả ở mức hợp lý, qua đó góp phần tăng trưởng kinh tế bến vững. Chính vì vậy mà hội nhập kinh tế thế giới mang lại không ít những cơ hội và thách thức cho điều hành, thực thi CSTT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Cụ thể:

Cơ hội

– Đối với NHNN, hội nhập quốc tế tạo cơ hội để nâng cao hơn nữa năng lực và hiệu quả điều hành tiền tệ; đổi mới cơ chế kiểm soát tiền tệ, lãi suất, tỷ giá dựa trên cơ sở thị trường. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi này đòi hỏi NHNN phải có những bước đi thích hợp phù hợp với quá trình cải cách và mở cửa và hội nhập của đất nước nói chung và của hệ thống tài chính nói riêng, bởi vì:

(i) Tự do hoá thị trường tài chính và việc đổi mới công tác điều hành chính sách tiền tệ có mối quan hệ mật thiết với nhau.Tự do hoá thị trường tài chính, tạo điều kiện quan trọng để chuyển sang một khuôn khổ CSTT trên cơ sở thị trường hơn. Đồng thời tạo sự hiệu ứng nhanh của thị trường trước những thay đổi các điều kiện thị trường tiền tệ trong nước và quốc tế nhằm đạt mục tiêu cuối cùng của CSTT.

(ii) Kỷ luật tài chính và chính sách ngân sách thận trọng đóng vai trò quan trọng cho sự ổn định kinh tế vĩ mô, điều này sẽ góp phần tạo thuận lợi cho quá trình cải cách tài chính và thực thi CSTT chủ động hơn.

Continue reading

THỰC THI LUẬT PHÁP: KHOẢNG TRỐNG TỪ BÊN TRONG

HOÀNG QUỐC VIỆT

Lâu nay người ta vẫn nói tới các doanh nghiệp không hiểu rõ luật pháp nên dẫn tới thực thi pháp luật sai. Thế nhưng, ngay cả nhiều công chức nhà nước, những người “cầm cân nảy mực”, có khi cũng chẳng khá hơn…

Các bộ đổ lỗi cho nhau

Câu chuyện trách nhiệm về tình trạng sản xuất phân bón giả cho đến nay vẫn chưa có hồi kết. Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có phản ứng khá mạnh mẽ với văn bản được chứng minh là trái luật của Bộ Công Thương khi đề nghị UBND các địa phương chỉ đạo các sở Kế hoạch và Đầu tư kiểm tra và thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của các cơ sở sản xuất không đạt yêu cầu. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, Bộ Công Thương vẫn chưa có phản hồi.

Phải nói rõ thêm là văn bản của Bộ Công Thương nhằm khắc phục tình trạng phân bón giả, kém chất lượng đang lan tràn, khó kiểm soát. Bộ này cho rằng, một phần nguyên nhân của tình trạng này là cơ quan đăng ký kinh doanh khi cấp giấy chứng nhận kinh doanh cho các doanh nghiệp sản xuất phân bón đã không tham khảo ý kiến chuyên môn của sở Công thương; và rằng ngành kế hoạch cũng không có trách nhiệm tham gia giải quyết tình trạng phân bón giả khi đây là cơ quan cấp phép sản xuất, kinh doanh phân bón…

Continue reading

MÔ HÌNH TÒA ÁN KHU VỰC: TÒA ÁN BA CẤP HAY BỐN CẤP?

GIA HI – VI TRẦN

Đổi mới hệ thống tòa án là tất yếu nhưng đổi mới như thế nào thì còn đang gây tranh cãi… Ngày 21/11/2008,  trong hội thảo “Đổi mới tổ chức và hoạt động của tòa án, VKS theo định hướng cải cách” do Ban chỉ đạo cải cách tư pháp tổ chức, nhiều chuyên gia bàn thảo đã sôi nổi về mô hình tòa án trong tương lai. Nhiều người nói cần phải xây dựng mô hình tòa ba cấp, bốn cấp nhưng cũng có người bảo nên giữ y như hiện nay là chỉ hai cấp xét xử mà thôi…

Đổi mới để san sẻ công việc

Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng nhìn nhận: Việc lập ra tòa án sơ thẩm khu vực là cần thiết, giải quyết được nghịch lý là có nơi “đầu tắt mặt tối” làm không hết việc trong khi có những nơi lại ít việc để làm. Đặc biệt, đây cũng là định hướng mà Nghị quyết 49 Bộ Chính trị đã đề ra.

Ngay sau đó, Phó Chánh văn phòng Trung ương Đảng Nguyễn Văn Quyền đã phác thảo đề án với hai phương án để bàn thảo: Thứ nhất, tòa sơ thẩm khu vực không phụ thuộc đơn vị hành chính nhưng được thành lập trong phạm vi địa giới cấp tỉnh. Thứ hai, tòa này có thể bao gồm các quận, huyện của các tỉnh khác.

Các đại biểu đã thống nhất cao việc thành lập tòa sơ thẩm khu vực nhưng bàn đến địa giới hành chính thì lại có hai luồng quan điểm.

Đại diện TAND tỉnh Long An, Đồng Nai và Công an tỉnh Tiền Giang cho rằng tòa sơ thẩm khu vực chỉ nên tổ chức trong phạm vi tỉnh, không nên có thêm quận, huyện của tỉnh khác bởi sẽ gây xáo trộn lớn, không thuận lợi cho việc quản lý về mặt tổ chức ở địa phương. Phó Chánh án TAND TP.HCM Trần Văn Sự bổ sung: Khi nghiên cứu thành lập tòa sơ thẩm khu vực cần gom những quận, huyện gần nhau, giúp người dân thuận tiện khi có việc cần đến tòa.

Continue reading

SỬ DỤNG HÌNH ẢNH TRÊN BÁO CHÍ: ĐỂ LƯƠNG TÂM TỰ ĐIỀU CHỈNH

PHẠM TUẤN ĐẠT

Vừa qua, đã có một số tờ báo mở diễn đàn bàn thảo về vấn đề sử dụng ảnh trên báo chí. Đặc biệt, với vấn đề sử dụng ảnh cá nhân. Luật gia Đàm Việt (trên báo Pháp luật TP HCM số ra ngày 22/7/2008) đã đặt câu hỏi: “Theo tôi, các cơ quan chức năng cũng cần làm rõ thế nào là ảnh cá nhân. Ảnh chụp một mình hay ảnh chụp chung với nhiều người trong các bữa tiệc, các cuộc đi chơi… cũng đều là ảnh cá nhân?”.

Nhà báo – luật gia Nam Thanh (cũng tại tờ báo nói trên) sau khi nêu lên một nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự: “Muốn sử dụng ảnh cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác”, đã cho rằng: “Hiểu thế nào về vấn đề này dường như chỉ tùy thuộc vào nhận thức của từng người chứ không có một chuẩn mực pháp lý rõ ràng”.

Thật ra, nhiều người biết rằng, một văn bản luật, dù chặt chẽ đến mấy cũng không thể giải quyết thỏa đáng được tất cả những vấn đề rắc rối phát sinh hàng ngày trong cuộc sống. Bởi vậy, dùng ảnh ra sao để không gây phản cảm cho người đọc, không dẫn đến những vụ khiếu kiện của người có ảnh được đăng… hoàn toàn phụ thuộc vào độ “nhạy” của người có trách nhiệm ở các tòa báo.

Thực tế, ở ta, tuy chưa có trường hợp nào vì liên quan đến việc dùng ảnh trên báo chí mà phải… lĩnh án, song cũng đã có không ít những ì xèo , rắc rối dẫn đến đính chính, bồi thường thiệt hại. Điều đó cho thấy, việc sử dụng ảnh cá nhân trên báo chí không thể xem nhẹ.

Continue reading

THỰC TIỄN THI HÀNH ÁN: NGĂN CHẶN CHẬM, VUỘT MẤT 200 TRIỆU ĐỒNG

ÁI PHƯƠNG

Do chủ nợ không yêu cầu tòa án kê biên tài sản nên con nợ đã kịp thời chuyển nhượng ngay trước lúc bị ngăn chặn. Theo bản án năm 2007 của TAND TP.HCM, vợ chồng bà P. phải trả cho bà N. (cùng ngụ quận 10, TP.HCM) gần 200 triệu đồng. Sau khi bản án này có hiệu lực, Thi hành án dân sự quận 10 đã ra quyết định thi hành án. Để chắc ăn, bà N. đã yêu cầu Thi hành án quận 10 ra quyết định ngăn chặn các giao dịch đối với căn nhà của vợ chồng bà P. Nhưng cơ quan này cho biết căn nhà ấy đã bị ngăn chặn vào đầu năm 2007 trong một vụ án khác nên không cần phải ngăn chặn lần thứ hai.

Trở tay không kịp

Không ngờ là công văn ngăn chặn lần thứ nhất của Thi hành án quận 10 chẳng có “ép phê” gì. Bởi lẽ khi công văn đó đến tay Phòng Công chứng số 4 thì bà P. đã hoàn tất thủ tục bán nhà cho người khác. Sáu ngày sau khi được công chứng hợp đồng mua bán nhà, người mua đã đóng lệ phí trước bạ tại Chi cục Thuế quận 10. Tuần sau nữa thì người mua hoàn tất nốt thủ tục đăng bộ nhà.

Cho rằng việc thu trước bạ của Chi cục Thuế quận 10 đã vô tình giúp người phải thi hành án tránh né nghĩa vụ trả nợ, bà N. đã kiện đòi cơ quan này bồi thường gần 200 triệu đồng.

Continue reading

Ảnh hưởng của môi trường pháp luật TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ

TS. ĐỖ THỊ LOAN

Trước trào lưu hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển song cũng gặp không ít khó khăn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Một trong những yếu tố nan giải nhất là pháp luật. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó.

Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu không nghiên cứu kỹ môi trường pháp luật:

Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 12.1.2001 đưa tin: Đêm ngày 5.1.2001 cảnh sát Indonesia đã bắt giữ 3 giám đốc điều hành của công ty bột ngọt lớn nhất của Nhật đóng tại Indonesia PT Ajinomoto vì đã sử dụng một loại enzim của lợn để sản xuất mì chính, vi phạm quy định về thực phẩm của đạo Hồi. Công ty này đã bị đình chỉ hoạt động trong 3 tuần. Chính phủ Indonesia và Hội đồng Hồi giáo Ulamad Indonesia (MUI) đã quyết định buộc công ty PT Ajnomoto phải mua lại toàn bộ số mì chính đang lưu hành trên thị trường (khoảng 3.000 tấn). Vụ này đã gây thiệt hại cho công ty hàng chục tỷ Rupiad và còn bị đe doạ rút giấy phép hoạt động tại Indonesia và vào thời điểm đó giá cổ phiếu của hãng Ajinomoto tại thị trường chứng khoán Tokyo đã sụt tới 30 điểm.

Continue reading

ẢNH HƯỞNG CỦA MÔI TRƯỜNG PHÁP LUẬT TRONG KINH DOANH QUỐC TẾ

TS. ĐỖ THỊ LOAN

Trước trào lưu hội nhập, các doanh nghiệp Việt Nam đã có nhiều cơ hội để phát triển song cũng gặp không ít khó khăn. Một doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trường quốc tế phải đối mặt với vô số những yếu tố nằm ngoài tầm kiểm soát của mình. Một trong những yếu tố nan giải nhất là pháp luật. Sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong kinh doanh quốc tế phụ thuộc phần lớn vào doanh nghiệp có am hiểu các chính sách, các luật lệ của nước sở tại hay không. Cho dù doanh nghiệp đóng ở đâu cũng bị ảnh hưởng của hệ thống luật pháp và các chính sách của chính phủ nước đó.

Thất bại trong việc nghiên cứu yếu tố môi trường pháp luật và các ảnh hưởng của nó đến các hoạt động kinh doanh của mình sẽ dẫn đến những hậu quả không lường trên thị trường quốc tế. Trên thực tế đã có nhiều bài học đau đớn xảy ra đối với các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu không nghiên cứu kỹ môi trường pháp luật: 

Thời báo Kinh tế Việt Nam số ra ngày 12.1.2001 đưa tin: Đêm ngày 5.1.2001 cảnh sát Indonesia đã bắt giữ 3 giám đốc điều hành của công ty bột ngọt lớn nhất của Nhật đóng tại Indonesia PT Ajinomoto vì đã sử dụng một loại enzim của lợn để sản xuất mì chính, vi phạm quy định về thực phẩm của đạo Hồi. Công ty này đã bị đình chỉ hoạt động trong 3 tuần. Chính phủ Indonesia và Hội đồng Hồi giáo Ulamad Indonesia (MUI) đã quyết định buộc công ty PT Ajnomoto phải mua lại toàn bộ số mì chính đang lưu hành trên thị trường (khoảng 3.000 tấn). Vụ này đã gây thiệt hại cho công ty hàng chục tỷ Rupiad và còn bị đe doạ rút giấy phép hoạt động tại Indonesia và vào thời điểm đó giá cổ phiếu của hãng Ajinomoto tại thị trường chứng khoán Tokyo đã sụt tới 30 điểm.

Continue reading

NAM GIỚI VIỆT NAM SẼ "Ế" !?

HẢI CHÂU

“Tỷ số giới tính” khi sinh ở nước ta có xu hướng mất cân bằng ngày một lớn, khi 128 bé trai mới có 100 bé gái. Hậu quả, đến năm 2025, có khoảng 2,3 triệu nam giới không kiếm được vợ.

Hiện nay dân số Việt Nam có  86,4 triệu người và trở thành nước đông dân thứ 13 trên thế giới nhưng chỉ số phát triển con người và các chỉ tiêu về chất lượng dân số chỉ xếp thứ 108/177 nước. 

Điều đáng nói là “tỷ số giới tính” khi sinh ở nước ta có xu hướng mất cân bằng ngày một lớn, khi 128 bé trai mới có 100 bé gái.

Các chuyên gia đưa ra nhận định, nguyên nhân mất cân bằng giới tính là do phụ nữ đều biết giới tính của con trước khi sinh. Theo các chuyên gia dân số, việc phụ nữ đi phá thai vì giới tính của thai nhi không như mình mong muốn đã liệt VN vào danh sách một trong những nước có tỉ lệ nạo phá thai cao nhất trên thế giới. Trung bình, mỗi phụ nữ ở VN nạo phá thai 2,5 lần trong đời.

Với đà này, từ nay đến năm 2025, có khoảng 2,3 triệu nam giới không kiếm được vợ.

Tỷ số giới tính này tương đương với Trung Quốc cách đây 20 năm và hiện nay nước này đang phải đối mặt với hệ quả của việc “thiếu” tới 20 triệu phụ nữ.

Continue reading

BẢO VỆ QUAN ĐIỂM SỐNG CỦA MÌNH

QUỲNH ANH (Theo Leadership Excellent)

imageMột nhân tố quan trọng để trở thành một nhà lãnh đạo làm việc hiệu quả cao là kiên định bảo vệ quan điểm của mình. Không ai có thể tác động đến bạn mạnh mẽ hơn thái độ của chính bạn.

Nếu bạn có quan điểm tiêu cực hoặc lưỡng lự về một vấn đề gì đó, những nỗ lực giải quyết vấn đề đấy của bạn sẽ là phí hoài, hoặc bạn phải cố gắng nhiều hơn nữa. Không có gì bực mình hơn là đặt mọi cố gắng vào việc đó nhưng lại chẳng thu lại được thành quả gì. Khi bạn tiêu cực trong thái độ của mình, khách hàng cũng khó mà chấp nhận bạn, khó mà quyết định sử dụng sản phẩm của công ty bạn. Bạn thuyết phục khách hàng, khiến họ thấy họ được lợi thế nào khi sử dụng dịch vụ của công ty. Nhưng sẽ là vô nghĩa khi khách hàng biết được quan điểm tiêu cực của bạn, họ sẽ tìm cách tránh xa bạn.

Khi một người hay bi quan, họ chỉ nhìn thấy những khó khăn hơn là nhìn thấy những cơ hội và giải pháp để vượt qua trở ngại đó. Ý nghĩ mà bi quan sẽ chôn vùi bạn trong những rắc rối. Sự lạc quan khiến tu duy bạn mạnh lạc và mở đường cho sự sáng tạo. Tiêu cực trong cách nhìn nhận chỉ khiến bạn thấy căng thẳng, bạn chỉ thấy sự tồi tệ, không lối thoát.

Trong khi đó, với thái độ tích cực, lạc quan bạn coi trở ngại là thách thức, và chỉ tập trung vào tìm cách xoay sở, tìm hướng giải quyết. Và bạn cũng hạn chế được những căng thẳng cho bản thân và cho những người xung quanh. Hãy cố gắng hạn chế những ai, những điều gì ảnh hưởng tiêu cực đến bạn, khiến bạn trở thành người bi quan. Hãy kiểm soát suy nghĩ của mình theo hướng mà bạn muốn. 

Continue reading

PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN TRONG HOẠT ĐỘNG TÀI TRỢ THƯƠNG MẠI VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

THS. HUỲNH THỊ HƯƠNG THẢO

Bao thanh toán là nghiệp vụ không còn xa lạ gì đối với nhiều quốc gia trên thế giới và nó đã mang lại lợi ích thiết thực cho khách hàng lẫn đơn vị cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, bao thanh toán vẫn chưa được phát triển rộng rãi mà một trong những nguyên nhân là do ngân hàng vẫn còn dè dặt với loại hình này. Mặc khác, bao thanh toán (factoring) còn là một khái niệm còn lạ lẫm với nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Chính vì thế, dù được giới chuyên môn đánh giá cao nhưng nghiệp vụ bao thanh toán vẫn chưa thực sự phát triển ở Việt Nam. Đây cũng là một thiệt thòi lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam khi bán hàng. Vì vậy, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trong xu thế hội nhập với nền tài chính quốc tế, các ngân hàng, các tổ chức tài chính của Việt Nam cần mở rộng triển khai dịch vụ bao thanh toán.

1. Tìm hiểu về nghiệp vụ bao thanh toán

Theo Hiệp hội bao thanh toán thế giới (FCI – Factors Chain International) thì định nghĩa bao thanh toán là một loại hình dịch vụ tài chính trọn gói bao gồm sự kết hợp giữa tài trợ vốn hoạt động, bảo hiểm rủi ro tín dụng, theo dõi các khoản phải thu và dịch vụ thu hộ. Đó là một sự thỏa thuận giữa người cung cấp dịch vụ bao thanh toán (factor) với người cung ứng hàng hóa dịch vụ hay còn gọi là người bán hàng trong quan hệ mua bán hàng hóa (seller). Theo như thỏa thuận, factor sẽ mua lại các khoản phải thu của người bán dựa trên khả năng trả nợ của người mua trong quan hệ mua bán hàng hóa (buyer) hay còn gọi là con nợ trong quan hệ tín dụng (debtor).

Continue reading

SÁU ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỀN KINH TẾ VIỆT NAM

TUẤN VŨ

Mọi biến động về tiền tệ và ngân hàng luôn được người dân quan tâm. Sự kiện một loạt các định chế tài chính Mỹ sụp đổ như: Lehman Brothers phá sản; Merill Lynch sát nhập với Bank of America; AIG được bơm 85 tỷ USD để khỏi chung số phận với Lehman Brothers; hai công ty thế chấp hàng đầu Fannie Mae và Freddie Mac lâm nạn; Goldman Sachs, Morgan Stanley phải chuyển thành NH thương mại để tiếp cận các khoản vay của FED

Nguyên nhân sụp đổ của hệ thống tài chính xuất phát từ bong bóng của thị trường bất động sản xì hơi. Tiền được cho vay với lãi suất chỉ 2-3%/năm, trong khi giá bất động sản từ năm 2000 đến 2005 đã tăng đến 150%.

Vì vậy, dân chúng đổ xô đi vay tiền và đầu cơ nhà đất để kiếm lời và đến 2005 thì hoạt động liên quan đến bất động sản chiếm đến ½ GDP của Mỹ.

Nhà cửa mua bằng tiền vay được thế chấp tiếp tục để mua tiếp bất động sản khác và cứ như vậy, vòng xoay tín dụng có trường hợp đã đạt đến 30 lần, tạo ra một số tiền ảo cực lớn, gây lạm phát.

Chính phủ Mỹ phải đề xuất kế hoạch cả gói 700 tỷ USD để cứu thị trường tài chính nhưng theo một số chuyên gia thì phải có 1.500 tỷ USD mới có thể qua được cơn bão này.

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, động thái cứu vãn bằng cách bơm tiền vẫn là động thái mờ mịt. Bởi, tung tiền ra thì sẽ gây lạm phát với các rủi ro rất lớn, nhưng nếu không tung tiền ra để cứu thị trường tài chính thì thị trường sẽ sụp đổ, người dân đổ xô đi rút tiền, doanh nghiệp tê liệt và rối loạn xã hội. Khó có thể nói rủi ro nào là cao hơn.

Continue reading

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ, LẠM PHÁT VÀ CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH – TIỀN TỆ

PGS.TS. QUÁCH ĐỨC PHÁP – Viện trưởng Viện khoa học Tài chính

Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền kinh tế, kể cả nền kinh tế thị trường phát triển. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ.

Ở quốc gia nào cũng vậy, mục tiêu kinh tế hàng đầu là đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục nhằm phù hợp với xu thế kinh tế thế giới và đáp ứng yêu cầu nội tại của nền kinh tế. Tuy nhiên, việc lựa chọn con đường tăng trưởng lại cực kỳ khó khăn. Thực tế khó có thể phát triển nhanh, mà giữ vững được trong dài hạn, vì bản thân tăng trưởng kinh tế nhanh thường chứa đựng nhiều nhân tố gây mất cân đối, thậm chí dẫn tới khủng hoảng. Nổi bật nhất là hiện tượng tăng trưởng quá nóng, lạm phát tăng và không phải quốc gia nào cũng tìm được cách “hạ nhiệt” an toàn. Trung Quốc cũng đã nhiều lần tìm các giải pháp để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng quá nóng, có lúc lên tới hai con số. Bên cạnh đó, tính chu kỳ của nền kinh tế không chừa bất kỳ quốc gia nào, ngay cả đối với những nền kinh tế được gọi là “thần kỳ”.

Nền kinh tế nước ta mới chuyển từ cơ chế kế hoạch tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tuy thời gian chưa nhiều, đủ để phát hiện và khảo sát tính chu kỳ của nền kinh tế, song những biểu hiện của nó đã xuất hiện tương đối rõ. Kể từ năm 1986 đến nay, tăng trưởng kinh tế đã trải qua 4 giai đoạn thăng trầm: năm 1986 – 1991 chỉ tăng trưởng 4,7%/năm; năm 1992 – 1997 tăng trưởng tới 8,7%/năm mà đỉnh cao là năm 1995 với GDP tăng 9,5%; năm 1998 – 2001 lại hạ xuống còn khoảng 6%/năm và năm 2002 – 2005 phục hồi với trên 7,6%/năm.

Continue reading

MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỂ CÔNG TÁC THU HỒI ĐẤT, GIẢI TỎA, GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG ĐẠT HIỆU QUẢ

ANH PHƯƠNG

Một là, các địa phương cần có quy hoạch tổng thế kinh tế – xã hội đi trước một bước, bảo đảm kết cấu hạ tầng sau đó thực hiện đồng bộ việc quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch công nghiệp, đô thị, quy hoạch nông nghiệp chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm bảo đảm phát triển đồng bộ, tránh lãng phí đất, ổn định cuộc sống người dân.

Chính phủ và các địa phương trong quá trình lập quy hoạch phát triển công nghiệp, đô thị cần nghiên cứu xem xét nên quy hoạch tại những khu vực đất nông nghiệp có năng suất thấp, không nên quy hoạch khu công nghiệp, đô thị tại những vùng có điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp năng suất cao để bảo đảm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, an toàn lương thực và phát triển cân bằng, bền vững.

Hai là, các địa phương cần căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và quy hoạch công nghiệp đã được phê duyệt để có dự báo, tính toán nhu cầu đào tạo chuyển nghề, tư vấn hướng nghiệp sớm cho số lượng lao động có đất nông nghiệp chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp.

Ba là, các ngành công nghiệp, giáo dục – đào tạo, lao động – thương binh và xã hội ở địa phương cần xây dựng chiến lược đào tạo nghề, chuyển đổi nghề, giải quyết việc làm từ xa cho người nông dân và con em họ, tránh tình trạng “nước đến chân mới nhảy”.

Continue reading

THẦY – TRÒ VÀ NIỀM TIN BỊ ĐÁNH MẤT

LAN HƯƠNG (Ghi)

Cùng vào thang máy, thầy bị trò “đánh bật” ra ngoài. Trò đưa “phong bì”, thầy từ chối thì bị xì xào là… hâm hoặc đòi hỏi nhiều hơn. Có những thầy đổi mới… như cũ hoặc chưa dám chấp nhận những giá trị mới. Những người thầy đang đứng trên bục giảng rất đau lòng bởi dường như một số SV không còn giữ được sự tôn trọng và niềm tin ở họ.

Thầy Nguyễn Minh Hùng (Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Xây dựng): Trò hư một phần tại thầy

image Tôi đi dạy đã gần 30 năm. Trước kia, có lẽ do số lượng SV ít hơn nên mình dạy lớp A thì lớp B bên cạnh cũng biết, cũng quý thầy. Bây giờ thì khác, SV chỉ biết thầy đang dạy mình, còn thầy lớp khác thì kệ.

Thầy đi trong sân trường, trò lao xe máy ầm ầm, tông vào thầy là chuyện bình thường. Nhiều khi SV còn chen vào thang máy, đánh bật thầy ra. Thầy đứng ngoài nhìn SV đi thang lên trước mà trong lòng rất buồn, giờ giảng hôm đó cũng kém vui vì thầy ức chế.

Nhưng tôi cũng phải thừa nhận rằng trò hư một phần tại thầy.

Thứ nhất là nhiều thầy bây giờ không chỉ đi dạy mà cũng phải bon chen đi làm ở bên ngoài nên lên bục giảng rồi đầu óc vẫn nghĩ về chuyện khác, thậm chí lời lẽ vẫn mang tính chất của một anh làm việc ở công trường. SV tinh lắm, họ biết thầy nào chăm chú giảng dạy, thầy nào chỉ đến dạy cho hết giờ rồi về nên thái độ ứng xử cũng khác.

Thứ hai là bây giờ nhiều thầy chỉ chú trọng dạy chữ mà không coi trọng dạy người. Thầy vào lớp rất nghiêm túc nhưng đúng chuông hết giờ là thầy ra khỏi lớp, không cần biết SV ngồi dưới kia là ai. Cũng có thể là do SV quá đông, thầy cũng không thể nhớ mặt, nhớ tên được nên dẫn đến thói quen thầy làm việc thầy, trò làm việc trò, chẳng quan tâm đến nhau.

Cũng có thầy trong quá trình dạy có hỏi han chia sẻ với SV thì được học trò rất quý. Bản thân tôi từng rất cảm động khi vô tình vào một diễn đàn trên mạng của SV, đọc được dòng tâm sự giàu tình cảm của SV viết về mình chỉ vì lý do đơn giản là tôi đã dành một chút thời gian trong giờ nghỉ trò chuyện, động viên học trò.

Continue reading

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ BẤT ĐỘNG SẢN

TS. NGUYỄN NGỌC ĐIỆN

1. Tổng quan

Đăng ký quyền: nhu cầu khách quan đối với việc thực hiện quyền trong cuộc sống dân sự

Việc thực hiện một quyền trong xã hội có tổ chức chỉ được thuận lợi khi tất cả thành viên xã hội tôn trọng quyền đó. Muốn quyền được tôn trọng, điều kiện tiên quyết là quyền phải được xã hội biết đến. Trong một xã hội mà chủ thể được tôn vinh, thì người có quyền không phải cất công đi gặp và “rao” cho từng thành viên khác của xã hội về sự tồn tại của quyền, mà chỉ cần thực hiện một động tác mang tính chất công bố quyền với toàn xã hội; trái lại, tất cả các thành viên khác, nếu có quan tâm đến quyền đó, thì có trách nhiệm chủ động tìm hiểu về sự tồn tại của nó.

Hệ thống đăng ký quyền được lập ra như là giải pháp cho bài toán tạo điều kiện thuận lợi cho ứng xử của các chủ thể trong quan hệ xã hội theo các yêu cầu đó. Được phát minh bởi người Hy Lạp và thoạt tiên chỉ dùng để đăng ký quyền thế chấp bất động sản[1], chế định đăng ký tài sản trải qua những giai đoạn thăng trầm, trước khi có những bước phát triển nhảy vọt liên tục trong các hệ thống pháp lý phương Tây, từ giai đoạn cận đại cho đến nay. Đăng ký tài sản trong luật hiện đại có đối tượng không chỉ là các quyền bất động sản mà còn cả các quyền động sản, không chỉ quyền tài sản hữu hình mà cả quyền tài sản vô hình.

Tư tưởng chủ đạo là: xã hội cần đạt được quy ước về việc định vị một nơi mà ở đó sự hiện hữu pháp lý của quyền tài sản được ghi nhận và có thể được toàn xã hội nhận biết. Một mặt, người có quyền có thể đến đó để khai báo về quyền của mình; mặt khác, bất kỳ người nào tò mò về sự tồn tại của các quyền đối với một tài sản có thể đến đúng nơi ấy, truy lục các ghi chép về các lời khai, để tìm thông tin về các quyền đó. Thông tin về quyền để bảo vệ quyền, đó là mục tiêu tối hậu của tất cá các hệ thống đăng ký[2].

Continue reading