ĐI TÌM LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

image PHƯƠNG NAM

Theo tục xưa, những gì xuất hiện vào đầu năm sẽ ảnh hưởng đến cả năm. Vì vậy, trong những ngày đầu xuân thì ai cũng chọn cho mình bộ quần áo “bảnh” nhất, tìm cho được những lời chúc tốt đẹp nhất để gửi đến những người thương yêu, quý trọng. Những lời chúc ấy tập trung chủ yếu vào tuổi thọ, tiền tài, danh vọng, hạnh phúc…Mỗi lời chúc thể hiện một ước mơ và đâu là ước mơ đáng để mơ nhất?

Sống lâu trăm tuổi

Sống lâu trăm tuổi là một ước mơ của người xưa khi tuổi thọ con người chỉ ở khoảng 45 – 50 năm. Ngày nay, nhờ tiến bộ của khoa học, tuổi thọ con người đang ngày càng tăng.

Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO): dưới 65 được xếp vào “lứa” trung niên, từ 65 đến 74 được gọi là cao tuổi, từ 75 – 90 mới bị gọi là già, còn lão niên phải từ 90-120. Như vậy, có lẽ bài hát “60 năm cuộc đời” của NS Y Vân sẽ phải được điều chỉnh lại! Tuy nhiên, đa số các cụ khi đã thọ lại phát hiện ra rằng, tuổi thọ không phải là tất cả Có ai vui khi thọ đến 100 tuổi trong tư thế… “ngọa triều”? Như vậy, chất lượng sống tốt mới chỉ là “chỉ tiêu” cần “phấn đấu”.

Theo giáo sư Hồng Chiêu Quang, chuyên gia nổi tiếng của Trung Quốc về bệnh tim mạch và sức khỏe người cao tuổi thì những sinh hoạt hằng ngày có khả năng làm chất lượng cuộc sống trở nên kém đi, thậm chí làm người ta đoản thọ. Trong cuốn sách “Hãy là bác sĩ của chính mình”, giáo sư Hồng hướng dẫn: Về ăn uống, hằng ngày, uống một ly sữa bò hay hai ly sữa đậu nành để không thiếu can xi, ăn một lượng chất bột vừa phải từ một đến hai bát cơm (tùy công việc nặng hay nhẹ), 100g thịt hay 200g cá, hoặc 200g đậu phụ, ăn 500g rau xanh và quả chín, không ăn no. Lưu ý ăn các chất có màu: đỏ (cà chua), vàng (cà rốt), xanh (lá chè xanh), trắng (bột yến mạch), đen (nấm mộc nhĩ) để tăng cường hệ miễn dịch, phòng bệnh. Vận động vừa sức tốt nhất là đi bộ, mỗi tuần đi bộ khoảng năm lần, mỗi lần độ 3km, khoảng 30 phút. Đi bộ giúp cơ thể không dự trữ mỡ, máu huyết lưu thông. Nếu lỡ kết tình thâm giao với thuốc lá và rượu thì nên “nói lời chia tay” càng sớm càng tốt.

Continue reading →

BÀN VỀ ĐẠO KINH DOANH CỦA NGƯỜI VIỆT

DƯƠNG TRUNG QUỐC

Một quan niệm tương đối hoàn chỉnh về “đạo kinh doanh” chỉ hình thành khi nước Việt Nam đã thực hiện được nền độc lập về chính trị và gắn với tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi nhà yêu nước và nhà hoạt động chính trị này vạch ra được một quan niệm khá hoàn chỉnh về con đường phát triển đất nước- kiến tạo một nước Việt Nam hiện đại và đặt Việt Nam

1 – Một chút về lịch sử

Trong từ điển tiếng Việt hiện đại thì “kinh doanh” được định nghĩa là “tổ chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi”. Từ điển hiện đại cũng nhắc đến nội hàm được coi là cổ của từ này, là sự “gây dựng, mở mang thêm (thường nói về đất nước)”. Nghĩa cổ này cũng có thể tìm thấy trong các cuốn từ điển được biên soạn vào những năm 20,30 của thế kỷ trước như “Từ điển Hán-Việt” của Đào Duy Anh hay “Việt Nam từ điển” của Ban Văn học Hội Khai Trí Tiến Đức…
Điều đó cho thấy, khái niệm “Đạo kinh doanh của người Việt” là một khái niệm mới do thế hệ chúng ta đặt ra. Tuy nhiên, khái niệm này có liên tưởng hay liên hệ đến một khái niệm khác là “Đạo làm giàu” của thế hệ các nhà Duy Tân ở đầu thế kỷ trước, đặc biệt là cụ cử Lương Văn Can mà nhờ trước tác còn để lại mà chúng ta có xu hướng tôn vinh Cụ như vị tổ sư, hay người khởi xướng “Đạo làm giàu”. Đọc kỹ những trước tác phải nói là đầy tính khai sáng của Lương Văn Can không chỉ thấy sự truyền bá những kiến thức mới mẻ về một lĩnh vực đã từng có từ xưa là sự buôn bán…
Giới sử học Việt Nam vẫn cho rằng, xã hội Việt Nam dựa trên nền tảng của một nền kinh tế tiểu nông gắn với cơ cấu làng xã cùng với chính sách có xu hướng ức thương của các nhà nước phong kiến nên khó hình thành một tầng lớp thương nhân lớn, những đại gia tạo thành một thế lực xã hội. Về đại cục điều đó không sai. Ngay những địa điểm được coi là đô hội và buôn bán trù phú nhất như Phố Hiến hay Hội An cũng chỉ là sự bùng phát một thời với những yếu tố ngoại thương của các thương nhân nước ngoài đến tham dự hội chợ theo mùa và cuối cùng tàn lụi.
Nhưng có một phát hiện đáng chú ý liên quan đến một hiện vật nổi tiếng của dòng gốm Chu Đậu tại Bảo tàng Istabul (Thổ Nhĩ Kỳ). Trên chiếc bình cổ vẽ những bông hoa cúc với dây leo rất đẹp có ghi tên người vẽ là Bùi Thị Hy. Sau rất nhiều công phu nghiên cứu người ta đã tìm được một số hiện vật là những sản phẩm gốm có giá trị ở trong nước có dấu tích của nhân vật này… Để rồi mới đây, người ta đã tìm thấy bản sao tấm bia trên mộ chí của bà trong đó ghi tiểu sử của một nhà doanh nghiệp lớn của Việt Nam ở thế kỷ XV. Nội dung bia cho biết, bà sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc có tài văn chương lại có tài hội họa. Bà kết hôn với một chủ lò gốm ở vùng Chu Đậu, huyện Nam Sách, góp phần cùng chồng mở rộng sản xuất đồ gốm có chất lượng để tiến cống triều đình và xuất sang Trung Hoa, Nhật Bản và một số nước phương Tây. Chồng bà bị chết trong một chuyến đi biển vận chuyển hàng hóa. Bà tái giá với một người chồng họ Đặng rồi trực tiếp đứng ra kinh doanh, trở thành chủ thương đoàn, vượt biển buôn bán với “Tam phiên” (Nhật, Trung Hoa và phương Tây)… Cuối đời bà dành nhiều tiền của làm công đức…

Continue reading →

TRÁCH NHIỆM DÂN SỰ DO CHI TRẢ TIỀN GỬI CHO NGƯỜI KHÔNG PHẢI LÀ CHỦ SỞ HỮU: NGÂN HÀNG “TRẢ NHẦM” TIỀN CHO TRỘM, KHÁCH HÀNG CHỈ BIẾT KHÓC?

TUYẾT NHUNG

Sau khi “trả nhầm” tiền cho kẻ đã ăn trộm sổ tiết kiệm và chứng minh thư của người khác rồi giả chữ ký, rút tiền trong sổ, Ngân hàng NN&PTNT chưa biết phải chịu trách nhiệm thế nào đối với khách hàng của mình.

Bị người quen trộm sổ tiết kiệm

Ngày 28/5/2008, chị Nguyễn Thị Mai, quê Bắc Giang, tạm trú tại số nhà 68, tổ 3, làng Thành Công, Ba Đình, Hà Nội, gửi số tiền 626.932.000 đồng tại sở giao dịch số 2 Láng Hạ, Ngân hàng NN&PTNT.
Đến ngày 24/7/2008, chị Mai đã rút ra 350.000.000 đồng, số tiền còn lại trong sổ tiết kiệm là 276.932.000 đồng.
5 tháng sau, ngày 24/12/2008, chị Mai phát hiện ra sổ tiết kiệm bị mất nên vội đến ngân hàng trình báo, thì được nhân viên giao dịch cho biết, tiền trong sổ đã rút sạch từ ngày 11/11/2008.
Quá ngỡ ngàng, chị Mai đã làm đơn với nội dung cam đoan chị không hề rút tiền vào ngày 11/11/2008 và đề nghị ngân hàng làm rõ.

Sau đó ngân hàng đã phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự quản lý kinh tế, Công an Thành phố Hà Nội tiến hành xác minh, bắt kẻ gian đã lấy cắp sổ tiết kiệm và giả mạo chữ ký của chị Mai để rút tiền.
Kẻ trộm được cơ quan công an xác định là Nguyễn Thị Nết (sinh năm 1986), là sinh viên một trường Đại học tại Hà Nội, tạm trú tại phường Thành Công, quận Ba Đình, HN.
Chị Mai cho biết, trước đó Nết và chị Mai ở chung một nhà thuê. Chị Mai ở tầng 5, còn Nết ở tầng 4. Chị Mai coi Nết như chị em gái nên Nết đã có cơ hội để lấy trộm sổ tiết kiệm và chứng minh thư của chị Mai để ra ngân hàng rút tiền.
Theo cơ quan công an, Nết đã mang sổ tiết kiệm và chứng minh thư của chị Mai ra ngân hàng rồi giả chữ ký của chị Mai, rút được số tiền gần 300 triệu đồng trong sổ tiết kiệm.
Theo khai nhận ban đầu của Nết, do biết chị Mai có khoản tiền gửi tiết kiệm, Nết đã vào phòng của chị lấy cuốn sổ tiết kiệm. Sau khi lấy trộm được sổ tiết kiệm và số tiền trên, Nết lập cho mình sổ tiết kiệm 100 triệu đồng và dùng số tiền còn lại ăn chơi, cho người thân vay.
Qua khám xét nơi ở của Nết, cơ quan điều tra đã thu được sổ tiết kiệm của Nết gửi và tiếp tục điều tra vụ việc.

Continue reading →

CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

THS. PHAN THANH HÀ

Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động lập pháp là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng. Pháp luật cũng như hoạt động lập pháp không có mục đích tự thân mà luôn hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm bảo vệ các giá trị xã hội, các chuẩn mực và lợi ích xã hội.

Trên cơ sở đó, pháp luật mới thực sự trở thành công cụ đảm bảo cho xã hội ổn định và phát triển. Có thể nói, trong giai đoạn hội nhập, với điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh dân chủ và phát huy vai trò xã hội của Nhà nước hiện nay, việc tôn trọng và bảo đảm thích đáng những nhân tố làm nên cơ sở xã hội lại càng trở nên bức thiết, góp phần khiến cho hoạt động lập pháp ngày càng chất lượng hơn, làm cho Quốc hội nước ta ngày càng bảo đảm vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất ở nước ta.

1. Khái niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp

Tư tưởng về những nhân tố làm cơ sở xã hội cho hoạt động lập pháp đã hình thành từ rất sớm[1]. Đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này, nhưng tựu trung có thể thấy rằng, các tư tưởng có liên quan trong lịch sử luôn xoay quanh việc xem xét pháp luật, hoạt động lập pháp trong những điều kiện nhất định của xã hội. Các nhà tư tưởng đều hướng tới sự đòi hỏi hoạt động lập pháp phải dựa trên những nền tảng kinh tế – xã hội nhất định, tuân theo các quy luật xã hội riêng biệt trong những “điều kiện bên ngoài thích hợp”.

Có thể quan niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp là tổng thể các nhân tố làm nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động lập pháp, thể hiện nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội thuộc các lĩnh vực khác nhau, bảo đảm cho hoạt động lập pháp thể hiện được bản chất và thực hiện đúng chức năng của nó.

Những nhân tố đó thể hiện nhu cầu của xã hội trong việc điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội nhất định, nghĩa là, nó giúp xác định những quan hệ xã hội mới nào hiện nay cần sự điều chỉnh của pháp luật, những quan hệ xã hội nào không còn cần đến sự điều chỉnh của pháp luật nữa, hoặc những quan hệ xã hội nào cần có sự thay đổi trong điều chỉnh pháp luật. Sự thể hiện này còn liên quan tới nhu cầu về mức độ điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội (ở tầm Hiến định, luật định hay dưới luật…, ở mức độ hình sự, dân sự hay hành chính…). Cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp còn nói lên được nhu cầu về cách thức điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ xã hội ấy như: ghi nhận (quy định, cho phép, khuyến khích) hoặc ngăn cấm…Dựa trên sự thể hiện đó, mà hoạt động lập pháp xác định được hướng đi cho sự tồn tại, phát triển của mình, thực hiện chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội. Bên cạnh đó, bằng việc tạo ra các sản phẩm lập pháp dựa trên sự thể hiện đúng đắn, hợp lý nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ xã hội, hoạt động lập pháp tự nó đã thực hiện được chức năng giáo dục ý thức pháp luật đến người dân.

Continue reading →

MẠN ĐÀM TẬP TỤC TẾT

image_thumb[1][4]BÙI ĐỨC ANH TÚ

Năm nào cũng vậy, sau lễ cúng ông công ông táo, mọi gia đình quét dọn nhà cửa, sắm lễ, treo câu đối, đoàn tụ ăn bữa cơm tất niên để đón năm mới. Tết đến, mọi người chúc nhau mạnh khỏe, may mắn, chúc bạn bè gần xa nhiều tài nhiều lộc. Tất cả những tập quán và phong tục đó đã thành tự nhiên, thành lệ, nên ít người biết đến sự tích, truyền thuyết và nguyên do để tập tục Tết tồn tại đến tận bây giờ.

Truyền thuyết về cúng Táo

Cô con gái út của Ngọc Hoàng vốn hiền lành và hay thương người nghèo, chẳng thế mà người cô yêu chỉ là chàng trai giúp việc bếp núc dưới trần gian. Việc đến tai, Ngọc Hoàng bực tức và đuổi cô con gái xuống trần gian để cùng chịu tội với anh chồng nghèo. Thương con, Vương mẫu nương nương xin Ngọc Hoàng phong cho anh con rể chức “ông táo” và cô con gái đương nhiên trở thành “Bà táo”.

Vốn có lòng trắc ẩn, mỗi lần về trời thăm họ hàng rồi trở lại trần gian Bà Táo đều mang theo nhiều thức ăn và đồ dùng phân phát cho người nghèo. Không ưa gì con rể nghèo túng lại thấy con gái về khuân đồ đi phân phát cho thiên hạ, Ngọc Hoàng liền hạ chiếu mỗi năm chỉ cho con về trời một lần vào đúng ngày 23 tháng Chạp.

Sang năm thứ hai, sắp Tết rồi mà mọi người vẫn đói ăn, ngay cả gia đình ông Táo cũng vậy, đến nỗi không có miếng ăn mang theo trên đường để về trời.

Gặp phụ hoàng, cô thuật lại nỗi thống khổ của trần gian, mong được trời cứu giúp. Ngọc Hoàng không những không đồng tình, còn bắt con gái phải trở về trần gian ngay đêm hôm đó.

Nếu phải đi ngay sẽ không có gì mang về để cứu khổ cứu nạn thiên hạ, cô bèn lấy cớ nấn ná thêm ít ngày, nào là phải quét nhà, nào là phải xay đậu, nào là phải chuẩn bị thịt, gà cho đến tận ngày 30 mới “vác của” trở về trần gian.

Sau một đêm thao thức và đúng vào lúc giao thừa họ vui sướng thắp hương, đốt vàng mã và pháo nghênh đón Bà Táo trở về. Tử đó cứ vào ngày 23 tháng Chạp, người ta lại làm cỗ để tiễn đưa ông Bà Táo về trời.

Continue reading →

ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI NĂM 2008

NGUYỄN THÚY HƯƠNG – Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Mặc dù ảnh hưởng của suy thoái kinh tế thế giới khiến nền kinh tế nước ta gặp phải nhiều bất ổn, như chỉ số giá tiêu dùng cao, môi trường kinh doanh kém thuận lợi so với năm trước… năm 2008 vẫn đi qua với kết quả “ngoạn mục” về thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của cả nước, đạt khoảng 65 tỉ USD – mức cao nhất từ trước tới nay. Điều này khẳng định, Việt Nam vẫn là điểm hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

1. Chỉ tính riêng 11 tháng đầu năm 2008, cả nước đã thu hút trên 60 tỉ USD, trong đó cấp mới đạt 59 tỉ USD (1.059 dự án), bằng 82,5% về số dự án và tăng gấp 7 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2007; số còn lại là vốn đầu tư tăng thêm của một số dự án mở rộng sản xuất, kinh doanh. Quy mô vốn bình quân đầu tư của một dự án đạt 55,7 triệu USD/dự án thể hiện số lượng dự án có quy mô vốn lớn tăng hơn nhiều so với năm 2007 (12,2 triệu USD/dự án). Điều này thể hiện sự tin tưởng của các nhà đầu tư nước ngoài đối với môi trường đầu tư nước ta hiện nay. Đây là kết quả đáng khích lệ đối với các nhà hoạch định chính sách FDI, là thành quả của Chính phủ trong nỗ lực chỉ đạo, điều hành, của các cơ quan quản lý hoạt động FDI từ Trung ương đến địa phương trong việc tạo môi trường đầu tư – kinh doanh hấp dẫn, cởi mở, minh bạch và thông thoáng, phù hợp với cam kết quốc tế về giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó còn là sự tích cực, chủ động trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng đơn giản thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của doanh nghiệp.

2. Môi trường đầu tư – kinh doanh tại Việt Nam tiếp tục được cải thiện và được cộng đồng quốc tế đánh giá cao bởi việc hoàn thiện khung pháp luật về đầu tư ngày càng phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực. Chính sách phân cấp việc cấp giấy chứng nhận đầu tư và quản lý hoạt động FDI về địa phương đã tạo thế chủ động và tích cực cho cơ quan quản lý đầu tư các cấp trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp theo hướng giảm thiểu thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đầu tư đã được cấp phép nhanh chóng đi vào hoạt động kinh doanh hiệu quả, phát huy tính tự chủ và trách nhiệm của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động xúc tiến đầu tư đã đổi mới cả về phương thức lẫn nâng cao chất lượng thông qua nhiều hoạt động, như triển khai thực hiện Quyết định số 109/2007/QĐ-TTg, ngày 17-7-2007 của Thủ tướng Chính phủ, về việc ban hành Quy chế xây dựng và thực hiện Chương trình xúc tiến đầu tư quốc gia giai đoạn 2007 – 2010; thành lập nhóm hỗ trợ dự án tiềm năng quy mô lớn, ảnh hưởng lớn tới địa phương; ban hành Danh mục dự án quốc gia kêu gọi FDI giai đoạn 2006 – 2010; xuất bản các tài liệu cập nhật, đĩa CD… liên quan tới hoạt động FDI; tổ chức nhiều hội thảo xúc tiến đầu tư ở trong và ngoài nước, kết hợp với các chuyến thăm và làm việc của lãnh đạo cấp cao Đảng, Nhà nước; chú trọng hướng thu hút đầu tư từ các tập đoàn đa quốc gia nhằm thu hút các dự án lớn, công nghệ cao hướng vào xuất khẩu.

Continue reading →

DẤU HỎI SAU NHỮNG PHIÊN TÒA?

QUANG TRUNG

Thường xuyên tham dự những phiên toà ở nhiều tỉnh, thành… tôi có cơ hội chứng kiến những điều tưởng không bao giờ có thể xảy ra trong cuộc sống. Vậy mà nó vẫn cứ tiếp diễn như “chuyện hàng ngày ở huyện”. Bên cạnh những việc làm tuy đã cẩn trọng của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn còn có những tình tiết mà khi áp dụng trong quá trình xét xử không khỏi khiến người ta suy ngẫm…

Nghĩa tử, nghĩa tận

Ngay trên đường đi đến trụ sở toà án để tham dự phiên toà, chúng tôi đã phải đặt câu hỏi, vì sao người ta lại có thể lôi nhau ra toà trong những vụ việc như thế. Họ, những người đang sống vì những mâu thuẫn phát sinh ở dương gian mà lôi nhau ra toà chỉ vì một lối đi vào mộ cho người ở… cõi âm. Trong vụ việc này đó lại là một câu chuyện đầy bi kịch. Về khía cạnh pháp lý, Luật đã quy định về việc dành lối đi vào nhà cho những hộ gia đình vì những lý do nào đó mà mất lối đi (vấn đề mất lối đi vào nhà, báo chí cũng đã từng phản ánh). Tuy nhiên cái lối đi, hiểu theo nghĩa đường vào viếng mộ nó lại chưa hề được đề cập trong các văn bản pháp luật bởi dường như nó là chuyện hiển nhiên. ấy vậy mà…

Phiên toà diễn ra giữa những người đang sống, những người đã từng là hàng xóm của nhau. Họ từng là những người đã có lúc “cười tươi, bắt tay chặt” rồi chuyển sang “cười nhạt, bắt tay lỏng” và cuối cùng là… lôi nhau ra toà! Câu chuyện lôi nhau ra toà kể cũng lắm nỗi bi ai. Bên đi kiện là dòng họ Nguyễn, bên bị kiện là các ông bà Hùng, Liễu, Cường. Lý do mà dòng họ Nguyễn phát đơn khởi kiện các ông bà trên là do ở khu vực đất mà các ông bà này đang sinh sống có mộ tổ của dòng họ Nguyễn. Ngôi mộ tổ này đã tồn tại gần 300 năm nay. Gần đây bỗng dưng… mất lối đi vào cúng viếng. Ban đầu, khi chưa xuất hiện mâu thuẫn, mỗi khi cúng giỗ, các thành viên của dòng họ Nguyễn vẫn có lối vào để thăm mộ. Tuy nhiên, khi thấy các nhà ông bà trên xây dựng xung quanh khu vực này, dòng họ Nguyễn đã đến yêu cầu các bên dành cho một lối đi. Thoả thuận miệng là thế, cứ ngỡ mọi việc sẽ thuận buồm xuôi gió.

Continue reading →

TRANH CHẤP CHA, MẸ, CON: MỘT HỌC SINH GIỎI LỚP NĂM LÀ ĐỐI TƯỢNG THI HÀNH ÁN

NGUYỄN THẮNG – T.H

Một cậu bé là học sinh giỏi lớp năm ở huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu luôn luôn sống trong tâm trạng lo âu vì  là đối tượng  thi hành án của một vụ án dân sự.

Ngày 15/1/2009, ông Hoàng Mạnh Cường, Trưởng Thi hành án huyện Châu Đức, BR-VT cho biết  cơ quan  thi hành án (CQTHA) vẫn đang chờ ý kiến từ cơ quan cấp trên.

CQTHA cũng thi hành biện pháp cưỡng chế buộc bà  Trương Thị Hằng và ông Nguyễn Văn Thái, ngụ xã Xà Bang, Châu Đức BR-VT, giao cháu Hà Nguyễn Nhật Nam, SN 1998 là học sinh giỏi lớp 5 Châu Đức cho bà Hà Thị Thanh Thúy (trú TP.Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai) nhưng bà Hằng và ông Thái không chấp hành.

THA phạt hành chính và lập biên bản về việc bà Hằng ông Thái  không thi hành án, gửi Viện Kiển sát và Công an huyện để  giữ nghiêm phép nước. Tuy nhiên ông Cường nói rằng thực tình thì CQ THA không muốn làm.

Được biết chị Hà Thị Thanh Thúy kiện vợ chồng anh Nguyễn Văn Thái- Trương Thị Hằng ra tòa nhằm đòi lại đứa con do chị xin tại Bệnh viện Từ Dũ (TPHCM) năm 1998 để làm con nuôi. Khi xin con, chị Thúy khai sinh cho cháu bé đặt tên là Hà Nguyễn Nhật Nam.

Do điều kiện khó khăn nên chị Thúy đem cháu Nhật Nam gửi cho vợ chồng anh Thái- chị Hằng và hai bên có lập tờ “Đơn xin nhận con nuôi (đỡ đầu)”.

Tờ đơn này có nội dung: Anh Thái, chị Hằng nhận bé Nhật Nam làm con đỡ đầu. Nếu sau này, cô Thúy có cơ hội bảo lãnh bé về nuôi lúc nào, anh Thái – chị Hằng sẵn lòng giao trả lại, không làm khó dễ gì.

Năm 2003, chị Thúy quay lại đòi con nhưng chị Hằng và anh Thái quyết không giao cháu Nam cho chị Thúy. Chị Thúy có đủ giấy tờ nên Tòa án Nhân dân (TAND) Châu Đức, BR-VT, tuyên buộc anh Thái, chị Hằng phải trao trả cháu Nam cho chị  Thúy. Chị Hằng và Thái kháng cáo lên tòa Phúc thẩm TAND tỉnh BR-VT. Tòa phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Hằng, anh Thái.

Theo tòa phúc thẩm: “Điều quan trọng là cháu Nam phải được sống trong sự yêu thương, được lớn lên và phát triển trong môi trường tốt… Cháu Nam vẫn đang được chị Hằng, anh Thái nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo, cho đi học. Nếu tách rời cháu Nam mà cứng nhắc về lý thì thật tàn nhẫn, vô tình”.

Continue reading →

TẢN MẠN VỀ CÂU ĐỐI TẾT

image TRẦN PHỎNG DIỀU

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng. Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn

Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới

Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Continue reading →

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHIẾC RAM MÁY VI TÍNH

PHƯƠNG THƯ

Một công ty nhập, phân phối ram máy vi tính bị tước văn bằng bảo hộ vì nhà sản xuất nước ngoài đang sử dụng nhãn hiệu sản phẩm này. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử vụ Công ty TNHH Phát triển kỹ thuật ứng dụng VS kiện quyết định hủy bỏ văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ. Đây là một vụ kiện khá mới xung quanh việc đăng ký nhãn hiệu bộ nhớ máy vi tính (ram).

Trước cấp, sau hủy

Theo hồ sơ, tháng 10-2005, Công ty VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hóa cho sản phẩm ram máy vi tính nhãn hiệu K. của một công ty ở Đài Loan và hơn một năm sau thì được cấp bằng.

Sau đó, phát hiện một doanh nghiệp khác nhập bán sản phẩm K. không rõ nguồn gốc, Công ty VS đã thông báo, được cơ quan quản lý thị trường xác định đó là hàng giả và đề xuất UBND TP.HCM phạt doanh nghiệp nọ 100 triệu đồng. Tức mình, doanh nghiệp nọ khiếu nại yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ văn bằng đăng ký nhãn hiệu đã cấp cho Công ty VS với lý do VS chỉ là nhà phân phối, không phải đơn vị sản xuất.

Nhận đơn khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ đã thông báo cho VS và công ty này đã nộp bổ sung bản tuyên thệ của nhà sản xuất ở Đài Loan đồng ý cho VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu K. tại Việt Nam. Tuy nhiên, Cục Sở hữu trí tuệ không chấp thuận vì nộp trễ (lý giải vì sao không nộp bản tuyên thệ lúc đăng ký, Công ty VS cho biết khi đó Cục không yêu cầu). Thế là tháng 10-2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra quyết định hủy bỏ văn bằng đã cấp với lý do Công ty VS không đủ điều kiện nộp đơn.

Sơ thẩm: Cục sai

Công ty VS khởi kiện. Tại phiên sơ thẩm của TAND TP.HCM, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Công ty VS không có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu vì chỉ là đại lý phân phối, không phải nhà sản xuất. Trong việc này, chỉ có nhà sản xuất ở Đài Loan mới có tư cách nộp đơn. Ngược lại, Công ty VS cho rằng dựa vào điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63 (về sở hữu công nghiệp) thì một đơn vị kinh doanh cũng có quyền nộp đơn.

Một vấn đề khác gây tranh cãi giữa Công ty VS và Cục Sở hữu trí tuệ là theo khoản 3 Điều 220 Luật Sở hữu trí tuệ, đối với văn bằng cấp sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thì việc hủy bỏ các văn bằng đó áp dụng theo quy định tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ. Ở đây, VS đã được cấp văn bằng bảo hộ vào tháng 11-2006, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực. Tuy nhiên, khi ra quyết định hủy bỏ văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ lại căn cứ vào Nghị định 63 (đã hết hiệu lực tại thời điểm VS được cấp văn bằng). Giải thích, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Luật Sở hữu trí tuệ thay đổi nhiều lần nên không thống nhất. Tại thời điểm cấp văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ căn cứ vào Nghị định 63, không căn cứ vào Luật Sở hữu trí tuệ.

Continue reading →

GIÁM ĐỊNH THƯƠNG TÍCH, KHÁM NGHIỆM TỬ THI TRONG CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG

MINH DU

Giám định sức khoẻ trong các vụ án nói chung và án do tai nạn giao thông (TNGT) nói riêng đang là vấn đề thời sự được mọi người quan tâm, dư luận chú ý không chỉ phải do nó là hình thức tổn thương mới mà do tỷ lệ phần trăm (%) thường khác nhau sau mỗi lần giám định. Vậy, đâu là nguyên nhân đưa đến sự sai lệch đó, khiến cho vụ án kéo dài?

Khi thời gian và quyết định trưng cầu mâu thuẫn nhau…

Khi xảy ra một vụ án TNGT, thì thường các cơ quan tố tụng do chạy theo thời hiệu điều tra theo luật định, nên đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y rất sớm. Thường là ngay sau khi nạn nhân xuất viện, thương tích chưa ổn định, thậm chí sau một thời gian, nạn nhân còn phải tiếp tục nhập viện để tiếp tục quá trình điều trị như rút đinh xương, ghép xương, vá da… nhưng vẫn phải đi khám giám định.

            Ví dụ như, một nạn nhân bị vỡ khớp gối, phải có thời gian điều trị xuyên đinh và cố định khớp gối bằng bó bột. Khi bệnh nhân vừa cắt chỉ, tháo bột chưa lâu thì đã phải đi giám định. Lúc này, chắc chắn khớp gối vẫn còn bị cứng do mổ và bó bột nên bác sĩ giám định viên không thể nào đánh giá được tình trạng của thương tật là tạm thời hay vĩnh viễn. Mà nếu muốn, phải sau ba bốn tháng tập luyện, khớp gối vẫn cứng thì mới kết luận là thương tật vĩnh viễn hoặc ngược lại. Cũng tương tự như vậy, muốn xác định được một thương tích có trở thành cố tật khiến cho nạn nhân không thể trở về cuộc sống sinh hoạt bình thường như trước hay không thì cần phải có yếu tố thời gian. Chính vì vậy, nên kết quả của những lần giám định sớm này đôi khi không đáp ứng đúng, đủ yêu cầu nên buộc phải tiến hành giám định bổ sung, hoặc giám định lại. Và, cũng vì nguyên nhân này nên tỷ lệ % thương tật giữa các lần giám định “đi” và “lại” này rất khác nhau khiến cho vụ án kéo dài.

            Mặt khác, theo TS Vũ Dương, Viện trưởng Viện Pháp y Quốc gia, phần lớn những nội dung trưng cầu như xác định thương tật là tạm thời, hay vĩnh viễn, có gây ra cố tật hay không, phương tiện gì gây ra thương tật như vậy… lại không có trong quy định cho kết luận pháp y (?!). Bởi, từ năm 1995 đến nay, các cơ quan giám định pháp y khi xác định tỷ lệ % của thương tật vẫn căn cứ theo Thông tư liên tịch số 12 do liên Bộ Y tế và LĐ-TB&XH ban hành  để sử dụng cho thương binh, những người có công, mất sức lao động. Khi áp dụng cho các vụ án, không những Thông tư này quá bất cập không theo kịp sự phát triển của khoa học, không đầy đủ các mục cho tổn thương (như sẩy thai, tổn thương như mô não, khuyết sọ…) mà còn là nguyên nhân đưa đến việc xác định tỷ lệ % khác nhau. Đây cũng chính là kẽ hở để cho các bác sĩ giám định viên không có tâm vận dụng có lợi cho đối tượng thân quen.

Continue reading →

BÀN VỀ THU PHÍ SỬ DỤNG DỊCH VỤ ATM

ANH TUẤN

Ngày 19/11/2008, tôi vào google thử tìm kiếm cụm từ “thu phí ATM”, sau 0,27 giây google tìm được cho tôi 22.800 kết quả. Đọc qua các kết quả tìm kiếm, thấy phần lớn là các ý kiến phản đối hoặc đề nghị hoãn thời điểm thu phí ATM. Lướt qua các báo viết đăng hàng ngày tình hình cũng tương tự, các tiêu đề như “Ngân hàng lại đòi thu phí ATM”, “Ngân hàng lại tính chuyện thu phí ATM”,… có thể tìm thấy trên rất nhiều mặt báo. Qua các thông tin này, dường như người ta có cảm giác là các ngân hàng thương mại (sau đây gọi tắt là ngân hàng) đang đòi hỏi một việc gì đó trái với lẽ thường, đòi hưởng cái mà mình không đáng được hưởng chăng?

Chi phí

Để duy trì hoạt động của một máy ATM, chi phí tối thiểu mỗi năm khoảng 150 đến 200 triệu đồng, gồm: Chi khấu hao máy khoảng 100 triệu đồng/năm (bình quân 500 triệu đồng/máy1, khấu hao 5 năm, có thể cao hơn hoặc thấp hơn tùy loại máy), chi thuê địa điểm đặt máy từ 30 – 50 triệu đồng/năm tùy vị trí, chi phí bảo vệ, điện, sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ khoảng 30 triệu đồng/năm. Đó là chưa kể các chi phí khác như chi mua phần mềm quản lý ATM, lương nhân viên quản lý, kỹ thuật bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, tiếp quỹ,… Như vậy một ngân hàng nếu phát triển một hệ thống 1.000 máy ATM thì vốn đầu tư ban đầu ước tính lên tới 500-600 tỷ đồng (riêng tiền mua máy khoảng trên 500 tỷ đồng) và mỗi năm phải chi phí khoảng 150-200 tỷ đồng cho hệ thống này.

Thu nhập

Một số người cho rằng khi phát hành thẻ ATM, ngân hàng đã thu phí hàng năm từ 50.000 -100.000 đồng/năm, như vậy đã có thu nhập rồi. Đúng là các ngân hàng có thu phí phát hành thẻ, nhưng số phí thu được cũng không thấm vào đâu so với chi phí khổng lồ phải bỏ ra đã nêu trên. Tổng số thẻ các loại đã phát hành tại Việt Nam đến nay khoảng 8 triệu thẻ. Tuy nhiên, theo tính toán của các ngân hàng thì chỉ có khoảng 2-3 triệu thẻ hoạt động bình thường, số còn lại là thẻ không hoạt động (bản thân người viết bài này đã được các ngân hàng cấp 5 chiếc thẻ các loại, nhưng hiện chỉ sử dụng thường xuyên 1 thẻ duy nhất). Bình quân mỗi ATM phục vụ khoảng 500-600 chủ thẻ đang hoạt động (thậm chí các ngân hàng phát triển thẻ muộn mới chỉ đạt bình quân dưới 300 thẻ / 1 ATM), nếu thu đủ tiền phí phát hành, thì phí thu được tối đa khoảng 30 triệu đồng/máy/năm. Đó là tính trên lý thuyết, còn thực tế hiện nay phần lớn các ngân hàng đang phải miễn giảm phí phát hành thẻ để khuyến khích người dùng, nên khoản phí này thực tế còn thấp hơn nhiều.

Continue reading →

TÂM LÝ NGÀY TẾT

image PHẠM QUỲNH

Những dịp để cả một dân tộc được sống cùng nhau trong một tình cảm, một ý tưởng chung, cùng một xúc động tập thể, bao giờ cũng hiếm. Thường đấy phải là những sự kiện quan trọng, có liên quan ngay đến đời sống của cả cộng đồng, mới có thể tạo nên sự đồng nhất như vậy về ý nghĩ và rung cảm của mọi người.

Người nước Nam có cái may mắn được gặp một dịp như vậy thường kỳ, vào những ngày nhất định, mỗi lần năm mới âm lịch đến. Trong dịp ấy, tất cả trẻ con Nam Việt, từ đứa giàu nhất đến đứa nghèo khổ nhất, từ đứa tân tiến nhất đến đứa lạc hậu nhất, cùng đồng cảm trong niềm trang trọng mơ hồ, vô danh tính, ồn ào, to lớn, độc nhất, gọi là ngày Tết.

Tết, cái từ ma thuật dường như chứa đựng niềm vui mênh mông của cả một dân tộc vô tư và vui vẻ, mỗi lần một năm mới bắt đầu, lại quên bẵng đi tất cả mọi tai ương và khó khăn họ đã phải chịu đựng suốt năm qua và sẵn sàng khởi đầu lại cuộc sống trong hy vọng và niềm vui?

Vậy đâu là ý nghĩa của cái thực thể bí ẩn, kỳ lạ, mà người ta tôn sùng ngang như một vị thần và có một sức mạnh to lớn đến mức có thể gây cảm hứng trong mấy ngày cho cả một dân tộc cùng sống chung những tình cảm, có thể nói tạo nên một tâm hồn cộng đồng, nhất là đem lại cho họ niềm tin mỗi lần lại bừng sống lại mà ta đôi khi rất cần trong một cuộc tồn sinh thường rất khó khăn và bấp bênh?

Ngày Tết còn hơn là một ngày đầu năm rất nhiều, vả chăng nó kéo dài hơn một ngày, và nếu ta tính cả những chuẩn bị trước đó cùng những cuộc vui và giải trí tiếp sau, thì có thể nói nó kéo dài ít nhất là ba tuần. Dù sao, tâm trạng nó gây ra không dễ bị xoá đi trong một ngày và nghiên cứu nó quả là điều rất thú vị để hiểu được tất cả tầm quan trọng của sự trọng thể có thể coi là có tính chất quốc gia này, nếu điều đó không đồng thời cũng có ở Trung Hoa, nước Trung Hoa thật sự là Trung Hoa, nếu không phải là nước Trung Hoa Âu hoá một cách mơ hồ đang mỗi ngày kiên trì tự phủ nhận chính mình kia.

Continue reading →

TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG VỤ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG

TUẤN MINH

Tiêu chuẩn chất lượng vụ việc tham gia tố tụng là một trong những nội dung cơ bản trong Các tiêu chuẩn theo hình thức trợ giúp pháp lý được quy định tại Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý ban hành kèm theo Quyết định số 11/2008/QĐ-BTP ngày 29 tháng 12 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp nhằm tạo cơ sở pháp lý để người thực hiện trợ giúp pháp lý tự đánh giá chất lượng vụ việc do mình thực hiện hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện việc đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý và cũng để tạo cơ sở cho người có yêu cầu trợ giúp pháp lý được thụ hưởng dịch vụ pháp lý miễn phí với chất lượng tốt nhất.

Theo đó, ngoài các tiêu chuẩn chung như tạo điều kiện thuận lợi cho người được trợ giúp pháp lý tiếp xúc, trình bày và cung cấp thông tin về vụ việc trợ giúp pháp lý; về tính khách quan, toàn diện và kịp thời; đáp ứng được yêu cầu hợp pháp của người được trợ giúp pháp lý; tuân thủ và phù hợp với pháp luật, không trái đạo đức xã hội; đáp ứng các yêu cầu về trình tự, thủ tục; kiểm soát được hậu quả pháp lý phát sinh từ nội dung trợ giúp pháp lý; về việc lập hồ sơ vụ việc trợ giúp pháp lý thì các vụ việc tham gia tố tụng có chất lượng phải đáp ứng được các tiêu chuẩn theo hình thức trợ giúp pháp lý. Cụ thể:

Đối với vụ việc tham gia tố tụng hình sự, vụ việc có chất lượng khi đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

Thứ nhất, đã bảo đảm các tiêu chuẩn chung quy định tại các điều thuộc Mục 1 Chương Các tiêu chuẩn chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng vụ việc trợ giúp pháp lý.

Thứ hai, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thực hiện tư vấn cho người được trợ giúp pháp lý về các quy định của pháp luật có liên quan đến vụ việc trợ giúp pháp lý; đưa ra các giải pháp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp để người được trợ giúp pháp lý lựa chọn.

Thứ ba, người thực hiện trợ giúp pháp lý đã thông báo kịp thời cho người có yêu cầu về kết quả trợ giúp pháp lý và khi phát hiện ra những tình tiết có thể ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của họ hiện đang được cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét giải quyết.

Continue reading →

THẤY GÌ QUA LỐI SỐNG SINH VIÊN NGÀY NAY

TRƯƠNG HIỆU

Thạc sĩ Nguyễn Ánh Hồng (Giảng viên Khoa Giáo dục học, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn – ĐH Quốc gia TP.HCM) vừa hoàn thành cuộc điều tra xã hội về lối sống của sinh viên hiện nay. Sinh viên được chọn mẫu ngẫu nhiên tại ba trường thành viên (Trường ĐH Khoa học Tự nhiên, Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường ĐH Bách khoa). Trên cơ sở tìm hiểu sự lựa chọn các hoạt động cơ bản của sinh viên bằng phương pháp phân tích nhân tố và phân tích phân loại đã cho thấy ba kiểu sống cơ bản của sinh viên TP.HCM hiện nay.

60% sống khép mình, ít tham gia hoạt động xã hội!

Kiểu sống của nhóm sinh viên này chiếm tỷ lệ cao nhất trong các kiểu sống của sinh viên tại TP.HCM. Họ vẫn chú ý đến học tập và thường gặp gỡ, thăm hỏi bạn bè và người thân nhưng thường trong phạm vi hẹp. Ngoài ra họ còn xem ti vi, đọc sách báo. Có điều họ ít tham gia vào các hoạt động xã hội, chính trị, sinh hoạt tập thể. Đây là cách sống thiếu năng động, thiếu tích cực, ít hòa nhập vào đời sống xã hội. Trước những sự kiện đang xảy ra xung quanh mình, họ luôn tỏ thái độ bàng quan. Ngay cả lửa cháy như cháy Trung tâm Quốc tế ITC cũng không hề tác động “xi nhê” gì đến họ!

Kết quả nghiên cứu trên còn cho thấy môi trường sống đã ảnh hưởng trực tiếp đến lối sống của sinh viên. Chẳng hạn, sinh viên sống cùng với gia đình thể hiện một lối sống chăm lo bản thân và người thân, nhưng thiếu tích cực hòa nhập vào đời sống xã hội chung. Trong khi đó, những sinh viên sống xa nhà lại gắn bó với cuộc sống tập thể và xã hội hơn. Do vậy, lối sống tích cực ở họ cũng cao hơn hẳn những sinh viên cùng sống với gia đình. Đặc biệt môi trường sống ở ký túc xá đã ảnh hưởng lớn đối với việc hình thành kiểu sống này.

10% sinh viên hướng vào vui chơi, hưởng thụ!

Gồm những sinh viên hướng hoạt động của mình vào việc vui chơi mang tính hưởng thụ, nhiều khi vô bổ, ít chú ý đến việc mở mang kiến thức và hoàn thiện nhân cách. “Tớ chỉ thích điện thoại nào đời mới…”, “Phim Hàn Quốc đang chiếu tới tập…”, “Hàng hiệu hợp thời ở chỗ…”. Đó là những điều quan tâm thường trực trong đời sống hàng ngày của nhóm sinh viên này. Tuy vậy, họ là những con người rất năng động, hứng thú với những hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ những thú vui của tuổi trẻ, thể hiện một lối sống tiêu dùng “sành điệu”. Lắm khi “ăn chơi” kiểu bạt mạng đến quên cả lối về!

30% sinh viên say mê học tập?

Và ai cũng biết rằng trách nhiệm của người sinh viên hôm nay đến giảng đường là để học hỏi, tìm kiếm một ngành nghề nào đó cho cuộc sống tương lai, hoặc để tự nâng cao kiến thức hiểu biết Nhưng điều đáng tiếc đã xảy ra: chỉ có 30% trong số họ thực hiện được công việc này. Đây là nhóm sinh viên có thái độ sống tích cực, năng động, có chí hướng và say mê học tập.

Những hoạt động của nhóm sinh viên này nhằm mục đích phát triển và hoàn thiện cá nhân như học thêm, làm thêm, đọc sách, đi thư viện. Đồng thời họ cũng thích xem biểu diễn nghệ thuật, tham gia vào các hoạt động xã hội, câu lạc bộ, các lễ hội truyền thống Nhóm sinh viên này hướng những hoạt động của mình vào mục đích thỏa mãn nhu cầu phát triển cá nhân, đồng thời cũng có những hoạt động hướng ngoại tích cực như hướng đến những nơi giao tiếp công cộng, đại chúng. Nơi họ đến và tham gia hoạt động là những tổ chức hoạt động chính quy với mục đích lành mạnh.

SOURCE: CHUNGTA.COM

Trích dẫn từ: http://chungta.com/Desktop.aspx/GiaoDuc/Thuc-Trang-GD-Dai-Hoc/Thay_gi_qua_loi_song_sinh_vien_thoi_nay/

BẠN BIẾT GÌ VỀ “HÀNH VI KHÁCH HÀNG”

MAI QUỲNH TRANG (Dịch theo Knowthis)

Có lẽ khái niêm thách thức nhất trong marketing gắn liền với việc nắm bắt được nguyên nhân vì sao khách hàng lại hành động như thế này (hoặc không). Nhưng kiến thức như vậy được coi là then chốt đối với các chuyên gia tiếp thị khi họ có hiểu biết sâu sắc rằng hành vi khách hàng sẽ giúp họ hiểu được điều gì là quan trọng đối với khách hàng đồngt hời đưa ra những tác động quan trọng đối với việc ra quyết định của khách hàng. Sử dụng thông tin này, chuyên gia tiếp thị có thể tạo ra những chương trình marketing mà họ tin tưởng rằng sẽ mang lại lợi ích cho khách hàng.  

Bạn có thể đóan rằng, yếu tố tác động đến cách ra quyết định của khách hàng thật là phức tạp. Hành vi khách hàng bắt rễ và ăn sâu vào tâm lý phô trương của con người trong xã hội.  Vì mỗi một cá nhân trong xã hội không ai giống ai nên không thể có được những nguyên tắc đơn giản có thể giải thích được cách thức mà các quyết định của khách hàng được đưa ra. Nhưng những ai nghiên cứu họat động của khách hàng một cách nghiêm túc sẽ có thể đưa ra được “cẩm nang” về hành vi mua sắm của khách hàng: vì sao họ mua món hàng này và vì sao không?  

Trên thực tế, hãy thử lấy bất cứ cuốn giáo khoa nào nói về hành vi khách hàng để xem xét vấn đề. Viễn cảnh mà chúng ta có được thật hẹp và chỉ là những khái niệm cơ bản có thể được chấp thuận một cách thông thường như hành vi gây ảnh hưởng tới khách hàng.  Trong phần này, chúng ta sẽ thử xem hành vi mua sắm của khách hàng (ví dụ, khi nào thì người ta mua hàng vì lý do cá nhân), sau đó, chúng ta sẽ kiểm tra xem các yếu tố có thể tác động tới quyết định mua hàng của họ. 

Phân loại Quyết định Mua sắm của Người tiêu dùng

Gần như mỗi ngày người tiêu dùng đều phải đối diện với những quyết định mua sắm. Tuy nhiên, họ xử lý những quyết định này không phải lúc nào cũng giống nhau. Một số quyết định có tính phức tạp hơn nhiều so với những quyết định khác, do đó đòi hỏi người tiêu dùng phải nỗ lực hơn. Một số quyết định khác lại mang tính nếp quen hàng ngày, do vậy đòi hỏi ở họ ít nỗ lực hơn. Nhìn chung, người tiêu dùng thường phải đối diện với bốn loại quyết định mua sắm sau đây:

· Mua sắm mới thứ yếu – lại mua sắm này thể hiện cái gì đó là mới đối với người tiêu dùng, nhưng trong suy nghĩ của ọ, việc mua sắm này không thực ưự quan trọng xét về mặt mặt nhu cầu, tiền bạc hay vì một lí do nào khác (chẳng hạn địa vị trong nhóm người tiêu dùng)

Continue reading →

TẾT NGUYÊN ĐÁN – MỘT GIÁ TRỊ TÂM LINH CỦA NGƯỜI HÀ NỘI

0107Av11L MAI THỤC

Với người Hà Nội, ngày Tết Nguyên Đán có một giá trị tinh thần rất lớn. Giá trị đó ẩn sâu trong đời sống tâm linh của mỗi người, trong gia đình và cả cộng đồng mà ta có thể gọi chung là một giá trị tâm linh của Văn hoá Gia đình Việt Nam. Bởi trong những ngày Tết, mọi việc chỉ diễn ra trong gia đình với tất cả những thuần phong mỹ tục từ nhiều đời truyền lại, cuốn hút tất cả mọi người.

Trong những ngày Tết, người Việt Nam hoàn toàn tuân theo những giá trị bắt nguồn từ cái thiêng liêng, cái bí ẩn, tôn thờ những giá trị không vụ lợi mà rất trừu tượng, mông lung, có thể coi chúng là đời sống tâm linh.

Nếu trong thời thơ ấu, ta chờ mong Tết để được mặc quần áo mới, được ăn bánh chưng, được chạy nhảy vui đùa thoả thuê, thi khi tóc đã pha sương, ta lại cảm nhận cái Tết cổ truyền thắm đượm tình người trong trời đất, sâu thẳm nơi cội nguồn bản thể mà gia đình là cái nôi nuôi dưỡng nó. Những phong tục tập quán đậm đặc trong mấy ngày Tết diễn ra trong các gia đình, tạo thành nếp nhà, làm nên một giá trị tâm linh của văn hoá gia đình. Nhờ những ngày Tết, con người được trở về với chính mình. Dù ai đi đâu, ở đâu thì những ngày Tết cũng phải trở về với gia đình, tuân theo những tục lệ thiêng liêng, làm tròn bổn phận của mình với Trời, Đất, với Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, vợ con và người thân ruột thịt một cách tự nguyện, đầy mẫn cảm. Những ngày đó con người xã hội lắt léo tạm biến đi, nhường chỗ cho con người cá nhân chân thật, đầy tình cảm, đầy thương yêu, nhân nghĩa… sống dậy trong mối giao cảm thiêng liêng với Trời, Đất, với cõi thiêng, với người ruột thịt qua các tục lệ trong nhà như: lễ cúng Ông Táo, lễ Tống Cựu Nghinh Tân, lễ tiễn ông vải, lễ cúng giao thừa, xông nhà, chúc Tết, mừng tuổi, thăm hỏi họ hàng… Có thể nói mỗi một cái lễ là một bài học giáo dục trực quan, luồn lách trong tâm khảm mỗi con người, khơi dậy cái thiện, xoá đi cái ác. Vì thế trong các ngày Tết, con người ai cũng tốt hơn, và mong mỏi cho người khác tốt hơn, đẹp hơn. Họ chúc nhau “Năm mới vạn sự tốt lành”, “Năm mới an khang thịnh vượng”. Lời chúc đó xuất phát từ cái tâm lương thiện, nên nó chân thật, không phải là những lời giả dối. Vì những tục lệ ngày tết có giá trị văn hoá cao như vậy, nên xin các bà mẹ, bà vợ, người con dâu trong nhà đừng bỏ qua nó, mà hướng tâm chu đáo trong mọi việc lễ đó để khơi dậy cái tâm, cái đức trong con người và kéo mọi thành viên trong gia đình về với tổ ấm của mình.

Continue reading →

THƯ GỬI CON GÁI CỦA TỔNG THỐNG ĐẮC CỬ BARAK OBAMA

michelle-obama-speech-democratic-national-convention THANH TUẤN (Dịch từ tạp chí PARADE)

Malia và Sasha thân yêu,

Cha biết các con đã có nhiều điều thú vị trong hai năm đi theo chặng đường vận động tranh cử: được tới những cuộc picnic, diễu hành và hội chợ, ăn đủ thứ đồ tạp mà mẹ con và cha đúng ra không nên cho các con như vậy. Nhưng cha cũng biết mọi thứ không dễ chút nào cho các con và mẹ. Dù các con vui thích thế nào với chú cún mới, điều đó cũng chẳng thể bù đắp lại được những khoảng thời gian chúng ta xa cách nhau. Cha biết mình đã bỏ lỡ nhiều thế nào trong suốt hai năm qua, và hôm nay cha muốn nói cho các con một chút vì sao cha quyết định đưa gia đình ta vào hành trình này.

Khi còn trẻ, cha nghĩ cuộc đời tất cả là về bản thân mình – làm cách nào cha có thể tạo dấu ấn được nơi cõi đời này, trở nên thành công và đạt được những gì mình muốn. Thế rồi hai con bước vào cuộc đời cha với tất cả những sự tò mò, láu lỉnh cùng những nụ cười chưa lúc nào thôi làm tràn ngập trái tim cha và làm rạng ngời những tháng ngày đi qua. Bất ngờ cha nhận ra những kế hoạch to tát cha vạch ra cho chính mình không còn quan trọng nữa.

Cha nhanh chóng thấy niềm vui lớn nhất trong đời mình chính là niềm vui cha thấy được ở các con. Cha nhận ra cuộc đời chẳng còn ý nghĩa nếu cha không đảm bảo cho các con có mọi cơ hội để được hạnh phúc và phát huy được hết những gì nơi các con. Cuối cùng, các con à, đó chính là lý do cha chạy đua làm tổng thống: vì những gì cha muốn dành cho các con và mọi đứa trẻ ở đất nước này.

Cha muốn mọi trẻ em của chúng ta được tới trường phù hợp với những tiềm năng chúng có – những ngôi trường tạo ra thách thức, tạo niềm cảm hứng, truyền cho chúng sự ngạc nhiên với thế giới quanh ta. Cha muốn các bạn cũng có cơ hội đi học đại học, dù cha mẹ họ có thể không giàu. Và cha muốn các bạn có được những việc làm tốt: những công việc có thu nhập khá và đem lại cho họ những phúc lợi như bảo hiểm y tế, những công việc cho phép họ được dành thời gian với con cái và có thể nghỉ hưu trong đàng hoàng.

Continue reading →

CÓ HAY KHÔNG CÓ HỢP ĐỒNG TẶNG CHO: VỢ “HỤT” ĐÒI 2000 USD

MINH TRÍ

Mới đám hỏi, chưa đăng ký kết hôn thì một trong hai bên có quyền đi đăng ký kết hôn với người khác. Mới đây, Sở Tư pháp TP.HCM giải quyết một vụ khiếu nại liên quan kết hôn có yếu tố nước ngoài khá hy hữu. Khi một cặp nam nữ đăng ký kết hôn, vị hôn thê cũ của chú rể biết chuyện liền đến Sở Tư pháp yêu cầu chú rể đưa 2.000 USD, tiền đã hứa tặng gia đình cô khi làm đám hỏi trước đây.

Cô Nguyễn Thu Hương (tên các nhân vật trong bài đã được thay đổi – PV) được người thân giới thiệu quen với ông Tony Trần (Việt kiều Mỹ) lớn hơn cô 20 tuổi. Hai bên trao đổi thư từ qua lại rất nồng ấm. Cuối năm 2004, ông Tony về Việt Nam. Hai người gặp nhau, thấy hợp nên cô Hương dắt ông đến giới thiệu với gia đình cô. Sau đó, gia đình cô đã tổ chức lễ hỏi cho hai người. Ông Tony trở lại Mỹ và hẹn năm sau sang bảo lãnh vị hôn thê qua Mỹ. Bẵng đi một thời gian, hai bên không còn liên lạc với nhau nữa. Cô Hương được người quen cho biết ông Tony quen một phụ nữ khác, ông sẽ về Việt Nam làm thủ tục kết hôn với người đó vào tháng 11-2008.

Sau đó, cô Hương bỏ công đến Sở Tư pháp TP.HCM thăm dò tin tức. Cuối cùng, cô phát hiện ông đang làm thủ tục đăng ký kết hôn với người phụ nữ kia. Cô liền gửi đơn đến Sở yêu cầu xem xét trường hợp “vị hôn thê” của cô. Tại buổi làm việc với Sở Tư pháp, cô đã cung cấp chứng cứ về mối quan hệ của cô với ông Tony như hình ảnh, thư từ, phiếu chuyển tiền… Đặc biệt, cô Hương cho biết khi quan hệ còn thân thiết, ông Tony có hứa cho gia đình cô 2.000 USD thì gia đình cô mới cho hai người làm đám cưới. Cô mong muốn ông Tony thực hiện lời hứa trước đây với gia đình dù hai người không còn đến với nhau nữa.

Theo luật sư Phạm Tất Thắng, Đoàn luật sư TP.HCM, sự việc nếu hai bên “cơm lành, canh ngọt” thì ông Tony hứa cho gia đình cô Hương 2.000 USD là một dạng hứa tặng cho tài sản. Điều 465 Bộ luật Dân sự quy định việc tặng, cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình cho bên được tặng. Ở đây, ông Tony chưa cho tài sản cho cô Hương, vì thế phải áp dụng Điều 470 Bộ luật Dân sự về tặng cho tài sản có điều kiện quy định “bên tặng có thể yêu cầu bên được tặng thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi tặng cho”. Điều kiện áp dụng trong trường hợp này phải là hai bên “cơm lành, canh ngọt”. Trong khi thực tế ông Tony và cô Hương không kết hôn nên ông Tony không có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường cho cô vợ “hụt”.

Continue reading →