GIA ĐÌNH TRẺ SƠ SINH VIÊM PHỔI KHIẾU NẠI BỆNH VIỆN VIỆT – PHÁP

N.H

Vấn đề cốt lõi mà gia đình anh T. khiếu nại là muốn BV Pháp Việt nhận trách nhiệm một cách có thiện chí là con anh có chuyện bị sặc sữa hay không. Nếu có thì trách nhiệm của từng người tham gia vào ê kíp tới đâu.

Vụ việc bức xúc của vợ chồng anh V.K.T. (ngụ tại Phú Nhuận) TP Hồ Chí Minh cho rằng ê kíp dưỡng Nhi tại khoa sản Bệnh viện (BV) Pháp Việt (FV) TP Hồ Chí Minh đã sơ suất tùy tiện trong quy trình chăm sóc gây hậu quả nghiêm trọng cho con gái anh mới sinh bị sặc sữa dẫn tới viêm phổi vẫn đang được gia đình anh T. “muốn đi tới cùng sự việc”.

Nguyên nhân cũng vì những lời giải thích từ phía BV chưa làm thỏa mãn thắc mắc của gia đình và những ý kiến từ một số nhà chuyên môn cho thấy vụ việc còn nhiều vấn đề cần suy xét. Mới đây, anh T. tiếp tục gửi đơn khiếu nại lên Ban Giám đốc, Chánh Thanh tra Sở Y tế TP Hồ Chí Minh nhờ can thiệp.

Thiện chí hay “công nghệ” đối phó?

Vấn đề cốt lõi mà gia đình anh T. khiếu nại là muốn BV nhận trách nhiệm một cách có thiện chí là con anh có chuyện bị sặc sữa hay không. Nếu có thì trách nhiệm của từng người tham gia vào ê kíp tới đâu.

Giải thích nguyên nhân của BV cho rằng con anh nhiễm vi khuẩn Streptococus B và Staphylococus spp do hít phải nước ối lây truyền từ mẹ sang con đã bị anh T. và gia đình phản đối với các lý do: Chị T. vợ anh đã được BV FV nhận theo dõi trọn gói với kết quả tốt không có gì bất thường cho tới tận lúc sinh.

Hồ sơ trọn gói cũng có xác nhận sản phụ bình thường trong tất cả các xét nghiệm, khám định kỳ, kể cả kết quả xét nghiệm nước ối gửi mẫu sang tận Pháp.

Continue reading

BẠN CÓ BIẾT VỀ LUẬT PHÁP TRONG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ?

NGUYỄN NGỌC LONG (Theo webpronews)

Việc kinh doanh trên mạng cũng có một số vấn đề về pháp lý tương tự như việc kinh doanh bình thường. Tuy nhiên, do việc truyền thông tin dễ dàng và khả năng thực hiện nó mà không phải xuất hiện nên internet có nhiều thách thức hơn. Và dưới đây, bạn sẽ được giới thiệu một số vấn đề pháp lý trên việc kinh doanh thương mại điện tử cũng như cách giải quyết.

Quyền hạn phân xử

Trong cuộc mua bán thông thường, cả người mua và người bán đều ở cùng một vị trí. Điều này giúp dễ xác định quyền hạn phân xử khi có tranh chấp. Tuy nhiên, đối với một cuộc giao dịch trên mạng, người mua có thể ở một vùng khác hay thậm chí ở một quốc gia khác. Thực tế người mua có thể không biết chính xác người bán ở chỗ nào. Điều này làm cho việc xác định cơ quan nào có quyền hạn phân xử trở nên khó khăn. Thông thường, quyền hạn phân xử được quyết định bởi một hợp đồng đã được thoả thuận giữa cả hai phía trong một cuộc giao dịch.

Hợp đồng

Cơ sở của một cuộc giao dịch thương mại điện tử là một hợp đồng, hay một sự thoả thuận giữa hai phía. Mặc dù người ta thường nói rằng hợp đồng là một tài liệu dài, phức tạp, nhưng một hợp đồng có thể được thực hiện bằng cách sử dụng e-mail. Bạn có thể gửi e-mail đến một người bạn của mình để mời cô ta ăn trưa vào ngày thứ sáu, và cô ta gửi thư phúc đáp cho biết đồng ý gặp bạn tại một quán cà phê mà bạn ưa thích thì bạn và cô ta đã có một “hợp đồng”.
Các hợp đồng có mặt khắp mọi nơi trên web. Nhiều site yêu cầu bạn phải đồng ý với một số điều khoản trước khi bạn có thể đăng nhập vào. Một trong những site sử dụng hợp đồng là site bán đấu giá của eBay. Site này sẽ không thành công nếu những người đấu giá không mua các món hàng khi họ thắng. Do đó, eBay nhắc nhở mọi người rằng khi họ đấu giá thì họ đồng ý với một hợp đồng rằng người thắng sẽ phải trả tiền cho người bán với giá đã đưa ra.

Tài sản trí tuệ

Khi thực hiện việc kinh doanh trên web hay ở bất kỳ nơi nào khác, công ty và cá nhân cần phải bảo vệ tài sản trí tuệ của mình và đảm bảo rằng không sử dụng trái phép tài sản và trí tuệ của người khác. Internet đã trở thành nơi làm phát sinh những vụ vi phạm tài sản trí tuệ, mặc dù hầu hết mọi người không nhận thức được cách mà họ đang vi phạm. Nhãn hiệu thương mại, bản quyền và giấy phép được sử dụng nhằm mục đích bảo vệ sở hữu trí tuệ.

Continue reading

NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – THƯƠNG MẠI CỦA ĐẤT NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN QUA

1. Những tác động về mặt lý thuyết của việc gia nhập WTO đến phát triển kinh tế – thương mại của Việt Nam

Các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là kết quả rõ ràng nhất sau hơn 11 năm đàm phán, đồng thời là tâm điểm chú ý của các đối tác đàm phán bạn bè quốc tế, các tầng lớp dân cư, các cơ quan lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ, đại diện các bộ, ngành và cộng đồng các doanh nghiệp. Trước khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã đưa ra nhiều cam kết về kinh tế thương mại để mở cửa thị trường, thúc đẩy cải cách kinh tế trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong các Hiệp định thương mại và đầu tư song phương (đáng chú ý nhất là hiệp định Thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ) và gần đây trong khuôn khổ ASEAN mở rộng. Bên cạnh đó, Việt Nam còn tham gia nhiều chương trình hợp tác trong Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC) và Diễn đàn Hợp tác Á-ÂU (ASEM). Có thể khẳng định rằng các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam là những cam kết triệt để nhất, toàn diện nhất, đồng thời là điều kiện tiên quyết để nước ta tham gia vào tổ chức kinh tế, thương mại lớn nhất hành tinh, vì vậy, nó có những tác động sâu sắc đến sự phát triển kinh tế – thương mại của đất nước. Do đó để đánh giá tác động của việc gia nhập WTO đến tình hình phát triển kinh tế – thương mại của Việt Nam, trước tiên phải xem xét và phân tích các cam kết gia nhập của Việt Nam. Về kết cấu, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam có 3 phần chính: Cam kết đa phương; Cam kết về thương mại hàng hoá; Cam kết mở cửa thị trường dịch vụ. Các cam kết này có thể tóm lược như sau:

a. Cam kết đa phương là các cam kết chung về mặt nguyên tắc, về thể chế chính sách trong việc tham gia WTO. Theo đó, Việt Nam phải cam kết tuân thủ các định chế pháp lý của WTO, mà cụ thể là các Hiệp định đa phương của tổ chức này. Bên cạnh đó, chúng ta cũng phải cam kết về một số lĩnh vực đặc thù riêng. Theo đó, Việt Nam phải sửa đổi hệ thống luật pháp, chính sách sao cho phù hợp với các định chế pháp lý của WTO. Các cam kết đa phương chính của Việt Nam bao gồm các cam kết cụ thể sau đây:

– Cam kết về Chính sách tài chính – tiền tệ, ngoại hối và thanh toán;

– Cam kết đảm bảo các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiếm soát, hoặc được hưởng đặc quyền hay độc quyền, hoàn toàn hoạt động theo tiêu chí thương mại, Nhà nước không can thiệp trực tiếp hay gián tiếp vào hoạt động của các doanh nghiệp này…;

– Cam kết thực thi việc quản lý giá phù hợp với các quy định của WTO và bảo đảm tính minh bạch trong kiểm soát giá thông qua việc đăng tải danh mục các mặt hàng chịu sự quản lý giá và các văn bản pháp luật liên quan trên Công báo;

– Cam kết áp dụng trực tiếp hoặc nội luật hoá các cam kết và ưu tiên áp dụng các điều khoản trong cam kết quốc tế…;

Continue reading

LAO ĐỘNG NGHỈ VIỆC – BÀI TOÁN CẦN CÓ LỜI GIẢI

THS. MAI VĂN HOẠT- Ngân hàng Công thương Việt Nam

Thời gian qua, tại một số Chi nhánh Ngân hàng thương mại (NHTM) Nhà nước có tình trạng cán bộ xin chấm dứt hợp đồng lao động (nghỉ việc) để tới các ngân hàng khác. Có chi nhánh mới thành lập, nâng cấp nhưng có tới 4-5 cán bộ xin nghỉ việc, chiếm trên 10% tổng số cán bộ. Điều đáng quan tâm là chỉ những cán bộ có năng lực, đảm nhận vị trí quan trọng hoặc trực tiếp kinh doanh mới xin nghỉ việc, trong khi những cán bộ không đáp ứng được yêu cầu cầu dù có động viên, khuyến khích cũng không giảm đựợc, càng làm trầm trọng thêm tình trạng “thiếu người làm” trong khi “thừa nhân lực” gây không ít khó khăn trong quản lý điều hành bố trí, sử dụng lao động. Vậy đâu là nguyên nhân? Giải pháp nào để giữ lao động chất lượng cao?

I. Những nguyên nhân dẫn đến lao động nghỉ việc

Theo đánh giá của hầu hết các chi nhánh nguyên nhân cán bộ nghỉ việc là do sự lôi kéo của các NHTM cổ phần, với mức lương hấp dẫn và được đề bạt, thăng chức. Tóm lại, toàn các nguyên nhân khách quan mà ở vị trí các chi nhánh đặc biệt với những chi nhánh đang kinh doanh thua lỗ phải hưởng mức lương điều hoà đều khó hoặc không có khả năng đáp ứng, trong đó nguyên nhân về tiền lương, thu nhập đứng hàng đầu. Chỉ một vài ý kiến thẳng thắn nói ra được lý do khác liên quan đến vấn đề nội bộ: cung cách quản lý điều hành, chế độ đãi ngộ… nhưng còn dè dặt, nể nang.

Vậy thực chất đâu là nguyên nhân cơ bản: Hầu hết các cán bộ thời gian qua nghỉ việc đều không nói thật hoặc được che đậy bởi lý do sức khoẻ, hoàn cảnh gia đình. Bản thân các đơn vị cũng như toàn hệ thống chưa có thống kê về vấn đề này để tìm ra đâu là nguyên nhân thực sự. Nhìn bề ngoài và trong bối cảnh thu nhập của Việt Nam còn thấp nên hầu hết mọi ý kiến đều cho rằng nguyên nhân chính là do tiền lương, thu nhập nhưng thực tế đi sâu phân tích thì không phải như vậy.

Theo thống kê và kinh nghiệm của ATTE Luxembourg (Financial Technology Transfer Agency, Luxembourg) thì các nguyên nhân chủ yếu sau đây dẫn tới tình trạng lao động bỏ việc (xếp theo thứ tự từ cao đến thấp):

Continue reading

NGÂN HÀNG TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN: CÁI TÊN MỚI TRONG CHUYỂN ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM

TS. PHÍ TRỌNG HIỂN

Trong hai tháng Chín và Mười năm nay, ba ngân hàng 100% vốn nước ngoài đã nhận được giấy phép thành lập và hoạt động tại Việt Nam với cái tên khá mới mẻ: Ngân hàng trách nhiệm hữu hạn một thành viên Standard Chartered Việt Nam, HSBC Việt Nam và ANZ Việt Nam. Cùng với sự ra đời của các ngân hàng 100% vốn nước ngoài này, Việt Nam đã tiến hành “hiện thực hóa” các cam kết WTO trong lĩnh vực ngân hàng và cạnh tranh trong khu vực ngân hàng hứa hẹn sẽ diễn ra mạnh mẽ.

Từ cam kết …

Theo cam kết giữa Việt Nam và các nước thành viên khi gia nhập WTO, các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được phép tiếp cận thị trường với hầu hết các dịch vụ ngân hàng như một ngân hàng trong nước (trừ dịch vụ tư vấn; cung cấp, chuyển thông tin và xử lý dữ liệu thông tin tài chính). Cụ thể, kể từ ngày 01/4/2007, các ngân hàng nước ngoài được phép thiết lập sự hiện diện thương mại của mình tại Việt Nam dưới hình thức ngân hàng 100% vốn nước ngoài. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ được hưởng quy chế đối xử không phân biệt (đãi ngộ quốc gia) ngay sau khi Việt Nam gia nhập WTO, ngoại trừ ngân hàng mẹ khi muốn thành lập phải có tổng tài sản trên 10 tỷ USD. Đây được xem là một động thái tích cực và chủ động của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế bởi nếu so với Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ, Việt Nam đã gỡ bỏ nhiều hạn chế (như về huy động tiền gửi, điểm đặt máy ATM, phát hành thẻ tín dụng), đặc biệt là việc rút ngắn lộ trình cho phép sự hiện diện ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại thị trường nội địa. Ngoài ra, các tổ chức nước ngoài được tham gia góp vốn mua cổ phần tại các ngân hàng thương mại cổ phần trong nước với tổng tỷ lệ cổ phần nắm giữ không quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng.

Đến hiện thực hoá

Sau hơn một năm kể từ ngày được phép thâm nhập vào thị trường Việt Nam, ngày 08/9/2008, Việt Nam đã cấp giấy phép đầu tiên cho Standard Chartered Bank được thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Cùng ngày, Ngân hàng Nhà nước cũng đã cấp giấy phép cho HSBC thành lập ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam và theo kế hoạch, HSBC sẽ đặt trụ sở chính tại Sài Gòn, là nơi mà ngân hàng này đã mở văn phòng lần đầu tiên vào năm 1870.

Continue reading