TẢN MẠN VỀ CÂU ĐỐI TẾT

image TRẦN PHỎNG DIỀU

Sáng tác câu đối là một thú chơi tao nhã của bậc trí thức nhiều thời, có nội hàm văn hóa rất cao, thể hiện luân lý của người Á Đông nói chung, tính nhân văn của dân tộc ta nói riêng. Mỗi độ xuân về, ngoài việc trang hoàng nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, nhà nào cũng dán câu đối.

Theo sử sách, câu đối lúc đầu là bùa bát quái được người Trung Hoa cổ xưa dùng để treo ở giữa đòn dông nhà và dán hai bên cửa để giữ yên nhà cửa, xua đuổi không cho ma quỷ đến gần. Các bùa chú này phải được đặt đúng nơi, đúng lúc và phải làm lễ cúng bái mới phát huy được tác dụng. Không chỉ dán bùa chú, người Trung Hoa cổ xưa còn vẽ hình các vị thần thánh, các nhân vật huyền thoại theo tín ngưỡng, đem dán ở cửa nhà cũng để trừ tà ma. Tương truyền, Thần Thư và Uất Luật là hai vị thần chuyên bắt những con ma hung dữ, trói chúng lại bằng cỏ lau rồi đem cho hổ ăn. Vì vậy, trong những ngày giáp tết, người ta thường vẽ hình hai vị thần này rồi dùng cọng lau treo hai bên cửa để trừ ma quỷ. Người Trung Hoa cổ xưa cũng tin rằng cây đào là linh thụ chứa tinh anh trong ngũ hành nên được gọi là cây tiên đào và có khả năng trừ ma quỷ. Do đó, vào ngày tết, người ta thường vẽ hình của Thần Thư và Uất Luật trên ván bằng gỗ đào đế trấn giữ tà ma. Sau này, gỗ đào được thay bằng giấy và các vật khác. Nội dung hình vẽ và bùa chú cũng được thay bằng các câu văn rút ra từ kinh điển hay tác phẩm văn học, hoặc những lời chúc tụng cho năm mới tốt lành và hạnh phúc. Như vậy, từ hình thức tín ngưỡng có phần mê tín ban đầu dần dần việc dán câu đối vào ngày tết đã trở thành một mỹ tục của người Á Đông.

Ngày nay, câu đối được chạm khắc hoặc viết trên gỗ rất hiếm. Trong dịp tết, câu đối thường được viết trên giấy hồng điều bằng mực tàu, chữ Hán (hoặc chữ kim nhũ vàng). Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đó dát vàng. Nội dung của các câu đối thường mang nghĩa chúc tụng, thể hiện ước vọng an lành, cầu an khang, thịnh vượng:

Gia đình hòa dẫn xuân phong mãn

Diên kí quang đăng thọ diện cao

(Nhà đầu ấm gió xuân phơi phới

Tiếc mừng vui sao thọ ngời ngời)

Tết đến, người người thêm một tuổi, trướng thành hơn. Đó cũng là sự hãnh diện, là niềm hạnh phúc của mỗi người. Xuân về, trăm hoa đua nở, không khí mát lành là thời gian đế mọi người nghỉ ngơi, vui chơi sau một năm lao động mệt nhọc. Để tổng kết lại chặng đường trong năm qua và định hướng cho năm tới tốt lành hơn trong ngày xuân, người ta cũng thích dùng câu đối:

Continue reading

TRANH CHẤP SỞ HỮU TRÍ TUỆ: CHIẾC RAM MÁY VI TÍNH

PHƯƠNG THƯ

Một công ty nhập, phân phối ram máy vi tính bị tước văn bằng bảo hộ vì nhà sản xuất nước ngoài đang sử dụng nhãn hiệu sản phẩm này. Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại TP.HCM vừa xử vụ Công ty TNHH Phát triển kỹ thuật ứng dụng VS kiện quyết định hủy bỏ văn bằng bảo hộ của Cục Sở hữu trí tuệ. Đây là một vụ kiện khá mới xung quanh việc đăng ký nhãn hiệu bộ nhớ máy vi tính (ram).

Trước cấp, sau hủy

Theo hồ sơ, tháng 10-2005, Công ty VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu hóa cho sản phẩm ram máy vi tính nhãn hiệu K. của một công ty ở Đài Loan và hơn một năm sau thì được cấp bằng.

Sau đó, phát hiện một doanh nghiệp khác nhập bán sản phẩm K. không rõ nguồn gốc, Công ty VS đã thông báo, được cơ quan quản lý thị trường xác định đó là hàng giả và đề xuất UBND TP.HCM phạt doanh nghiệp nọ 100 triệu đồng. Tức mình, doanh nghiệp nọ khiếu nại yêu cầu Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ văn bằng đăng ký nhãn hiệu đã cấp cho Công ty VS với lý do VS chỉ là nhà phân phối, không phải đơn vị sản xuất.

Nhận đơn khiếu nại, Cục Sở hữu trí tuệ đã thông báo cho VS và công ty này đã nộp bổ sung bản tuyên thệ của nhà sản xuất ở Đài Loan đồng ý cho VS nộp đơn đăng ký nhãn hiệu K. tại Việt Nam. Tuy nhiên, Cục Sở hữu trí tuệ không chấp thuận vì nộp trễ (lý giải vì sao không nộp bản tuyên thệ lúc đăng ký, Công ty VS cho biết khi đó Cục không yêu cầu). Thế là tháng 10-2007, Cục Sở hữu trí tuệ đã ra quyết định hủy bỏ văn bằng đã cấp với lý do Công ty VS không đủ điều kiện nộp đơn.

Sơ thẩm: Cục sai

Công ty VS khởi kiện. Tại phiên sơ thẩm của TAND TP.HCM, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Công ty VS không có quyền nộp đơn đăng ký nhãn hiệu vì chỉ là đại lý phân phối, không phải nhà sản xuất. Trong việc này, chỉ có nhà sản xuất ở Đài Loan mới có tư cách nộp đơn. Ngược lại, Công ty VS cho rằng dựa vào điểm c khoản 2 Điều 14 Nghị định 63 (về sở hữu công nghiệp) thì một đơn vị kinh doanh cũng có quyền nộp đơn.

Một vấn đề khác gây tranh cãi giữa Công ty VS và Cục Sở hữu trí tuệ là theo khoản 3 Điều 220 Luật Sở hữu trí tuệ, đối với văn bằng cấp sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực thì việc hủy bỏ các văn bằng đó áp dụng theo quy định tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ. Ở đây, VS đã được cấp văn bằng bảo hộ vào tháng 11-2006, sau khi Luật Sở hữu trí tuệ có hiệu lực. Tuy nhiên, khi ra quyết định hủy bỏ văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ lại căn cứ vào Nghị định 63 (đã hết hiệu lực tại thời điểm VS được cấp văn bằng). Giải thích, đại diện Cục Sở hữu trí tuệ cho rằng Luật Sở hữu trí tuệ thay đổi nhiều lần nên không thống nhất. Tại thời điểm cấp văn bằng, Cục Sở hữu trí tuệ căn cứ vào Nghị định 63, không căn cứ vào Luật Sở hữu trí tuệ.

Continue reading

GIÁM ĐỊNH THƯƠNG TÍCH, KHÁM NGHIỆM TỬ THI TRONG CÁC VỤ ÁN TAI NẠN GIAO THÔNG

MINH DU

Giám định sức khoẻ trong các vụ án nói chung và án do tai nạn giao thông (TNGT) nói riêng đang là vấn đề thời sự được mọi người quan tâm, dư luận chú ý không chỉ phải do nó là hình thức tổn thương mới mà do tỷ lệ phần trăm (%) thường khác nhau sau mỗi lần giám định. Vậy, đâu là nguyên nhân đưa đến sự sai lệch đó, khiến cho vụ án kéo dài?

Khi thời gian và quyết định trưng cầu mâu thuẫn nhau…

Khi xảy ra một vụ án TNGT, thì thường các cơ quan tố tụng do chạy theo thời hiệu điều tra theo luật định, nên đã ra quyết định trưng cầu giám định pháp y rất sớm. Thường là ngay sau khi nạn nhân xuất viện, thương tích chưa ổn định, thậm chí sau một thời gian, nạn nhân còn phải tiếp tục nhập viện để tiếp tục quá trình điều trị như rút đinh xương, ghép xương, vá da… nhưng vẫn phải đi khám giám định.

            Ví dụ như, một nạn nhân bị vỡ khớp gối, phải có thời gian điều trị xuyên đinh và cố định khớp gối bằng bó bột. Khi bệnh nhân vừa cắt chỉ, tháo bột chưa lâu thì đã phải đi giám định. Lúc này, chắc chắn khớp gối vẫn còn bị cứng do mổ và bó bột nên bác sĩ giám định viên không thể nào đánh giá được tình trạng của thương tật là tạm thời hay vĩnh viễn. Mà nếu muốn, phải sau ba bốn tháng tập luyện, khớp gối vẫn cứng thì mới kết luận là thương tật vĩnh viễn hoặc ngược lại. Cũng tương tự như vậy, muốn xác định được một thương tích có trở thành cố tật khiến cho nạn nhân không thể trở về cuộc sống sinh hoạt bình thường như trước hay không thì cần phải có yếu tố thời gian. Chính vì vậy, nên kết quả của những lần giám định sớm này đôi khi không đáp ứng đúng, đủ yêu cầu nên buộc phải tiến hành giám định bổ sung, hoặc giám định lại. Và, cũng vì nguyên nhân này nên tỷ lệ % thương tật giữa các lần giám định “đi” và “lại” này rất khác nhau khiến cho vụ án kéo dài.

            Mặt khác, theo TS Vũ Dương, Viện trưởng Viện Pháp y Quốc gia, phần lớn những nội dung trưng cầu như xác định thương tật là tạm thời, hay vĩnh viễn, có gây ra cố tật hay không, phương tiện gì gây ra thương tật như vậy… lại không có trong quy định cho kết luận pháp y (?!). Bởi, từ năm 1995 đến nay, các cơ quan giám định pháp y khi xác định tỷ lệ % của thương tật vẫn căn cứ theo Thông tư liên tịch số 12 do liên Bộ Y tế và LĐ-TB&XH ban hành  để sử dụng cho thương binh, những người có công, mất sức lao động. Khi áp dụng cho các vụ án, không những Thông tư này quá bất cập không theo kịp sự phát triển của khoa học, không đầy đủ các mục cho tổn thương (như sẩy thai, tổn thương như mô não, khuyết sọ…) mà còn là nguyên nhân đưa đến việc xác định tỷ lệ % khác nhau. Đây cũng chính là kẽ hở để cho các bác sĩ giám định viên không có tâm vận dụng có lợi cho đối tượng thân quen.

Continue reading

BÀN VỀ THU PHÍ SỬ DỤNG DỊCH VỤ ATM

ANH TUẤN

Ngày 19/11/2008, tôi vào google thử tìm kiếm cụm từ “thu phí ATM”, sau 0,27 giây google tìm được cho tôi 22.800 kết quả. Đọc qua các kết quả tìm kiếm, thấy phần lớn là các ý kiến phản đối hoặc đề nghị hoãn thời điểm thu phí ATM. Lướt qua các báo viết đăng hàng ngày tình hình cũng tương tự, các tiêu đề như “Ngân hàng lại đòi thu phí ATM”, “Ngân hàng lại tính chuyện thu phí ATM”,… có thể tìm thấy trên rất nhiều mặt báo. Qua các thông tin này, dường như người ta có cảm giác là các ngân hàng thương mại (sau đây gọi tắt là ngân hàng) đang đòi hỏi một việc gì đó trái với lẽ thường, đòi hưởng cái mà mình không đáng được hưởng chăng?

Chi phí

Để duy trì hoạt động của một máy ATM, chi phí tối thiểu mỗi năm khoảng 150 đến 200 triệu đồng, gồm: Chi khấu hao máy khoảng 100 triệu đồng/năm (bình quân 500 triệu đồng/máy1, khấu hao 5 năm, có thể cao hơn hoặc thấp hơn tùy loại máy), chi thuê địa điểm đặt máy từ 30 – 50 triệu đồng/năm tùy vị trí, chi phí bảo vệ, điện, sửa chữa, bảo dưỡng định kỳ khoảng 30 triệu đồng/năm. Đó là chưa kể các chi phí khác như chi mua phần mềm quản lý ATM, lương nhân viên quản lý, kỹ thuật bảo dưỡng, sửa chữa nhỏ, tiếp quỹ,… Như vậy một ngân hàng nếu phát triển một hệ thống 1.000 máy ATM thì vốn đầu tư ban đầu ước tính lên tới 500-600 tỷ đồng (riêng tiền mua máy khoảng trên 500 tỷ đồng) và mỗi năm phải chi phí khoảng 150-200 tỷ đồng cho hệ thống này.

Thu nhập

Một số người cho rằng khi phát hành thẻ ATM, ngân hàng đã thu phí hàng năm từ 50.000 -100.000 đồng/năm, như vậy đã có thu nhập rồi. Đúng là các ngân hàng có thu phí phát hành thẻ, nhưng số phí thu được cũng không thấm vào đâu so với chi phí khổng lồ phải bỏ ra đã nêu trên. Tổng số thẻ các loại đã phát hành tại Việt Nam đến nay khoảng 8 triệu thẻ. Tuy nhiên, theo tính toán của các ngân hàng thì chỉ có khoảng 2-3 triệu thẻ hoạt động bình thường, số còn lại là thẻ không hoạt động (bản thân người viết bài này đã được các ngân hàng cấp 5 chiếc thẻ các loại, nhưng hiện chỉ sử dụng thường xuyên 1 thẻ duy nhất). Bình quân mỗi ATM phục vụ khoảng 500-600 chủ thẻ đang hoạt động (thậm chí các ngân hàng phát triển thẻ muộn mới chỉ đạt bình quân dưới 300 thẻ / 1 ATM), nếu thu đủ tiền phí phát hành, thì phí thu được tối đa khoảng 30 triệu đồng/máy/năm. Đó là tính trên lý thuyết, còn thực tế hiện nay phần lớn các ngân hàng đang phải miễn giảm phí phát hành thẻ để khuyến khích người dùng, nên khoản phí này thực tế còn thấp hơn nhiều.

Continue reading